Ca Dao Tục Ngữ
Ca Dao Tục Ngữ
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Ca Dao và Tục Ngữ
 Tiểu Luận
 Những Câu Hát Phường Vải
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Topic  

Dế Mèn
New Member

91 Posts

Posted - 08/28/2006 :  18:18:50  Show Profile  Reply with Quote
Những Câu Hát Phường Vải
Nguyễn Sĩ Đại

Tôi sinh ra giữa bốn bề tre nguyên thủy cây tre già chặt đi làm nhà thì măng mới mọc lên. Tuổi thơ tôi bồng bềnh trên chiếc võng chõng, mắt mở xanh màu dâu vườn, dâu bãi; tai lắng còn nghe tiếng lách cách thoi đưa, tiếng xè xè của xe quay sợi. Nhưng không còn những đêm hát ví. Chỉ thấy mẹ tôi lúc nào cũng tất bật. Người bảo: Nuôi lợn ăn nằm, nuôi tằm ăn đứng.

Mẹ tôi xưa là người con gái đẹp của làng, có bằng Primaire Tây học. Nhưng ông nội tôi lọt mắt và hỏi làm dâu chỉ vì mê điệu hái dâu.

Ông nội tôi làm lý trưởng. Nhưng bên trong, ông làm chính trị. Những cuộc họp kín thường diễn ra ở nhà tôi. Ông bị Pháp bắt. Ra tù, ông thôi làm chính trị, một mình, một ngựa bạch ngao du sơn thủy, đi hát ví, hát đúm tận Nam Đàn, Nghi Xuân, có khi kéo bạn hát về nhà cơm rượu hò hát mấy ngày liền. Thời ấy hát, sau này các cô tôi bảo, là \

Hát cho đổ quán xiêu đình,
cho long lanh nước, cho rung rinh trời,
hát cho ngày rạng đông ra,
mai về quan bỏ nhà pha cũng đành"...
Cấy hát, gặt hát, ngược nguồn xuôi bè hát, phường nón, phường vải hát. Nhàn rỗi, không phường gì trăng thanh gió mát cũng hát. Mà nên một vùng dân ca xứ Nghệ đậm đà.

Khi tôi lớn, ông bà đã mất. Làng xóm đi vào hợp tác, có cái rộn rịp của sản xuất mới và bình dân học vụ, khẩu hiệu viết trên nong trên mẹt treo đầy các ngõ. Nhưng những đêm hát ví thì đã đi vào quá vãng. Chỉ khi mẹ tôi đi vắng, không bị hối việc, có các cô về, cô cháu gợi chuyện, các cô mới hát cho nghe.

Trong làng có một người phụ nữ dệt lụa rất đẹp tên là bà Hạnh. Bà Hạnh chỉ ngồi khung cửi không bao giờ ra ruộng cho nên nước da trắng và bà hay hát. Có dạo, không tròn bóng (buổi trưa) nào mà tôi không đến ngồi ở bậu cửa bà Hạnh để nghe bà kể chuyện và hát.

Xin trời hãy nắng khoan mưa
Cho dâu xanh bãi, cho vừa lòng tằm
Khi mô cho đến tháng mười
Đọi cơm khúc cá vừa cười vừa ănKhông hiểu sao, một đứa bé chưa sạch mũi như tôi hồi ấy lại mê:

Đã thương thì thương cho chắc
Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn
Đừng như con thỏ nọ nó đứng đầu chuồng
Khi vui giỡn bóng
Khi buồn bỏ đi...

Thương em răng được thì thương
Đừng trao gánh nặng trữa (giữa) đường tội em
Cầm vàng mà lội qua rào
Vàng rơi không tiếc, tiếc bộ má đào của em

Rồi bà kể: có anh đi hát phường vải, chẳng may đường trơn bị ngã. Các cô trong nhà cười ầm và hát vọng ra:

Đến đây hò hát làm thân
Cái đầu bái lậy trước sân làm gì
Chàng trai là người thông minh, cũng chẳng phải vừa:

Đất đâu có đất lạ lùng
Đứng thì chẳng chịu, nằm cùng thì cho
Với cái anh bạo mồm như vậy, còn ai dại trêu ghẹo làm gì?




* * *


Làng tôi là làng Đông Tây. Hình như xưa là người các nơi đổ về. Đông - Tây chí biện đổ hân hân. Cả một vùng Can Lộc kẹp giữa Trà Sơn và Hồng Lĩnh, hầu như làng nào cũng nổi tiếng. Phía đông làng tôi là Trường Lưu, quê hương Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Huy Hổ. Phía bắc là Song Lộc, quê của thám hoa Phan Kính. Phía tây bắc là Thường Nga, Thường Nga cửu thế cửu cung phi, chín đời hạ và phi để có một tên làng. Làng tôi chỉ nổi tiếng với một câu: "Lộ Đông Tây bất khả hành". Vào mùa mưa lụt, đường trôi xuống ao xuống ruộng, có chỗ bám được gốc tre, gốc duối; có chỗ phải đứng chôn chân trong bùn đến đầu gối. Không có người kéo, tự mình không rút khỏi. Chỗ lầy lội là chỗ điền địa tốt. Nghe nói xưa làng tôi chưa mở kho thóc, dân Đức Thọ chưa có gì để làm hàng xáo.



* * *


Tôi xa hẳn làng vào những năm chiến tranh ác liệt, ở tuổi thiếu niên. Và đến tuổi bốn lăm mới lại trở về. Bà Hạnh và nhiều người đã chết. Cả làng bây giờ không còn khung cửi và gốc dâu nào nữa. Mẹ tôi lụi hụi với tuổi bảy mươi, nửa hồn héo hắt ở phương nam, nơi anh tôi ngã xuống; nửa hồn nhớ cháu nhớ con ở tám phương, chín phương mà không dễ tìm thăm.

Rõ ràng, trong mắt người đứng tuổi và nhiều lịch dịch như tôi, ngôi làng quê trở nên nhỏ bé. Dĩ nhiên, đi đêm không còn sợ ma. Gặp hiện tượng gì, lý trí cũng tìm cách giải thích.

Thế mà ngày xưa, mỗi cánh đồng là một vùng đất mới lạ. Trong mỗi khóm tre, bụi chuối, đỉnh núi, trời sao đều có ma quỷ, thánh thần, sự linh thiêng. Ngôi làng là cả một bao la vũ trụ, bao la nhân thế. Người ta đã mất đi quan niệm ấy cùng với tuổi thơ. Nhưng bù lại, người lớn sẽ hiểu hơn cái thăm thẳm của hồn làng khi nghĩa địa là nơi vùi chôn những người mình đã từng chung sống. Cái mất, cái còn của làng và của mình cứ quấn quýt đan xen, hư thực mờ ảo. Nhiều khi cái trước mắt là xa, cái xa thì gần, bồn chồn, rạo rực. Một người Trung Quốc xưa có nói:

Khi đi trẻ, lúc về già
Giọng quê không đổi, tóc đà khác bao
Trẻ con nhìn lạ không chào
Cho nên cười hỏi: "Khách nào lại chơi"

Tôi không khác người Trung Quốc đó. Ôi làng quê Việt Nam bao giờ cũng dành cho những đứa con đi xa một nỗi nhớ thương và tình cảm đặc biệt. Phải sống lại với làng, phải tròn trịa với quê hương, phải tìm lại những gì đã mất, đã chưa kịp kết khí trong hồn với tôi gần đây thành một điều thôi thúc. Tôi là con của làng, mà đâu biết phong hóa tập tục, từ chuyện cưới xin, ma chay, phải đọc Phan Kế Bính từ con số không mà lẽ ra phải ngược lại... Những câu mẹ tôi ru em xưa nghe buồn bã, ứ đầy tâm sự mà đâu tôi có hiểu được lòng Người, ngõ hầu làm Người vơi nhẹ, nào những:

Chim xanh xanh ăn trái xoài xanh
Ăn no tắm mát lên nhành nghỉ ngơi
Cực lòng lan lắm huệ ơi
Kiếm nơi mô im mát, huệ ngồi cho lan phân
Vì sương cho núi bạc đầu
Biển lay vì gió, hoa sầu vì mưa

Lịch sử hiện đại đất nước, không biết bao thăng trầm, biến động, bao phen nhân thế khóc cười. Có tâm sự phải im nén cả đời không thể tỏ bày. Có nỗi đau thương phải trời xanh kia may thì mới hiểu. Đó là bên trong. Bên ngoài, mẹ tôi là một người sôi sục hoạt động xã hội, mới nghỉ gần đây. Đã có lúc Người được điều lên huyện, lên tỉnh. Nhưng chồng thoát ly, một nách bảy con, Người đã hy sinh vì chúng tôi hết thảy. Một nách bảy con vào những năm đói kém, ác liệt nhất của lịch sử, sự nuôi dạy của Người đối với chúng tôi không thể đủ đầy. Nhưng có sự bày dạy lặp đi lặp lại, đọng với chúng tôi qua thanh lọc thời gian, đó là quý nhất là con người. Làm người cái quý nhất là sự thật thà và trọng nghĩa khí. "Khôn ngoan kẻo lọ thật thà". Không chỉ hát ru, ngày thường, Người vẫn dạy chúng tôi bằng những câu lục bát: "Có vàng vàng chẳng hay phô - Có con con nói trầm trồ mẹ nghe", "Muốn cho tình nghĩa lâu dài - Đừng coi của trọng hơn người mà hư"...

Tôi hỏi Người về hát phường vải. Người bảo: Đi mà hỏi o Thắng là người cô thứ năm, bẩm sinh thông minh, ông tôi chỉ cho đi học đến biết đọc, biết viết nhưng có trí nhớ lạ lùng. Vào những năm chiến tranh quê tôi rộ lên phong trào hò - hát đối đáp giữa làng này với làng khác, giữa làng với bộ đội cô luôn được mời làm "cố vấn" để đặt lời. Mẹ tôi gặp lần nào cũng đuổi về, nhưng rồi đêm nào cô cũng băng đồng túm tụm với bọn trẻ.

O Thắng kể: Hát phường vải thường hát tự nhiên, ai thích gì hát nấy. Có khi mấy chị em hát với nhau. Lâu lâu mới có đám hát, nghe tiếng nhau mà có những anh nho (nho sinh), thầy ký (thư ký) đến hát thì lúc đó, hát có lớp lang như hát dặm, hát chào, hát mời, hát hỏi, hát đố, hát xe duyên, hát tiễn hẹn.

Rồi cô hát, câu hát chào:

Đến đây đông thật là đông
Chào bên nam thì mất lòng bên nữ
Chào quân tử thì sợ dạ thuyền quyên
Em chào chung một tiếng kẻo chào riêng bạn cười...

Câu hát xe duyên:

Thiếp thương chàng đừng cho ai biết
Chàng thương thiếp đừng để cho ai hay
Rồi ra miệng thế lắt lay
Cực chàng chín rượi (rưỡi) khổ thiếp đây mười phần

"Hay rứa lạo (lão) nạ"! Hay! Tôi đáp. O bỗng bật cười rồi dụi dụi mắt. Những gì của O trong tiếng cười, trong giọt nước mắt vừa ứa? Tôi đã nghe nhiều Xuân Năm, Hồng Năm, Lệ Thanh hát những câu hát này. Nhưng không thấy được giọt nước mắt trên má răn reo của người cô luống tuổi. Ngoài kia, lúa mùa vừa chín. Những quả khế non lích rích dưới chân chim, thảng hoặc những lá vàng rụng từng chiếc xuống sân đất thật nhẹ. O lại hát:

(Chơ)
Anh đến giàn hoa thì hoa đạ (đã) nở
Anh đến bến đò thì đò đạ sang sông
Anh đến tìm em thì em đạ lấy chồng
Em yêu anh như rứa, hỏi có mặn nồng lấy chi...

(Chơ)
Anh đến giàn hoa, hoa đến thì thì hoa phải nở
Anh đến bến đò, đò đầy thì đò phải sang sông
Đến duyên em, cha mẹ gả thì em phải lấy chồng
Dừ trách nhau chi lắm nựa (nữa), để cực lòng nhau thêm...

Ôi những chuyến đò! Đò đầy thì đò phải sang sông... Những chuyến đò chở ai về hạnh phúc và chở ai về oan trái? Rồi chuyến đò thời gian chở những đời người đi đâu mà mải miết? Giấc mộng kê vàng, thế sự du du... Nhưng thôi, vận vào mà chi cái nỗi buồn thiên cổ!

Hôm nay, tôi muốn theo câu hát của cô tôi mà về Trường Lưu, làng hát phường vải nổi tiếng nhiều đời. Nơi đây Nguyễn Du đã về hát và nhiều câu Kiều từ những buổi hát này mà nên. Người xưa ví:

Xôi nếp cái, gái Trường Lưu
Văn nhân tài tử dập dìu
Xăm xăm tìm nẻo Lam Kiều lầu sang.

Lam Kiều là một địa danh ở quê tôi, có trường Lam Kiều nơi nuôi dưỡng tài năng của Giáo sư Nguyễn Đình Tứ. Đọc Nguyễn Du ta thấy có "Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ":

Những ngỡ trăm năm trước hẹn hò đã chắc, để phũ phàng ba chốn bốn nơi;
Nào ngờ tháng sau này tệ bạc làm sao, bỗng tống táng một tuần hai ả...

"Hai ả" đó là o Uy, o Sạ, những nhân vật có thật. Nguyễn Du đã từng băng từ Tiên Điền (huyện Nghi Xuân) sang Tràng Lưu (Can Lộc) 40 cây số để đi hát và "dốc lòng gắn bó" duyên trăm năm. Chính sau này, khi Nguyễn Huy Quýnh "Thác lời gái phường vải Trường Lưu gửi trai phường nón Tiên Điền":

Trảng mai hầu trở ra về
Hồn tương tư hãy còn mê giấc nồng
Cơi trầu chưa kịp tạ lòng
Tỉnh ra khách đã non sông mấy vời
Nguyễn Du cũng "Thác lời trai phường nón Tiên Điền gửi gái phường vải Trường Lưu" rằng:

Tím gan cho cái sao mai
Thảo nào vác búa chém trời cũng nên
Về qua liếc mắt trông miền
Lời oanh giọng ví chưa quên dằm ngồi
Giữa thềm tàn thuốc còn tươi
Bã trầu chưa quét nào người tình chung
Hồng Sơn cao ngất mấy trùng
Đò cài mấy trượng thì lòng bấy nhiêu...

Văn là văn viết chơi mà tình là tình thật, đậm đà xiết kể. Sự ra đi của những người con gái "sắc đành đòi một, tài đành họa hai" ấy chắc để lại trong lòng Nguyễn không ít trống vắng để khi về quê nhà, trước cửa biển chiều hôm thấp thoáng thuyền về, thức nhận những cuộc tình, những số phận khác nào cánh buồm lẻ bên trời, man mác hoa trôi! Những bia tiến sĩ còn đây, Truyện Kiều còn đây mà o Uy, o Sạ, o Cúc chàng Nguyễn xưa, một chàng Nguyễn xắn quần lội bùn sông Cài đi hát thì đã mất tăm trong vũ trụ, không biết có còn gì trong hồn cây, hơi gió quê hương?

Từ Trường Lưu tôi lại về Kim Liên. Đây cũng là một cái nôi của ví phường vải Nghệ An. Câu lạc bộ Phường Vải mới thành lập lại. Tôi đã được nghe nghệ nhân Trần Văn Tư hát và kể cho nghe tài hát của bà Hoàng Thị An. Thế đấy. Không có người mẹ thì cả anh hùng và thi nhân đều không có. Không phải chỉ đẻ ra mà là nuôi dưỡng. Những phụ nữ như o Uy, o Sạ, o Tiu, o Nhẫn, bà An... lặng thầm, bền bỉ nuôi dưỡng hồn dân tộc. ở Kim Liên, các bước ví phường vải cũng như quê tôi nhưng tên gọi khác: hát dạo gọi là hát lơ lửng, hát xe duyên gọi là hát tình.

Hát lơ lửng có khi người làng khác đến hát, có khi người ở trong nhà hát vọng ra rứu chân khách:

Nhất vui là cảnh Kim Liên
Cảnh đà có cảnh, người tiên có người...

Ngày xưa hay hát với bà An có anh Tú San (không phải là Giải San Phan Bội Châu) và ông Hoe Ba là người hay chữ. Trong hát đối (hát đố) bà An cất tiếng:

Sơn sơn xuất, anh hùng hào kiệt
Gái nữ nhi ngồi trong bóng nguyệt
Nguyệt nguyệt bằng quân tử trượng phu
Chàng mà đối được, em xin làm du (dâu) nhà chàng

Đây là câu hát đố chữ, đố không khó vì hai chữ Sơn là một chữ xuất, hai chữ nguyệt là một chữ bằng, nhưng khó là ở đối lại.

Chuyện các văn nhân hát thua các thôn nữ quê mùa không hiếm. Khi Nguyễn Công Trứ bị hỏi:

Hỏi chàng hà tính hà danh
Hà châu, hà quận, niên canh kỷ hà?

thì cũng không thể trong một câu mà trả lời cho sát, đành vu khoát:

Trước Lam Thủy, sau Hồng Sơn
Nhà ai hay hát, hay đờn là anh.

Ngay cả Giải San Phan Bội Châu cũng nhiều phen lúng túng - Cho nên sĩ tử đất Nghệ Tĩnh trước khi đi thi phải mấy lần tập dượt văn sách với phường vải, để chị em kiểm tra;

Đồn đây có gái hát tài
Để ta đối địch một vài trống canh
Dẫu thua dẫu được cũng đành
Bõ công đèn sách học hành bấy lâu.

Trong ví phường vải, hát hỏi (hát đố, hát đối và hát xe duyên hát tình, hát xe kết) là để lại nhiều áng văn chương hay nhất. Con gái Nghệ Tĩnh vốn yêu thơ ca, con nhà nông có, con nhà Khoa bảng có, khi hát đố sách, đố chữ, có khi hát đố về thực tế. Có khi là "Truyện Kiều anh thuộc đã lâu, đố anh đọc được một câu hết Kiều", có khi là câu đố đối hóc búa:

Năm con ngựa cột cồn Ngũ Mã
Chín con rồng nằm Cửu Long Giang
Chàng mà đối được, có lạng vàng em trao...

Có khi là câu đố về công việc nhà nông:

Đến đây hỏi khách nhà nông
Một trăm mẫu ruộng mấy công cày bừa?

Có khi là một câu đố về lễ, đặt người con trai vào một tình huống cực kỳ nan giải:

Đồn rằng anh học đã cao
Hỏi chị dâu rớt giếng, anh nắm chỗ nào kéo lên.

Có anh trả lời ngay, cứu được chị mà không thất lễ:

Chị dâu mà rớt xuống giếng
Anh tìm miếng để cứu chị lên
Nắm đầu thì sợ tội trời
Hai tay nâng đỡ, sợ lời thế gian
Nhanh tay liền bắc cái thang
Kéo chị dâu một thuở kẻo chết oan con người

Có anh không biết làm gì cả, đành la làng:

Nắm đầu thì khổ
Nắm cổ thì không nên
Nắm chân tay thì lỗi niềm huynh đệ
Vậy thì anh cứ van làng là hơn!

* * *


Tôi không phải là một nhà dân gian học, nhưng nhận thấy ví phường vải là một thể vừa định hình vừa không câu thúc bởi điều gì, thậm chí không cần đến một nhạc cụ nào nên sức sống của nó chắc hẳn sẽ rất lâu bền, dù canh cửi giờ đây không còn nữa. Những gì mà Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Lê Hàm, Vi Phong... sưu tầm được đã là một gia sản quý đóng góp cho kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam và nghiên cứu tính cách người Nghệ, một đề tài gần đây được các nhà khoa học xã hội quan tâm. Tôi nghĩ rằng, trước hết phải nghiên cứu tính cách người phụ nữ xứ Nghệ xốc vác, lam làm, thông chữ nghĩa, thông đạo lý - không những thông mà chính người phụ nữ mới nuôi đạo lý, giữ gìn nền nếp, gia phong, hương tục. Họ có quyền bình đẳng với nam giới và có tính cách cứng cỏi, mạnh mẽ. Để được giải phóng, họ dám phát biểu và đương đầu. Người ta hay chê kẻ đứng núi này trông núi nọ. Họ nói:

Trèo lên Rú Bụt, trụt xuống Khe Giao
Đứng núi này trông núi nọ, núi mô cao em trèo!

Vì tình, họ chấp nhận:

Tưởng là cha mẹ đập một vài ba roi
Ai ngờ đập đến chín chục, một trăm roi
Em bò lăn bò lóc, em khóc đứng khóc ngồi
Anh ơi dù bầm lưng máu chảy vẫn trọn đời yêu anh.

Trong kho tàng tục ngữ, ca dao vùng này có câu giận, câu thương, câu chán, câu hờn nhưng xét về tần số thì câu thương, câu nhớ, câu nghĩa, câu tình vẫn đậm đặc hơn cả. Khi sáng tác thì rất phong phú, đa dạng. Qua thời gian, tức là qua sự chọn lựa của con người, thì cái mà người Việt Nam muốn truyền cho nhau vẫn là tình nghĩa (hơn cả kinh nghiệm sản xuất). Tình nghĩa ấy ở vùng đất Khu Bốn nhọc nhằn này như được cô nén hơn, thống thiết hơn.

Với chồng:

Nghe tin anh đau đầu chưa khá
Em băng ngàn bẻ lá về xông
Mần răng cho trọn đạo vợ chồng
Đổ mồ hôi em quạt, trộ gió lồng em che

Với con:

Mấy lâu buôn bán nuôi ai
Mà áo em rách, mà vai em mòn?
Mấy lâu buôn bán nuôi con
áo rách mặc áo, vai mòn mặc vai...

Với cha mẹ:

Cá bống chặt trước (đầu), chặt đuôi
Tôm he bóc vỏ mà nuôi mẹ già
Mỗi đêm thắp một đèn trời
Cầu cho cha mẹ ở đời với con

Với đồng bào lối xóm:

Xung quanh những họ cùng hàng
Coi nhau như ngọc như vàng mới nên

Người Nghệ chất phác, mộc mạc, điều ấy ai cũng biết. Nhưng không phải không tinh tế. Tinh tế và mặn mà, ám ảnh đến mức tâm trạng thành cổ điển trong văn học sử:

Sáng trăng ngồi gốc cây mai
Bóng mình lại tưởng bóng ai tìm mình
Ra về nước mắt trông chừng
Ngóng truông truông rậm, ngóng rừng rừng xa

Người ta nói người Nghệ bảo thủ. Người phụ nữ không biết làm duyên, làm dáng. Cũng có thể:

Khăn nâu áo vải là thường
Cốt trau cho được luân thường là hơn

Nhưng không phải là phản đối sự điểm trang, trau chuốt, mà như cách nói ngày nay là không được chú ý lắm. Âu cũng là cái phải bổ khuyết. Nhưng về cơ bản thì đúng. Họ từng nói "Điểm trang nhã nhặn là hay", nhưng phải là phù hợp với hoàn cảnh chớ đừng:

Mẹ em hết gạo treo nồi
Em còn trang điểm chạc lưng sồi làm chi


* * *
Nguồn: Nhân Dân
  Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ © Hà Phương Hoài Go To Top Of Page
Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.06