Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Quê Ta
 Hà Nội Nghìn Năm Văn Vật
 Thăng long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Next Page
Author Previous Topic Topic 
Page: of 2

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  02:15:52  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Tieuboingoan có cuốn sách này, muốn post lên cho các bạn cùng đọc, có nên chăng?

Thăng long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ

Nhà xuất bản Hà Nội - 2002


Thăng long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ

Giang Quân sưu tầm, biên soạn
(In lần thứ hai có bổ sung, sửa chữa)


Như tên gọi của nó, Hà Nội trong ca dao - Ngạn ngữ chỉ tập hợp những câu ca xưa có liên quan đến Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, nghĩa là trong câu, trong bài phải có những địa danh, con người hoặc sự kiện đã xảy ra ở kinh đô - dù chỉ là cái cớ để biểu đạt tình cảm khác, và những câu mang đặc thù phản ánh tính cách người Kẻ Chợ, tính chất nghề nghiệp của riêng vùng Hà Nội.

Bởi vậy nó không bao gồm tất cả những câu ca trữ tình hoặc châm biếm khác đã được sưu tầm ở Hà Nôị từ trước tới nay. Việc này, nhiều soạn giả đi trước đã làm.

Cuốn sách phổ thông này chỉ mong góp phần nhỏ cho người Hà Nội, nhân dân cả nước và những người đi xa Thủ đô, và Tổ quốc hiểu thêm về Hà Nội xưa, để càng thêm yêu vùng đất và con người Hà Nội hôm nay.

Sách gồm hai phần:

Phần I có hai mục: a) Ca dao, b) Ngạn ngữ, được sắp xếp theo từng vùng hoặc từng cụm chủ đề gần gũi nhau.

Phần II có bảng tra cứu địa danh dưới hình thức tự điển, để khi đọc nếu chưa rõ ở đâu thì tìm xem. Làm như vậy tránh được phải chú thích lặp lại ở nhiều chỗ, và không rối mắt bạn đọc đã có những hiểu biết nhất định về Hà Nội.

Kèm theo là phụ lục giải thích những câu khó hiểu, mang tính lịch sử, phong tục thời ấy, hoặc chú thích thời gian xuất hiện và nơi sưu tầm, xét thấy cần cho người đọc. Bản in lần thứ hai này đã chỉnh lý địa danh theo phân chia hành chính mới, tới năm 2001 và bổ sung hơn 200 câu ca dao mới sưu tầm được thêm, trong đó có ca dao sau hòa bình và thời chống Mỹ.

Chắc chắn nội dung khó tránh khỏi những thiếu sót, mong được bạn đọc góp ý kiến.

Người biên soạn xin ngỏ lời chân thành cảm ơn chung các tác giả có sách đã xuất bản, bài báo đã in, được trích và dùng tham khảo, giúp cho việc sưu tầm, chú giải thêm thuận lợi và phong phú.

Tháng 10 - 2001
G.Q.

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  02:21:33  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Thăng long - Hà Nội trong ca - dao ngạn ngữ


Trong kho tàng ca dao dân gian Việt Nam có biết bao câu ca nói về Thăng Long - Hà Nội, ca ngợi cảnh đẹp, ca ngợi con người, phản ánh đời sống xã hội nơi kinh thành hoa lệ.

Cùng với sự thăng trầm của lịch sử, mảnh đất này khi là Thủ đô vương quốc, khi bị ngoại xâm chiếm đóng, nhưng rồi lại trở về với nhân dân, lại giữ vai trò trung tâm chính trị - văn hóa - kinh tế của đất nước.

Thăng Long Hà Nội đô thành
Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ
Cố đô rồi lại tân đô
Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn đây.

Hà Nội nằm giữa một vùng sông nước với những ngã ba sông, lại có núi Nùng trấn trung tâm, Ba Vì, Tam Đảo, Sóc Sơn bao phía bắc, tạo nên thế “rồng cuộn hổ ngồi”.

Sông Tô một dải lượn vòng
ấy nơi liệt sĩ anh hùng giáng sinh
Sông Hồng một khúc uốn quanh
Văn nhân tài tử lừng danh trong ngoài.

Sông Hồng tức Nhị Hà đã trở thành trục giao thông quan trọng ngày ấy:

Ai về Hà Nội, ngược nước Hồng Hà
Buồm giong ba ngọn vui đà nên vui.

Con sông Tô Lịch chảy giữa đô thành đem lại cảnh hữu tình cho đất ngàn năm văn vật.

- Sông Tô nước chảy quanh co
Cầu Đông sương sớm, quán Giò trăng khuya...
- Nước sông Tô vừa trong vừa mát
Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh
Dừng chèo muốn tỏ tâm tình
Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu.

Hà Nội còn đẹp bởi:

Giữa nơi thành thị có hồ xanh trong

Không phải một hồ mà nhiều hồ. Hồ Gươm như lẵng hoa giữa lòng thành phố. Hồ Bảy Mẫu, Văn Hồ, Giảng Võ ở phía nam và tận tây nam. Tây bắc có Hồ Tây, Trúc Bạch nổi tiếng. Mỗi hồ là một danh thắng.

Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn
Hỏi ai gây dựng nên non nước này



Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa màn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

Hà Nội không chỉ giàu có về di tích danh lam thắng cảnh về đình, đền, chùa, miếu, về kiến trúc, điêu khắc, về cổ vật... mà còn là một kho tàng vô cùng phong phú về văn hóa - văn nghệ dân gian phi vật thể.

Đó là hàng nghìn câu ca dao, ngạn ngữ, làn điệu hát, khúc nhạc, hàng trăm truyện cổ tích, truyền thuyết, huyền thoại, câu đố, câu đối, truyện cười, hàng trăm trò chơi, thú chơi dân giã cũng như những mỹ tục thuần phong thanh lịch mang sắc thái riêng biệt của Thăng Long - Hà Nội có bề dày nghìn năm lịch sử, tinh hoa của nền văn hiến Việt Nam.

Kho tàng ấy rất ít được ghi lại thành văn bản mà chủ yếu được truyền tụng từ đời này sang đời khác.

Trong quá trình lưu truyền ấy nó được bổ sung, chỉnh lý, sửa đổi cho phù hợp với từng thời đại và cả với tầng lớp giai cấp mà nó phổ biến. Cho nên văn hóa phi vật thể thường có nhiều lối kể, cách diễn đạt cũng như chi tiết nội dung khác nhau. Tính dị bản ở nó là tất nhiên. Nó còn được dùng lẫn ở nhiều địa phương với công thức “bình chung, rượu riêng”.

Thí dụ như trong ca dao miêu tả ngợi ca quê hương làng xóm, nhiều nơi ứng dụng lẫn của nhau chẳng biết ai lấy của ai, câu nào ra đời trước nữa.

- Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về Kẻ Bưởi với anh thì về
Làng anh có ruộng tứ bề
Có hồ tắm mát, có nghề quay tơ...

- Hỡi cô mà thắt bao xanh
Có về Kim Lũ với anh thì về
Kim Lũ có hai cây đề
Cây cao bóng mát gần kề đôi ta.

- Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về Kẻ Vẽ với anh tìm về
Kẻ Vẽ có thói có lề
Kẻ Vẽ lại có nhiều nghề đâu hơn.

- Hỡi cô thắt dải lưng xanh
Có về Phú Diễn với anh thì về
Phú Diễn có cây bồ đề
Có sông tắm mát, có nghề ăn chơi...

- Làng tôi có lũy tre xanh
Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng
Bên bờ vải nhãn hai hàng
Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.

- Ai về Đào Xá vui thay
Xóm Bắc có chợ, xóm Tây có chùa
Xóm Đông có miếu thò vua
Xóm Nam có bến đò đưa dập dìu...

Hoặc niềm tự hào về quê hương luôn đưa mình lên hàng đầu hơn nơi khác:

- Thứ nhất Hội Gióng, Hội Dâu
Thứ nhì Hội Bưởi, Hội Vó chẳng đâu vui bằng

- Thứ nhất là Hội Cổ Loa
Thứ nhì Hội Gióng, thứ ba Hội Chèm.

Ngôi thứ bị đảo lộn cũng như câu ca xứ Sơn Nam xưa, ở Thanh Trì là “Thứ nhất Thanh Trì, thí nhì Thanh Oai”, nhưng sang đến Thanh Oai lại là “Thứ nhất Thanh Oai, thứ hai Thanh Trì”. Lại còn cách đề cao người để mà nói mình “Nhất vui là hội chùa Thày, Vui thì vui vậy, chẳng tày chùa Mơ”.

Hà Nội cũng là quê hương của nhiều lễ hội nổi tiếng thiên hạ:

- Ai ơi mồng chín tháng tư
Không đi hội Gióng cũng hư mất đời
- Thánh giếng giỗ Thánh Sóc Sơn
Tháng ba giỗ Tổ Hùng VƯơng nhớ về
- Bỏ con bỏ cháu, không bỏ mồng sáu tháng giêng.
Mồng sáu tháng giêng là ngày hội Cổ Loa, hội đền Sóc.
- Cha đánh mẹ treo cũng không bỏ chùa Keo ngày rằm
- Mỗi năm vào dịp xuân sang
Em về Triều Khúc xem làng hội xuân...
- Nhớ ngày hăm ba tháng ba
Dân Trại ta vượt Nhị Hà thăm quê...
là hội làng Lệ Mật.

Ca dao còn phản ánh một Thăng Long - Hà Nội có bề dày lịch sử và quá khứ anh hùng.

- Lạy trời cho cả gió lên
Cho cờ vua Bình Định bay trên kinh thành
- Nhong nhong ngựa ông đã về
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn
- Đống Đa ghi để lại đây
Bên kia Thanh Miếu, bên này Bộc Am.
- Long thành bao quản nắng mưa
Cửa Ô Quan Chưởng bây giờ còn đây...
- Trời cao biển rộng đất dày
Núi Nùng, sông Nhị, chốn này làm ghi.

Ca dao - ngạn ngữ xưa phản ánh đủ các mặt của xã hội, từ phong tục tập quán, lễ nghi, lối sống, nghề nghiệp, tính cách con người, đến đấu tranh các thói xấu, tệ nạn đương thời, giúp cho các nhà nghiên cứu lịch sử có thêm dữ liệu. Qua bài ca dao “Vui nhất là chợ Đồng Xuân” ta thấy cảnh nhộn nhịp của cái chợ lớn nhất kinh thành. Nào là “Cổng chợ có chi hàng hoa/Có người đổi bạc chạy ra chạy vào/Lại thêm “sực tắc” bán rao...” cho đến “Có người bán lược, bán gương/Có người bán cả hòm rương, tủ quầy/Có người bán dép, bán giày/Có người bán cả ghế mây để ngồi...” và thêm “Lại còn kẻ cắp như rươi/Hở cơ chốc lát, tiền ôi mất rồi”.

Muốn biết 36 phố phường xưa phải tìm đến bài ca dao “Rủ nhau chơi khắp Long Thành” có liệt kê các tên phố cũ bắt đầu bằng chữ “Hàng”.
Còn đọc bài ca dao dưới đây ta hiểu được các nghề thủ công của từng làng thuộc vùng đất phía Nam huyện Thanh Trì:

Làng Đam bán mắm tôm xanh
Làng Họa đan đó, làng Tranh quay guồng
Đông Phù cắp thúng đi buôn
Đông Trạch bán thịt, làng Om vặn thừng
Tương Trúc thì giỏi buôn sừng
Tự Khoát đan thúng, Vẹt từng làm quang...

Đất lề Kẻ Chợ còn là nơi lắm người “khéo tay hay nghề” và những đặc sản quý hiếm: “Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã”, “Mực cầu Cậy, giấy làng Hồ”, “Sù, Gạ thì giỏi chăn tằm, làng La canh cửi, làng Đẵm bơi thuyền”... và cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây, cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì...

Lại còn những làng hoa: Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Tây Hồ, Nghi Tàm, Nhật Tân... làm ngẩn ngơ các du khách đến thăm - trước cảnh đẹp, người đẹp, đã thốt lên:

Hỏi người xách nước tưới hoa
Có cho ai được vào ra chốn này
Và ướm lời hò hẹn:
Hỡi cô đội nón ba tầm
Có về Yên Phụ hôm rằm lại sang
Phiên rằm cho chính Yên Quang
Yêu hoa, anh đợi hoa nàng mới mua...

Nhưng bên cạnh cái “phồn hoa đệ nhất kinh đô” ấy, ca dao đã không quên một thực tế của dân nghèo Hà Nội dưới thời Pháp thuộc:

Văn minh đèn điện sáng lòe
Thông thương kỹ nghệ mọi bề chấn hưng
Chỉ cánh áo ngắn khốn cùng
Làm lụng suốt tháng vẫn không đủ dùng
Bữa cơm, bữa cháo nhạt nhùng
Thôi đành nheo nhóc bọc đùm lấy nhau.

Ca dao không né tránh đấu trạnh, sẵn sàng vạch mặt:

- Ông quan ở huyện Thanh Trì
Miếng mỡ thì lấy, miệng bì thì chê.
- Cha đời lính Tẩy, lính Tây
Hễ trông thấy gái giở ngay xì xồ...
- Đốc Hà áo gấm, áo hoa
Mẹ tôi váy đụp đã ba, bốn tầng...

Cũng như phê phán hủ tục trong việc cưới:

- Trèo lên cây gạo cao gao
Lệ cheo làng Nhói độ bao nhiêu tiền?
- Cheo thời có bẩy quan hai
Lệ làng khảo rể trăm hai mươi vồ
Thôi thôi tôi giã om cô
Tiền cheo cũng nặng trăm vồ cũng đau!

Người Hà Nội thường tự hào với câu ca dao xưa:

- Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu chưa thanh lịch cũng người Tràng An

Hoặc:

- Chẳng thơm cũng thể hoa mai
Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh

Tràng An, Thượng Kính là chỉ Kinh Đô, là Thăng Long, Hà Nội. Trong cuộc sống vận động nếp sống văn minh câu ca đã biến dạng thành:

- Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Chẳng thanh lịch cũng là người Thủ đô.

Thay hai tiếng Thủ đô cho rõ ràng, rành mạch hơn.

Trong kho tàng ca dao Hà Nội cũng còn bao câu khác hình tượng hóa sự thanh lịch ấy:

- Đất tốt trồng cây rườm rà
Những người thanh lịch nói ra dịu dàng.
- Người thanh tiếng nói cũng thanh
Chuông kêu, khẽ gõ bên thành cũng kêu.
- Kim vàng ai nỡ uốn câu
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời.

- ... Người khôn tiếng nói dịu dàng dễ nghe
- Vàng thì thử lửa, thử than
Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời...

Từ “người thanh” chuyển hóa thành “người khôn”, rồi “người ngoan”, ca dao đã đặt định cho thanh lịch tương ứng và đồng nghĩa với khôn - ngoan rồi.

Bên sự ca ngợi chung còn có ca ngợi riêng, ví như với cô gái Trại làng hoa Ngọc Hà:

- Hoa thơm, thơm lạ thơm lùng
Thơm cành, thơm rễ, người trồng cũng thơm.
Với cô hàng bỏng kẹo làng Lủ:
- Mình từ làng kẹo mình ra
Nên mình nói ngọt cho ta phải lòng.

Và cả đến gánh rau làng Láng cũng phải:

... Mượn người lịch sự gánh lên Kinh kỳ.

Thanh, lịch đã trở thành truyền thống của người Thăng Long - Hà Nội, một vầng sáng của tâm thức Việt Nam. Nói đến thanh là nói đến sự thanh cao trong tư tưởng, đạo đức, tình cảm, tâm hồn; là nói đến thanh nhã trong nói năng, hành động; là nói đến thanh đạm trong cuộc sống đời thường và thanh liêm với của cải xã hội. Còn lịch, phải chăng là đề cập đến sự lịch lãm - xem nhiều, lịch duyệt - hiểu rộng, lịch thiệp trong giao tiếp và lịch sự trong ứng xử. Nếu như ở vế thanh, con người phải học tập, rèn luyện tu dưỡng mới có, thì ở về lịch lại do sự từng trải và kinh nghiệm sống đúc kết nên. Phải có cảnh thanh và lịch mới đầy đủ trọn vẹn.
Trong thực tế, ta đã từng gặp người thanh mà không lịch, hoặc ngược lại. Thăng Long - Hà Nội là chốn hội tụ tinh hoa đất nước, trong đó có tinh hoa phẩm chất nhân cách và lối sống. Không chỉ hội tụ, mảnh đất trái tim Tổ quốc này còn sàng lọc, kết tinh hương hoa trăm miền để tạo nên bản sắc thanh lịch tiêu biểu cho mình, cho dân tộc mình, để rồi lại tỏa sáng ra trăm miền đất nước.

Thanh lịch không phải là thứ trừu tượng, nó được thể hiện rõ rệt trên nhiều mặt của cuộc sống, trong nhiều lĩnh vực: ăn nói, ăn mặc, ăn học, ăn làm, ăn ở, ăn uống cho đến ăn chơi trong lối sống và trong các phong tục, tập quán khác. Nó cũng không phải là thứ bất biến mà có thay đổi điều chỉnh, hoàn thiện, bổ sung, tước bỏ qua từng thời đại lịch sử, qua mỗi chế độ xã hội, để thích ứng với cuộc sống và phần nào phù hợp với luật pháp đương thời.

Những câu ca dao - ngạn ngữ nói về cổ tích, truyền thuyết Hà Nội nếu không dựng lại hình tượng của những nhân vật anh hùng chống giặc cứu dân thì cũng là phản ánh công cuộc xây dựng đất nước, thể hiện ý chí bất khuất, lòng yêu chuộng hòa bình, chính nghĩa của nhân dân ta. Truyện ông Gióng lên ba đã xin vua đúc ngựa sắt, roi sắt diệt giặc Ân, lập xong chiến công kỳ vĩ đã không màng danh lợi, phi ngựa sắt về trời.

Truyện đức thánh Chèm - người dũng sĩ khổng lồ, đã vang danh ngoài biên ải nước láng giềng, giàu sang phú quí không níu được chân, vẫn trở về nằm xuống ở mảnh đất quê hương. Truyện An Dương Vương xây thành ốc được thần tiên giúp đỡ. Truyện ông Không Lộ dùng phép màu thu đồng đen của nước phương Bắc đem về đúc chuông, chuông gióng lên. Trâu Vàng từ bên đó lồng sang giẫm nát một vùng thành hồ Tây, rồi chạy về phía Đông Nam, dấu chân vạch nên sông Kim Ngưu bây giờ.
Thực và ảo đan xen, tạo màn sương bao phủ lên cảnh vật, làm cho không gian Thăng Long - Hà Nội thêm diệu huyền đậm đà chất tâm linh cổ kính.

Kho tàng văn nghệ dân gian ấy là vốn quí cần được sưu tầm, khai thác, bảo vệ và phát huy tác dụng trong công tác giáo dục truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Lấy xưa phục vụ nay là phương châm đúng đắn của việc bảo tồn di sản văn hóa.

Vốn văn nghệ dân gian thường nằm trong lớp người cao tuổi. Họ có thể ra đi bất kỳ. Bởi vậy, nhanh chóng tìm hỏi, ghi chép lại là việc làm cấp bách của chúng ta. Hội văn nghệ dân gian Hà Nội nhiều năm qua được sự giúp đỡ của các cơ quan hữu trách đã liên tiếp mở các cuộc điền dã đi sâu tìm hiểu về các làng nghề, phố nghề, về nghệ thuật ẩm thực Hà Nội, về các dòng họ tiêu biểu... qua quá trình khai thác đã tìm ra nhiều câu ca dao, ngạn ngữ, huyền thoại, giai thoại, thần tích... của ngay địa phương nơi mình cư trú. Chỉ có như vậy mới không để mất đi những viên ngọc còn rơi vãi trong dân gian.

Qua ca dao cổ Hà Nội ta càng thêm yêu mảnh đất nghìn năm văn vật. Mảnh đất đã nuôi dưỡng tâm hồn ta lớn lên cùng đất nước và Hà Nội cũng lớn lên cùng với dân tộc Việt Nam bất khuất, kiên cường.

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  02:24:35  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Phần Một

A - Ca Dao

Ca dao cổ trước cách mạng

1. Thăng Long, Hà Nội đô thành
Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ
Cố đô rồi lại tân đô
Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn đây

2. Đồng xanh sông Nhị chạy dài
Mây quang non Tản chiếu ngời Thăng Long.

3. Nhất cao là núi Ba Vì
Nhất lịch, nhất sắc kinh kỳ Thăng Long.

4. Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu chưa thanh lịch cũng người Tràng An.

5. Chẳng thơm cũng thể hoa mai
Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh.

6. Người khôn ai chả nâng niu
Hoa thơm ai chả chắt chiu để dành.

7. Đất tốt trồng cây rườm rà
Những người thanh lịch nói ra dịu dàng.

8. Tiếc nồi cơm trắng để ôi
Tiếc con người lịch mà soi gương mờ.

9. Kim vàng ai nỡ uốn câu
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời.

10. Chim khôn chết mệt vì mồi
Người khôn chết mệt vì lời nhỏ to.

11. Vàng thì thử lửa thử than
Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.

12. Khen ai khéo họa dư đồ
Trước sông Nhị Thủy, sau hồ Hoàn Gươm.

13. Hồ Gươm in bóng Tháp Rùa
ánh đèn soi tỏ mái chùa Ngọc Sơn.

14. Nhác trông lên chốn kinh đô
Kìa đền Quan Thánh, nọ hồ Hoàn Gươm.

15. Khen ai khéo họa dư đồ
Giữa nơi thành thị có hồ xanh trong
Ngựa xe vắng khách bụi hồng
Một tòa cổ miếu, đôi dòng thanh lưu
Trăng soi nước, nước in cầu
Bức tranh thiên cổ đượm màu tang thương
Cỏ hoa ánh bóng tà dương
Nghìn xưa hưng bá đồ vương chốn này.

16. Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn
Hỏi ai gây dựng nên non nước này.

17. Gương kia lỡ để bụi nhòa
Sông có Nhị Hà, núi có Tản Viên
Thề kia nỡ để lỡ duyên
Trăng còn soi mãi vùng sen Tây Hồ.

18. Những lời mình nói với ta
Sông có Nhị Hà, núi có Tản Viên
Còn bây giờ, nàng ở thế sao nên
Tôi khấn Nam Tào, Bắc Đẩu ghi tên rành rành
Đã yêu anh thời quyết lấy anh
Nhà tre, cột nứa, lợp tranh vững vàng
Chớ tham nhà gỗ bức bàn
Gỗ li, chẳng có, làm xoàng gỗ vông
Chỉ nhọc mình, thôi lại uổng công
Phòng khi gỗ mục lại dùng nhà tre
Còn duyên anh bảo chẳng nghe.

19. Đấy vàng đây cũng đồng đen
Đấy hoa thiên lý, đây sen Tây Hồ.

20. Gươm vàng rớt xuống Hồ Tây
Công cha cũng trọng, nghĩa thày cũng sâu

21. Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa màn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

22. Chẳng vui cũng thể hội Thày
Chẳng trong cũng thể Hồ Tây xứ Đoài
Rửa chân đi hán đi hài
Rửa chân đi đất sao hoài rửa chân.

23. Trên trời có một ông sao
Chỗ quang chẳng mọc mọc vào đám mây
Nước Hồ Tây biết bao giờ cạn
Nhị vườn đào biết vạn nào hoa
Đưa nhau một quãng đường xa
Hỏi thăm anh Tú có nhà Cửa Nam.

24. Giăng xưa đã khuyết mấy lần.
Phẩm tiên trong giá trắng ngần còn chăng?
Xa xôi ta nhắn chị Hằng
Hồ Tây nước bạc xin đừng bóng soi.

25. Ngồi trên bờ dốc buông câu
Trách ai xui giục con cá sầu không ăn
Cá không ăn câu anh vác cần về
Để ống lại đây
Đêm khuya thanh vắng hồ Tây
Anh thả mồi bận nữa, con cá này cũng ăn.

26. Năm trai năm gái là mười
Năm dâu năm rể là đôi mươi tròn
Hai bên phụ mẫu song toàn
Rồi ra kéo được trâu vàng Hồ Tây.

27. Chàng về thiếp cũng xin về
Chàng về Hồ Bắc, thiếp về Hồ Tây
Chàng bao nhiêu tuổi năm nay?
Chàng rằng mười tám, thiếp rày bốn ba
Mồ cha đứa chê thiếp già
Thiếp còn gánh nổi một và trăm kim
Trăm kim đổi lấy lạng vàng
Mua gương Tự Mã, để thiếp với chàng soi chung
Chàng về sắm sửa loan phòng
Thiếp xin điểm phấn, tô hồng thiếp theo.

28. Thuyền ai lờ lững bên sông
Có về Hà Nội, Hà Đông cùng về.

29. Ai về Hà Nội, ngược nước Hồng Hà
Buồm giong ba ngọn vui đà nên vui.

30. Đường về xứ Lạng mù xa
Có về Hà Nội với ta thì về
Đường thủy thì tiện thuyền bè
Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang.

31. Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng.

32. Đường ra Kẻ chợ quanh quanh
Đường về Kẻ Gối như tranh vẽ đồ.

33. Đường đi cách núi Ba Vì
Cách con sông Cái chàng đi đàng nào?

34. Rủ nhau lên núi hái chè
Hái dăm ba mớ xuống khe ta ngồi
Ta ngồi cho ráo mồ hôi
Xuống sông tắm mát thảnh thơi ta về.
Ta về thăm quán thăm quê
Thăm chợ Bồ Đề, thăm giếng Ô Long
Bồ Đề họp chợ mồng mười
Trên đánh cờ người, dưới thổi cơm thi
Ba bốn năm nay anh dở việc gì
Để em bắt chạch, thổi cơm thi một mình.

35. Đố ai tát bể cấy kê
Tát sông Bồ Đềm nhổ mạ cấy chơi.

36. Sông Bồ Đề nước đỏ như son
Em mà dối bạn tội bằng hòn Thái Sơn.

37. Trên trời có sông Ngân Hà
Tỉnh Nam sông cái, Bắc là sông sâu
Bắc Ninh lại có sông Cầu
Anh còn tơ tưởng sông Dâu, sông Đào
Anh còn tơ tưởng sông Thao
Qua sông Hà Nội anh vào Kinh đô
Đại Đồng lại có sông Hồ
Bước qua sông Đuống thờ ơ với tình
Sông Thương chơi đã thập thành
Bước qua sông Cái bẻ cành phù dung.

38. Anh về xẻ ván cho dày
Bắc cầu sông Cái cho thày mẹ sang
Thày mẹ sang em cũng theo sang
Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo.

39. Đò tôi ở bến sông Dâu
Buôn chè mạn hảo tháng sau mới về
Lênh đênh ba bốn chiếc thuyền kề
Chiếc về Hà Nội chiếc về Vạn Vân
Vạn Vân có bến Thổ Hà
Vạn Vân nấu rượu, Thổ Hà nung vôi
Nghĩ rằng đá nát thì thôi
Ai ngờ đá nát nung vôi lại nồng
Chăn đơn gối chiếc lạnh lùng
Nửa thì mình đắp, nửa phòng tình nhân.

40. Lênh đênh ba bốn thuyền kề
Thuyền ra Kẻ Chợ, thuyền về sông Dâu.

41. Hồng Hà nước đỏ như son
Chết đi thì chớ, sống còn lấy anh.

42. Con sông chạy tuột về Hà
Nhớ ai Hà Nội trông mà ngùi thương
Nhớ người cố quận tha hương
Nhớ ai thì nhớ nhưng đường thời xa.

43. Sông Tô nước chảy trong ngần
Con thuyền buồm trắng chạy gần chạy xa
Thon thon hai mũi chèo hoa
Lướt đi lướt lại như là bướm gieo.

44. Sông Tô nước chảy quanh co
Cầu Đông sương sớm, quán Giò trăng khuya
Buồn tình vừa lúc phân chia
Tiếng ai như đã bên kia hẹn hò.

45. Nước sông Tô vừa trong vừa mát
Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh
Dừng chèo muốn tỏ âm tình
Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu.

46. Sông Tô nước đục lờ lờ
Cắm sào mà đợi bao giờ nước trong.

47. Làng tôi có lũy trẻ xanh
Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng
Bên bờ vải, nhãn hai hàng
Dưới sông cá lội từng đàn tung ăng.

48. Biết nhà cô ở đâu đây
Hỡi trăng Tô Lịch, hỡi mây Tây Hồ.
Mình đi có nhớ kinh đô
Nhớ trăng Tô Lịch, nhớ hồ Gươm trong.

49. Bao giờ đổ núi Tản viên
Cạn sông Tô Lịch thiếp mới quên nghĩa chàng.

50. Bao giờ lở núi Tản Viên
Cạn sông Tô Lịch cho quên nghĩa nàng
Thung dung từ thuở thanh nhàn
Mực nghiên giấy bút ta bàn khúc nhôi
Phen này anh quyết lấy nàng thôi
Em tránh đằng trời chẳng khỏi tay anh.
Nói ra mang tiếng dỗ dành
Mặc ý nàng liệu, mặc tình nàng lo
Yêu nhau nên phải dặn dò.

51. Yên Thái có hồ Nguyệt Nga
Có sông Tô Lịch đòi ta chèo thuyền.

52. Sông Tô mấy khúc uốn vào
ấy là có lắm anh hào ở trong
Sông Tô một dải lượn vòng
ấy nơi liệt nữ anh hùng giáng sinh
Sông Hồng một khúc uốn quanh
Văn nhân tài tử lừng danh trong ngoài.

53. Phải đây bến Chiếu Thạch Đồng
Còn đây cô lái cắm bồng đợi ai.

54. Chàng đi vực thẳm non cao
Em mong tìm vào đến núi Tản Viên
Bao giờ lở núi Tản Viên
Cạn sông Tô Lịch chẳng quên nghĩa người
Nghĩa người em để trong cơi
Nắp vàng đậy lại để nơi em nằm
Mỗi ngày sáy bảy lần thăm.

55. Trên đê Cố Ngự
Nhớ chữ đồng tâm
Hỡi cô đội nón ba tầm
Có về Yên Phụ hôm rằm lại sang
Phiên rằm chợ chính Yên Quang
Yêu hoa, anh đợi hoa nàng mới mua.

56. Tốt đẹp là chị hàng hoa
Tuy rằng thơm ngát cửa nhà sạch không
Ngày ngày đi hái hoa hồng
Chiều chiều về ngõ Cầu Đông ăn quà
Bao giờ chợ lớn hết hoa
Đồng Xuân hết chuối thì hoa hết tiền.

57. Con gái ở trại hàng Hoa
Ăn cơm nửa bữa ngủ nhà nửa đêm.

58. Cô Tây ở trại hàng Hoa
Hột vàng quấn cô, xe nhà nghênh ngang
Bố cô dọn quán bán hàng
Nhặt từng đồng kẽm còn sang nỗi gì
Cô còn bắc bực kiêu kì
Thông ngôn, kí lục, cu-li trăm thằng.

59. Giếng Ngọc Hà vừa trong vừa mát
Vườn Ngọc Hà thơm ngát gần xa
Hỏi người xách nước tưới hoa
Có cho ai được vào ra chốn này?

60. Đất Ngọc Hà tốt tươi phong cảnh
Gái Ngọc Hà vừa đảm vừa xinh
Ơi người gánh nước giếng đình
Còn chăng hay đã trao tình cho ai?

61. Công anh gánh đất trồng đào
Bây giờ em để lọt vào tay ai?

62. Mưa xuân, lác đác vườn đào
Công anh đắp đất, ngăn rào trồng hoa
Ai làm gió táp, mưa sa
Cho cây anh đổ, cho hoa anh tàn.

63. Ai chơi ta cũng chơi cùng
Chơi trúc quân tử, chơi tùng trượng phu.

64. Hoa thơm, thơm lạ thơm lùng
Thơm cành thơm rễ, người trồng cũng thơm

65. Em là con gái Phụng Thiên
Bán rau mua bút, mua nghiên cho chồng
Nữa mai chồng chiếm bảng rồng
Bố công sớm tối vun trồng cho rau.

66. Yếm trắng vã nước Văn Hồ
Vã đi vã lại anh đồ yêu thương.

67. Nước Văn Hồ tha hồ tắm mát
Rượu Hồ Đình thơm ngát đón làng văn.

68. May ra thì hóa tứ linh
Chẳng may thất nghiệp nằm đình Cổ Lương.

69. Ba gian nhà khách
Chiếu sạch giường cao
Mời các thày vào
Muốn sao được thế
Mắm Nghệ lòng giòn
Rượu ngon cơm trắng
Các thày dù chẳng sá vào
Hãy dừng chân lại em chào cái nao
Đêm qua em mới chiêm bao
Có năm ông Cử bước vào nhà em
Cau tươi bổ, trầu cay têm
Đựng trong đĩa sứ em đem kính mời
Năm thày tốt số hơn người
Khoa này tất đỗ, nhớ lời em đây.

70. Tiếng gà gáy giục năm canh
Chàng ơi dạy học còn nằm làm chi
Sang năm Chúa mở khoa thi
Tàn vàng choi chói rỡ thì tên anh.

71. Thoi đưa tay mỏi canh chày
Tiếng ai xin lửa là thày cống Sen
Thày rằng đang học tắt đèn
Cậy tình lân lí dám phiền đêm hôm

72. Cho hay nhất quỷ nhì ma
Bây giờ mới biết thứ ba thế nào
Căm thù giặc nước từ bao
Tấm lòng công phẫn ào ào như sôi
Đứng đầu khóa Ngọc, tú Nhồi
Kế bày tội ác rạch ròi tên Kim.

73. Chẳng thi chẳng đỗ chẳng sao
Anh em không được người nào bỏ nhau
Phải đòi cho được thày Cầu.
Phải đào hết đất nhà giàu đổ đi.

74. Trên Tràng Thi, dưới cũng Tràng Thi
Đường này quan cấm, em thì cậy ai?
-Đường này quan cấm em thì cậy anh!

75. Trên Tràng Thi, dưới lại Tràng Thi
Ai đem nhân ngãi tôi đi đằng nào?
Trên Hàng Đào, dưới lại Hàng Đào
Ai đem nhân ngãi tôi vào Thàng Thi.

76. Tản Viên núi ấy kiêu thay
Tầng trên tầng dưới thắt ngay cỏ bồng
Họa núi tôi lại họa sông
Vì chàng em phải long đong thế này
Họa nhà quan sở lầu tây
Em sang Hà Nội họa ngay Cột Cờ
Họa nhà máy Nước, máy Tơ
Xin chàng hãy cứ đợi chờ chàng ơi
Vườn Bách thú em đã họa rồi
Em xuống dưới biển, họa đôi cá vàng.

77. Em nay như tấm lụa đào
Đem ra Kẻ Chợ thước nào dám đo
Thước anh thước ngọc, thước ngà
Vóc còn dám đọ nữa là lụa em!

78. Xứ Nam có chợ Bằng Gồi
Xứ Bắc Đìa Sáu, xứ Đoài chợ Canh.

79. Hôm qua anh đến chơi nhà
Thấy mẹ nằm võng thấy cha nằm giường
Thấy em nằm đất anh thương
Anh ra Kẻ Chợ đóng giường tám thang
Bốn góc thì anh thếp vàng
Bốn chân thếp bạc, tám thang chạm rồng
Bây giờ phải bỏ giường không
Em đi lấy chồng phí cả công anh.

80. Nhởn nhơ cô gái Cửa Đông
Quần là áo lượt nhưng lòng không ưa
Tao khang là vợ ngày xưa
Khăn thâm, áo vải sớm trưa vui cùng.

81.Bất kỳ sớm tối chiều trưa
Mưa khắp Hà Nội mưa ra Hải Phòng
Hạt mưa vừa mát vừa trong
Mưa xuống sông Hồng, mưa khắp mọi nơi
Hạt mưa chính ở trên trời
Mưa xuống Hà Nội là nơi cõi trần
Giêng hai lác đác mưa xuân
Hây hẩy mưa bụi, dần dần mưa sa
Hạt mưa vào giếng Ngọc Hà
Hạt thì vào nhị bông hoa mới trồi
Tháng năm, tháng sáu mưa mòi
Bước sang tháng bẩy sụt sùi mưa Ngâu
Thương thay cho vợ chồng Ngâu
Mỗi năm chỉ gặp mặt nhau một lần
Tháng tám mưa khắp xa gần
Bước sang tháng chín đúng tuần mưa rươi
Tháng mười mưa ít đi rồi
Nắng hanh trời viếc cho tươi má hồng
Một, chạp là tiết mùa đông
Mưa phùn đêm vắng trong lòng lạnh thay
Bài mưa anh đã họa đầy
Mối tình dào dạt đêm chày như mưa.

82. Con cò đậu cọc cầu ao
Ăn sung sung chát, ăn đào đào chua
Ngày ngày ra đứng cổng chùa
Trông về Hà Nội thấy vua đúc tiền
Ngọn sông Điền vừa trong, vừa chẩy
Anh đi kén vợ mười bảy năm nay
Tình cờ bắt gặp mình đây
Như cá gặp nước như mây gặp rồng.

83.Vui nhất là chợ Đồng Xuân
Mùa nào thức ấy xa gần bán mua
Cổng chợ có anh hàng dừa
Hàng cau, hàng quít, hàng mơ, hàng đào
Xăm xăm anh mới bước vào
Thấy anh hàng thuốc hút vào say sưa
Nứt nẻ thì anh hàng na
Chua chát hàng sấu, ngọt nga hàng đường
Thơm ngát thì chị hàng hương
Tanh ngắt hàng cá, phô trương hàng vàng
Sộc sệch thì anh hàng giang
Cả rổ lẫn thúng, cả sàng lẫn nia
Sọ sẹ thì anh hàng thìa
Cả bát lẫn đĩa nhiều bề ung dung
Đỏ đon thì anh hàng hồng
Thanh yên, phật thủ, bưởi bòng kể chi
Trống quân vận chẳng ra gì
Mỗi người một vẻ ai thì kém ai
Trông lên thấy dãy hàng chai
Có một chú khách trọc đầu trắng răng
Ai ơi khéo nói đãi đằng
Hàng ốc, hàng ếch, hàng xăng, hàng quà
Trông lên thấy dãy hàng cà
Bánh đúc, bánh đậu, bánh đa, xôi vò
Trông lên thấy dãy thịt bò
Chú bồi, chú khách đợi chờ bán mua
Trông lên thấy dãy hàng cua
Em xách một rỏ, anh mua mấy hào
Trông lên dãy phố Hàng Đào
Miệng chào hớn hở anh vào cùng em.

84. Hà Nội như động tiên sa
Sáu giờ máy hết đèn xa đèn gần
Vui nhất là chợ Đồng Xuân
Thức gì cũng có xa gần bán mua
Giữa chợ có anh hàng dừa
Hàng cam, hàng quít, hàng dưa, hàng hồng
Ai ơi đứng lại mà trông
Hàng vóc, hàng nhiễu thong dong nượp nà
Cổng chợ có chị hàng hoa
Có người đổi bạc chạy ra chạy vào
Lại thêm “sực tắc” bán rao
Kẹo cau, kẹo đạn, miến xào, bún bung
Lại thêm bánh rán, kẹo vừng
Trước mặt bún chả, sau lưng bánh giò
ồn ào chuyện nhỏ, chuyện to
Líu lo chú khách bánh bò bán rao
Xăm xăm khi mới bước vào
Hàng tôm, hàng tép xôn xao mọi bề
Lịch sự là chị hàng lê
Quàng quạc hàng vịt, tò te hàng gà
Nứt nở như chị hàng na
Chua vào hàng sấu, ngọt ra hàng đường
Thơm ngát là chị hàng hương
Tanh ngắt hàng cá, phô trương hàng vàng
Lôi thôi là chị hàng giang
Bán rổ, bán xảo, bán sàng, bán nia
Thưỡi môi là chị hàng thìa
San sát hàng bát nhiều bề long đong
Đỏ đon như chị hàng hồng
Hàng cam, hàng quít, bưởi bòng thiếu chi
Trống quân, cò lả sót gì
Mỗi người một vẻ ai thì kém ai
Lại thêm cạo mặt ngoáy tai
Lại thêm ngoài chợ có người họa tranh
Ngoài ra cải, diếp, răm, hành
Thìa là, cải cúc xanh xanh rõ ràng
Có người bán lược, bán gương
Có người bán cả hòm rương, tủ quầy
Có người bán dép, bán giày
Có người bán cả ghế mây để ngồi
Suốt ngày chợ họp ai ơi
Thượng vàng hạ cãm bao người bán mua
Hay cắp như chị hàng cua
Nhảy nhót hàng ếch ai mua được rày
Có người xem tướng xem tay
Chầu văn, đồng bóng ốp ngay tức thời
Thôi thì đủ thức, đủ người
ồn ào nhộn nhịp nói cười chen vai.
Có anh bán thuốc cũng hay
Mồm rao liến láu, bệnh khỏi ngay tức thời
Lại còn kẻ cắp như rươi
Hở cơ chốc lát, tiền ôi mất rồi
Dậm chân xuống đất kêu trời
“Phú-lít” có đến cũng thôi đi đời
Tối đến đuổi chợ mình ơi!
Quá năm giờ rưỡi hết người bán mua.

85. Ước gì mình lấy được ta
Để cùng buôn bán chợ xa, chợ gần
Vui nhất là chợ Đồng Xuân
Kẻ buôn, người bán xa gần thảnh thơi...

86. Trên trời có cái cầu vồng
Kẻ Chợ cầu Muống, cầu Đông, cầu Giền
Việc trên đền cầu vàng cầu bạc
Các lái buôn cầu nước cầu non
Đôi ta cầu của cầu non
Con đẹp giống mẹ, con giòn giống cha
Con gái dệt cửi trong nhà
Con giai đi học khôi khoa hơn người.

87. Ru con con ngủ cho rồi
Cho mẹ đi chợ mua vôi têm trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phố, mua trầu chợ Dinh.

88. Trầu xanh, cau trắng, chay vàng
Cơi trầu bịt bạc, thiếp mời chàng ăn chung.

89. Cầu Đông bước tới cầu Châu
Bước sang cầu Sỉ, gặp nhau cầu Dừa.

90. Nhất cao là núi Tản Viên
Nhất lịch nhất sắc là tiên trên đời
Cố nhân tìm cố nhân chơi
Sao cố nhân chẳng nhớ lời cố nhân!

91. Tìm em cho đến La Thành
Hỏi thăm các phố để anh tìm dần
Lên tàu từ ở Thanh Xuân
Tìm hết Tư Sở lại gần Cầu Ô
Tìm em cho đến Bờ Hồ
Hàng Trống, Hàng Bồ anh cũng tìm qua
Lại tìm cho đến nhà ga
Đến đây mới biết rằng là Cửa Nam
Vườn hoa có tượng mẹ đầm
Thấy quân lính tập lấy làm vui thay
Tìm em đã hết mười ngày
Hỏi thăm không thấy em rày nơi nao
Thuê xe vào phố Hàng Đào
Hàng Ngang, Hàng Bạc lại vào Mã Mây
Lên thuyền anh xuống Hồ Tây
Ngẫm xem phong cảnh nước mây rườm tà
Lên tàu lại xuống Gô-đa
Thẳng đường anh xuống Hàng Gà, Bạch Mai
Thuê xe vào phố Hàng Gai
Hàng Bông, Hàng Bạc cũng chẳng ai biết mình
Thực là đôi ngả Sâm Thương
Ước ao thấy khách tỏ tường tới đây
Những là mong nhớ đêm ngày
Xuân thu biết đã đổi thay mấy lần
Mong cho hoa nở mùa xuân
Để cho khóm trúc mọc gần trỗ lan.

92. Quỳnh Lôi mãi tít kinh kỳ
Quỳnh Lưu lôi kéo nhau đi trại Quỳnh.

93. Đồng Lầm nhuộm vải nâu non
Bên hồ cá rộng, bên con sông bồi.

94. Rủ nhau đánh cá Đồng Lầm
Cá kia chẳng được âm thầm lòng em
Rủ nhau đánh cá đồng Trèm
Cá kia chẳng được lòng em âm thầm.

95. Có thương thì thương
Không thương thì nói
Làm chi lần lần lữa lừa như hẹn nợ thêm buồn
Trên chùa đã động tiếng chuông
Gà Thọ Xương đã gáy, chim trên nguồn đã kêu.

96. Yêu nhau nên phải ra đi
Đi sao tìm thấy cố tri mới đành
Tìm anh tất cả thị thành
Tưởng rằng anh ở Hàng Mành không xa
Chữ tình ta lại gặp ta
Hàng Mành chẳng thấy tìm ra Hàng Hòm
Phố thời bán những mâm son
Duyên kia sao chẳng vuông tròn cùng nhau.

97. Hà Nội băm sáu phố phường
Hàng Gạo, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh
Từ ngày ta phải lòng mình
Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen
Làm quen chả được nên quen
Làm bạn mất bạn, ai đền công cho.

98. Hà Thành là chốn kinh đô
Vừa đông, vừa đẹp lại vừa rộng thay!
Cửa nhà san sát đó đây
Gác trên gác dưới bên ngoài, bên trọng
Ai ơi đứng lại mà trông
Nguy nga tráng lệ non bồng nào hơn!
Dập dìu xe ngựa bon bon
Ban đêm đèn điện sáng hơn ban ngày.
Này đây hàng Trống, Hàng Bài
Đi thêm mấy bước rẽ ngay Hàng Hòm
Hai bên chồng chất tráp son
Hàng Gai chỉ bước đường con rõ ràng
Hàng Đào rồi đến Hàng Ngang
Tập trung khách trú bán hàng vui thay
Hang fBuồm, Hàng Mã, Hàng Mây
Hàng Bút, Thuốc Bắc, tạt ngay Hàng Bồ
Hiệu ta, hiệu Khách đổ xô
Bán đèn, bán lọ những đồ rất sang
Cầu Gỗ trông ra rõ ràng
Đi thêm mấy bước thì sang Hàng Bè
Dần dần tới chợ Hàng Tre
Ngổn ngang nhộn nhịp thuyền bè dưới sông
Đứng ở Hàng Mắm mà trông
Kìa Ô Quan Chưởng, Cầu Đông đó mà
Hàng Đường, Hàng Đậu đâu xa
Hàng Nâu rẽ lại thì là Đồng Xuân
Hàng Than, Hàng Cót rảo chân
Đến phố Hàng Lọng là gần nhà ga
Trở lại đến phố Hàng Lờ
Rẽ tay phải phố Hỏa Lò chẳng sai
Nhằm dốc Cây Thị ta xuôi
Chiều tà, Chợ Đuổi thì người mới đông
Bán mua vội vã cho xong
Nhá nhem thời tối chợ không kéo dài

Phố ta tạm kể thế thôi
Phố Tây thì phải dạo chơi: Tràng Tiền
Thái Hà, Trường Bưởi, Trung Hiền
Có tầu điện chạy liên miên cả ngày
Tiền đi thì thực rẻ thay
Hai xu cái vé lên ngay tha hồ
Lại còn cả bến ô tô
Chở khách, chở đồ tùy ý người thuê.
Bờ hồ cảnh ấy vui ghê
Ngọc Sơn, Tháp Bút, vua Lê tượng đồng
Đua nhau ngàn tía muôn hồng
Một màu nước biếc soi lồng bóng cây
Đêm nào cũng có tích hay
Kìa nhà chớp bóng, ta nay rẽ vào
Lòng em nghĩ ngợi ra sao?
Sán Nhiên, Quảng Lạc ồn ào cả đêm
Cải Lương Hý viện kề bên
Ngọt ngào tiếng hát cũng nên mất tiền
Những khi vui thú giải phiền
Dạo chơi Bách thú, quanh miền Hồ Tây
Mặt hồ hây hẩy heo may
Trong trong gió mát dễ say lòng người
Hà thành đẹp lắm ai ơi!

99. Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Bài, Hàng Khay
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn
Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Than
Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Ngang, Hàng Đồng
Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông
Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè
Hàng Thùng, Hàng Bút, Hàng Tre
Hàng Vôi, hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà
Quanh đi đến phố Hàng Da
Trải xem phường phố thật là cũng xinh
Phồn hoa thứ nhất Long Thành
Phố Giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ
Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền.

100. Nghìn thu gặp hội thái bình
Trải xem phong cảnh khắp thành Thăng Long
Phố ngoài bao bọc thành trong
Cửa Nam, Giám, Bắc, Tây, Đông rõ ràng
Ba mươi sáu mặt phố phường
Hàng Giày, Hàng Bạc, Hàng Ngang, Hàng Đào
Người đài các, kẻ thanh tao
Qua hàng thợ Tiện lại vào Hàng Gai
Hàng Thêu, Hàng Trống, Hàng Bài
Hàng Khay trở gót ra chơi Tràng Tiền
Nhác trông chẳng khác động tiên
Trên đồn cờ kéo dưới thuyền buồm giăng
Phong quang lịch sự đâu bằng
Dập dìu võng lọng, tưng bừng ngựa xe
Hàng Vôi sang phố Hàng Bè
Qua tòa Thương Chính trở về Đồng Xuân
Trải qua Hàng Giấy dần dần
Cung đàn nhịp phách nên xuân bốn mùa
Cầu Đông vang tiếng chợ Chùa
Trăng soi giá nến, gió lùa khói hương
Mặt ngoài có phố Hàng Đường
Hàng Mây, Hàng Mã, Hàng Buồm, Hàng Chum
Tiếng Ngô, tiếng Nhắng um um
Lên lầu xem điếm tổ tôm đánh bài
Khoan khoan chân trở gót hài
Qua Hàng Thuốc Bắc sang chơi hàng Đồng
Biết bao của báu lạ lùng
Kìa đồ bát bửu, nọ lồng ấp hương
Hàng Bừa, Hàng Cuốc ngổn ngang
Trở về Hàng Cót dạo sang Hàng Gà
Bát ngô, Hàng Sắt xem qua
Hàng Vải, Hàng Thiếc lại ra Hàng Hòm
ở đâu nghe tiếng om om?
Trống chầu rạp hát thòm thòm vui thay
Hàng Da, Hàng Nón ai bày
Bên kia Hàng Điếu, bên này Hàng Bông
Ngã tư Cấm Chỉ đứng trông
Qua Hàng Thợ Nhuộm thẳng rong Hàng Tàn
Đoái xem phong cảnh bàn hoàn
Bút hoa dở viết chép bàn mấy câu.
Trải qua một cuộc bể dâu
Nào người đế bá, công hầu là ai?

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan

Edited by - tieuboingoan on 05/25/2006 02:32:40
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  02:34:50  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
101. Bắc Kỳ vui nhất Hà Thành
Phố phường sầm uất văn minh rợp trời
Thanh tao lịch sự đủ mùi
Cao lâu rạp hát vui chơi đủ đầy
Đâu đâu nam bắc đông tây
Thăng Long thắng địa, xưa nay tiếng đồn
Cũ thời băm sau phố phường
Ngày nay mở rộng tới hàng vài trăm
Người đi, xe chạy ầm ầm
Đua chen thương mại bội phần hơn xưa
Nhất vui là cảnh Bờ Hồ
Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Bồ Hàng Ngang
Mã Mây, Phố Mới, Hàng Vàng
Đồng Xuân, Hàng Giấy, Hàng Buồm vui thay
Bán buôn tấp nập đêm ngày
Ô-tô đi lại như bay ngoài đường
Đua chen trong chốn thị trường
Hiệu buôn chú Khách, cửa hàng người Nam
Bày ra đủ các thứ hàng
Hàng Tây, hàng Nhật với hàng Trung Hoa
Lại hàng nội hóa đủ là
Ngày nay xuất cảng kể đà hơn xưa
ấy là kể những phố to
Còn như Hàng Quạt, Hàng Lờ, Hàng Da
Cửa Nam, Hàng Lọng, Phố Ga
Hà Trung, Ngõ Trạm, Hàng Gà, Cửa Đông
Hàng Cân, Hàng Cót, Hàng Đồng
Hàng Mụn, Hàng Bát, Hàng Bông, Hàng Bài
Hàng Cau, Hàng Bột, Hàng Khoai
Hàng Nâu, Hàng Trứng, Hàng Gai, Hàng Hành
Hàng Tre, Hàng Sũ, Hàng Mành
Phúc Châu, Cầu Gỗ, Bắc Ninh, Hàng Hòm
Mới đà kể hết phố con
Của người bản xứ bán buôn ngày rày
Còn như đường lớn, phố Tây
Tràng Tiền, Đồng Khánh, Hàng Khay, Nhà Thờ
Nhất vui là hiệu Gô-đa
Ra vào nhộn nhịp ai mà chẳng hay
Tràng Tiền có rạp hát Tây
Bên kia Đồn Thủy, bên này nhà Đoan
Vườn hoa con cóc trông sang
Là dinh Thống sứ nhìn càng xót xa
Tượng Tây đứng giữa vườn hoa
Bên này Đốc Lý trông ra Bờ Hồ
Kể xem phố xá bây giờ
Phồn hoa đệ nhất kinh đô Bắc Kỳ
Văn minh đèn điện sáng lòe
Thông thương kỹ nghệ mọi bề chấn hưng
Chỉ cánh áo ngắn khốn cùng
Làm lụng suốt tháng vẫn không đủ dùng
Bữa cơm, bữa cháo nhạt nhùng
Thôi đành nheo nhóc bọc đùm lấy nhau.

102. Dạo xem phong cảnh Long Thành
Đủ mùi phường phố, đủ vành núi sông
Nhị Hà quanh bắc sang đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này
Nùng Sơn, Long Đỗ đâu đây
Tam Sơn núi đất cao tầy Khán Sơn
Ngọc Sơn nhân tạo bé hơn
Bên hồ Hoàn Kiếm ngay đền Văn Xương
Trúc Bạch, Mã Cảnh nên tường
Xa hồ Bảy Mẫu giáp đường gần nhau
Ngoài đường quai có hồ sâu
Tây Hồ rộng rãi ngay đầu phía tây
Xung quanh bao bọc kín thay
Đất cao thành lũy, cửa xây nên tường
Mười lăm ô đúng đường đường
Yên Ninh, Yên Phụ, Thụy Chương một bề
Tiên Trung, Nghĩa Lập gần kề
Thanh Hà, Ưu Nghĩa dưới là Đông An
Cựu Lâu, Mỹ Lộc, Lương Yên
Thịnh An, Thanh Bảo, Kim Liên, Thịnh Hào
Sở tại là những huyện nào
Thọ Xương, Vĩnh Thuận, phủ Hoài thống kiêm
Thọ tám tổng, Vĩnh có năm
Đồng Xuân, Đông Thọ, Phúc Lâm, mé ngoài
Vĩnh Xương, Thuận Mỹ, An Hòa
Thanh Nhàn tổng cuối giáp tòa Kim Liên
Yên Thành huyện Vĩnh ở bên
Thượng, Trung, Nội, Hạ ngoài miền ô môn
Yên Thành gồm mấy phường thôn
Khán Xuân, Thanh Bảo, Yên Viên gần thành
Trúc An, Lạc Chính, Yên Thành
Yên Trạch, Yên Định, Yên Ninh các làng
An Quang, An Thuận, Châu An
Phúc Lâm giáp giới đi sang tổng này
Ven sông một dải đất dài
Phúc Lâm, Nghĩa Dũng đến vài thôn Nguyên
Trừng Thanh thượng, hạ trung liền
Ngũ Hầu, Sài Thúc, Hạ tên Kiếm Hồ
Hương Nghĩa, Mỹ Lộc, Vọng Hà
Tây Long, Hữu Thị giáp là Bảo Linh
Thanh An, Bến Cổ, Trừng Thanh
Trang Lâu, Cơ Xá, đất dành phù sa
Thanh Nhàn liên tiếp không xa
Tổng này tám xóm, một là Lương Yên
Lãng Yên, Cẩm Hội, Hương Viên
Hàm Khánh, Vọng Đức, Tràng Tiền thẳng trông
Thanh Nhàn với xóm Lạc Trung
Kim Liên bên cạnh, tổng trong xóm ngoài
Mười lăm thôn trại rộng dài
Quỳnh lôi, Trung Tự, Bạch Mai, Cầu Giền
Phúc Lâm, Đông Tác, Kim Liên
Vân Hồ, Yên Nhất, Thịnh Yên, Giáo Phường
Hòa Mã, Phục Cổ cùng đường
Vũ Thạch, Hồi Mỹ hỏi đường Đông Tân
Quá lên mười một thôn dân
Hạ Hào đến tổng dần dần cửa tây
Xã Đàn, Trung Phụng cả đây
Nối Thổ Quan nữa một dây vòng tròn
An Hòa nguồn nước sông con
Văn Hương, Thanh Miến giữa nom Hồ Đình
Văn Tân, Lương Sử, thôn Minh
Giám thôn bên hữu, cống sinh đi về
Vĩnh Xương nay đất Tràng Thi
Mười lăm thôn kế trước thì Vĩnh Xương
Linh Quang, An Tập, Thuyền Quang
Bích Lưu, Linh Đổng, Liên Đàng, Nam Ngư
An Trung, Thượng, Hạ dân cư
Bắc Thượng, Bắc Hạ vốn như một phường.
Tiên Mỹ, Phụ Khánh gần trường
Đông Mỹ, Mỹ Đức lại đường bên trên
Tổng Thuận Mỹ ở ngay liền
Hăm hai thôn với phường bên cho rành
Chớ nhầm An Nội Đông Thành.
Cổ Vũ An Nội phận đành đôi nơi
Phường Đồng Lạc, phường Đại Lời
Cách xa thôn chợ Tân Khai mới dừng
Đông Môn, Nhân Nội phỏng chừng
Hội Vũ, Bảo Khánh, Chân Cầm bên kia
Phúc Tô, Kim Cổ đó kìa
Báo Thiên, Tự Tháp tới vừa chợ Tiên
An Thái, Thuận Mỹ, Xuân Yên
Tô Tịch, Khánh Thụy cách bên Đông Hà
Phường thôn Đông Thọ mười ba
Cựu Lâu, Hương Dính, Thanh Hà mé sông
Nam Phố, Ưu Nghĩa cùng thông
Gia Ngư, Nhiễm Thượng, An Trung độ chừng
Đông An, Dũng Thọ, Duyên Hưng
Còn thôn Ngư Võng sau lưng phường Hà
Đến đây rồi lại rẽ ra
Qua Hương Bài đến tổng là Đồng Xuân
Đoài Môn, An Phú gần gần
Sang sông Tô ấy là phần Cổ Lương
Thanh Hà thôn, Đông Hà phường
Tiền Trung, Nghĩa Lập về đường bờ sông
Huyền Thiên, Đồng Thuận bên trong
Vĩnh Trù liền với Phương Trung, Phủ Từ
Thôn phường mười bốn hết chưa
Vĩnh Hanh phường nữa còn chừa Đồng Xuân
Ngoài ô những tổng vân vân
Sáu phường Trung Tổng, Bái Ân, Trích Sài
Thụy Chương, Hồ Khẩu dọc dài
Võng Thị, Yên Thái vừa đầy tổng Trung
Tổng Hạ có phường Nhược Công
Thịnh Hào với trại Nam Đồng thứ ba
Khương Thượng, Yên Lãng nữa mà
Thịnh Quang trại ấy kể đà sáu dân
Tổng Nội chín trại chớ nhầm
Liễu Giai, Giảng Vũ tiếp gần Đại An
Thủ Lệ, Cỗng Vị là năm
Hữu Tiệp, Vạn Bảo, Cống An, Ngọc Hà
Bẩy phường, tổng Thượng nào xa
Nghi Tàm, Yên Phụ, Nhị Hà neo lên
Nhật Tên, Quảng Bá ở trên
Thạch Khối, Giai Cảnh cùng bên Tây Hồ
Long Thành thật xứng cố đô
Kim âu chẳng mẻ, cơ đồ bền lâu.

103. Trên trời có đám mây xanh
ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Hà Nội, Nam Định dọn đàng đưa dâu
Tỉnh Thanh cung đốn trầu cau
Nghệ An thời phải thui trâu, mổ bò
Hưng Yên quạt nước hỏa lò
Thái Bình giã gạo, giã giò, gói nem
Ninh Bình trải chiếu bưng mâm
Hải Dương vót đũa, Cầu Nôm đúc nồi
Sơn Tây gánh đá nung vôi
Bắc Cạn thời phải thổi xôi nấu chè.

104. Anh là con trai nhà nghèo
Nàng mà thách thế anh liều anh lo
Cưới em anh nghĩ cũng lo
Con lợn chẳng có, con bò thì không
Tiền gạo chẳng có một đồng
Thiên hạ hàng xứ cũng không đỡ đần
Sớm mai sang hiệu cầm khăn
Cầm được đồng bạc để dành cưới em
Ba hào anh để mua tem
Gửi thư mời khắp anh em xa gần
Trăm năm kết ngãi châu trần
Nhớ ngày nên lứa giao loan với mình
Họ hàng ăn uống linh đình
Cả tỉnh Hà Nội đồn mình lấy ta
Hào tư anh để mua gà
Sáu xu mua rượu, hào ba đi tàu
Bẩy xu mua lấy trăm cau
Một hào mua gói chè tầu uống chơi
Một hào cả đỗ lẫn xôi
Một hào gạo tẻ với nồi rau dưa
Anh ngồi anh tính cũng vừa
Cưới em đồng bạc chẳng thừa một xu

105. Ai về đừng bảo cầm khăn
Có một đồng bạc để dành cưới em
Ba hào thời để mua tem
Mời hết thiên hạ anh em xa gần
Cưới em ăn uống linh đình
Sơn Tây, Hà Nội đồn mình lấy ta
Một hào anh mua con gà
Hào hai đi chợ, hào ba đi tàu
Năm xu mua gói thuốc lào
Hào tư mua gói chè tầu uống chơi
Một hào đong gạo thổi xôi
Năm xu mua thịt, còn thời rau sưa
Anh ngồi anh tính cũng vừa
Cưới em đồng bạc còn thừa một xu.

106. Bực mình lên tận thiên cung
Bắt ông nguyệt lão hỏi thăm vài lời
Nỡ lòng trêu ghẹo chi tôi
Lênh đênh bèo nổi mây trôi một thì
Biết người biết mặt nhau chi
Để đêm em tưởng ngày thì em mơ
Bắc Ninh cho đến Phủ Từ
Qua cầu sông Nhị ngẩn ngơ tìm người
Tìm người chẳng biết mấy nơi
Tìm ba mươi sáu phố thấy người ở đây.

107. Nón này chính ở làng Chuông
Làng Già lợp nón, Khương Thường bán mua
Hà Nội thì kết quai tua
Có hai con bướm đậu vừa chung quanh
Tứ bề nghiêng nón chạy quanh
ở giữa con bướm là hình ông trăng
Nón này em sắm đáng trăm
Ai trông cái nón ba tầm cũng ưa
Nón này che nắng che mưa
Nón này để đội cho vừa đôi ta
Nón này khâu những móc già
Em đi thử nón đã ba năm chày
Muốn em chung mẹ chung thày
Thì anh đưa cái nón này em xin.

108. Chợ Hàng Dầu một tháng sáu phiên
Gặp cô hàng xén kết duyên vừa rồi
Cái gánh hàng đây những quế cùng hồi
Có mẹt bồ kếp, có nồi phèn chua
Bó hương thơm xếp để bên bồ
Trần bì, cam thảo, sài hồ, bàng liên
Hàng em đáng giá bao nhiêu tiền?
Để ta xếp vốn ta liền buôn chung
Buôn chung, ta lại bán chung
Được bao nhiêu lãi, ta cùng chia nhau.

109. Chim khôn đậu ngọn thầu dầu
Nó kêu năm tiếng em sầu năm nơi
Chàng về ngắt ngọn mồng tơi
Bắc cầu sông Cái, thiếp thời nên chăng?
Mồng tơi bắc chả nên cầu
Chàng về xẻ gỗ bắc cầu em sang
Chỉ xanh, chỉ đỏ, chỉ vàng
Một trăm thứ chỉ bắc ngang đầu cầu
Nào em đã có chồng đâu
Mà chàng đón trước rào sau làm gì.

110. Đêm qua mưa bụi gió bay
Gió rung cành trúc, gió lay cành bàng
Em với anh cùng tổng khác làng
Nào em có biết ngõ chàng là đâu
Một thương, hai nhớ, ba sầu
Cơm ăn chẳng được ăn trầu ngậm hơi
Thương chàng lắm lắm chàng ơi
Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than
Muốn than mà chẳng gặp chàng
Kìa như đá đổ bên ngàn Hồ Tây
Đá đổ còn có khi đầy
Thương chàng biết thủa nào khuây hỡi chàng.

111. Trên trời có sao tủa rua
ở dưới Kẻ Chợ có vua đúc tiền
Ruộng tư điền ai không cày cấy
Hỏi cô mình có lấy anh chăng
Mười hai cửa bể anh đã cắm đăng
Cửa nào lắm cá anh quăng chài vào.

112. Đường ra Kẻ Chợ xem voi
Kìa bãi tập trận nhà chòi bắn cung
Bắn con ngựa hồng báo tiền báo hậu
Các quan võ thần mặc áo nậu thắt lưng xanh
Khẩu súng vác vai chân anh quỳ đạp
Anh đánh trận này, anh đuổi trận này giả nợ nhà vua.
Bõ công dãi nắng dầm mưa.

113. Đường ra Kẻ Chợ xem voi
Voi thì chẳng thấy thấy ngôi nhà lầu
Thấy cô chúa tầu bán gương cùng lược
Mặc áo màu chàm bán thuốc nhân sâm
Cái áo tứ thân là năm gấu tách
Anh gửi thư về nửa trách nửa mong
Trách người làm mối không xong.

114. Ơn chàng đã có lòng vì
Ngỏ lời phương tiện muốn bề tóc tơ
Nhân khi em ở lại nhà
Làm nghề canh cửi sớm khuya chuyên cần
Vốn riêng được một vài trăm
Đem đi buôn bán Đồng Xuân chợ này
Buôn hàng vải lụa bấy nay
Nhờ trời vốn lãi độ ngày ba trăm.

115. Tôi đây là người đi chơi
Chơi chốn lịch sự, chơi nơi hữu tình
Mới đi chơi ở Bắc Ninh
Chạy tàu Hà Nội sự tình xem sao
Đồn vui tôi bước chân vào
Chơi hội kỳ thú chơi đôi ba ngày.

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  02:36:53  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
116. Em là con gái nhà giàu
Cơm cha, áo mẹ, chạy tài đi chơi
Gia Lâm, Phú Thị chàng ơi
Đình Dù là chốn ăn chơi ra vào
Lạc Đạo cho tới Xuân Đào
Trong ba ga ấy em vào cả ba.

117. Ta lên Hà Nội tìm mình
Trầu cau tiếp đãi thân tình biết bao
Chân đi miệng lại khấn cầu
Lạy Giời phù hộ gặp nhau phen này.

118. Thấy anh áo lượt xênh xang
Đồng hồ quả quít, nhẫn vàng đeo tay
Cái ô lục soạn cầm tay
Cái khăn xếp nếp, cái dây lưng điều
Các cô trông thấy mỹ miều
Chạy theo thỏ thẻ những điều nhỏ to
Thôi đừng chuyện nhỏ chuyện to
Đến tháng lĩnh bạc anh cho vài đồng
Mồ cha những đứa nói không
Đến tháng lĩnh bạc một đồng chẳng cho.

119. Em là con gái Nhà Giêm
Đến tháng lĩnh tiền được bốn đồng hai
Một đồng em để cho giai
Hai đồng cho mẹ, đồng hai ăn quà.

120. Thừa con chẳng gả cho anh hàng tờ
Đến ba mươi tết vẫn phất phơ ngoài đường.

121. Nhà em mả táng hàm rồng
Thì em mới lấy được chồng thợ may.

122.Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ ông ký lục ăn nhiều bánh ngô
Ăn rồi thế áo, thế ô
Ăn thêm bát nữa, thế cả đồng hồ, giày tây
Ai về nhắn mẹ cùng thày
Đem tiền ra chuộc giày tây, đồng hồ
Từ rày tôi lạy các cô
Tôi lỉnh bánh đúc, bánh ngô chợ Dừa
Lẳng lơ con gái chợ Dừa
Đi bán bánh đúc lại lừa chúng anh.

123. Giày ban bóng láng nuột nà
Khăn xếp chữ nhất, quần là nếp tư
áo hàng lụa tốt toàn tơ
Gấm lam hoa bạc cho vừa ý anh.

124. Khăn nhung vấn tóc cho vừa
Đi giày mõm nhái, đeo hoa cánh bèo
Quần thâm lĩnh Bưởi cạp điều
Hột vàng quấn cổ ra chiều giàu sang.

125. Em là con gái Tạm Thương
Dù không cày cấy, lương vàng cũng có một đôi quây
Ghét cho miệng thế đặt bày
Moi gan móc ruột khép lựa điều này tiếng kia

126. Anh giai ngõ Trạm phải hèn
Phường trên, ngõ dưới biết tên những ngày
Duyên lành chắp mối đấy đây
Tạm Thương cô Choắt một tay chẳng vừa
Sớm cùng phận đẹp duyên ưa
Ông Tơ bà Nguyệt dắt đưa nên gần.

127. Lòng em như thạch, sạch như gương
Anh chẳng thương thì chớ còn mang lòng ngờ
Nếu em ngang tắt đi về
Anh đem xuống miếu Cậu, em thề cho coi
Ngay gian xin Cậu xét soi
Em gian thì Cậu gọt gáy bôi vôi em này!

128. Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên vắng ngắt như chùa Bà Danh
Còn duyên kén cá chọn canh
Hết duyên rốc đực, cua kềnh cũng vơ.

129. Bà già đi chợ Cầu Đông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng
Thày bói gieo quẻ nói rằng
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.

130. Sáng ngày ra đứng Cửa Đông
Xem một quẻ bói lộn chồng được chăng
Ông thày gieo quẻ nói rằng
Lộn thì lộn được nhưng năng phải đòn
Mồ cha đứa có sợ đòn
Miễn là lấy được chồng giòn thì thôi.

131. Nhác trông lên mái Nhà Thờ
Đồng hồ đã điểm chín giờ chàng ơi
Vì dù chàng có thương tôi
Mình ra Hà Nội chụp đôi cái hình
Khi nao thanh vắng một mình
Nhớ ai tôi lại giở hình ra xem.

132. Thằng Tây ngồi nghĩ cũng tài
Sinh ra đèn máy thắp hoài năm canh
Thằng Tây ngồi nghĩ cũng sành
Sinh ra tàu điện chạy quanh phố phường
“La ga” thì ở Thụy Chương
Dây đồng cột sắt tìm đường kéo lên
Bồi bếp cho chí bồi bàn
Chạy tiền ký cược đi làm sơ-vơ
Xưa nay có thế bao giờ
Có cái tàu điện đứng chờ ngã ba.
Đàn ông cho chí đàn bà
Kễ tàu vừa đến lấy đà nhảy lên
Ba xu ghế gỗ rẻ tiền
Toa sau thì để xếp riêng gánh gồng
Năm xu ngồi ghế đệm bông
Hỏi mình có sướng hay không hở mình?

133. Gần xa nô nức tưng bừng
Vào chùa quan Thượng xem bằng động tiên
Lầu chuông, gác trống hai bên
Trông ra chợ Mới, Tràng Tiền kinh đô
Khen ai khéo họa địa đồ
Sau lưng Nhị thủy, trước hồ Hoàn Gươm
Phong quang cảnh trí trăm đường
Trong xây chín giếng, ngoài tường lục lăng
Rõ mười cửa động tưng bừng
Đền vàng tòa ngọc chật từng như nêm
Dục Trì, phơi tổ màu sen
Thập phương chư phật ngồi trên đủ mời
Dạo xem tam bảo khắp rồi
Hành lang, nhà hậu khắp nơi rõ ràng
Kẻ thanh lịch, khách quyền sang
Vào chùa lễ bái mọi đường vui xem
Ai ai mến cảnh thiền môn
Lòng trần rũ sạch nhơn nhơn ra về
Bước ra hòn đá xanh rì
Nhìn xem phong cảnh chẳng muốn về nữa đâu.

134. Mênh mông biển lúa xanh rờn
Tháp cao sừng sững trăng vờn bóng cau
Một vùng phong cảnh trước sau
Bức tranh thiên cổ đượm màu giang sơn.

135. Đền Đô kiến trúc tuyệt vời
Thăng Long đẹp đất, đẹp người ngàn năm.

136. Du ai buôn bán trên đường
Nhớ ngày giỗ tổ Trưng Vương thì vê
Dù ai hải đảo, sơn khê
Tháng giêng ngày hội nhớ về Đồng Nhân.

137. Ba năm mở hội một lần
Tiếng đồn nô nức xa gần đến xem
Hai phố chôn hai dãy đèn
Làm hai cái cổng dưới trên phố Hàm
Làm thêm cái cổng Tam Quan
Làm nhà tám mái bắc ngang sân chùa
Trong chùa tinh tượng mới tô
Làm nhà tám mái bày đồ hàng ngôi
Dân ta mở hội mồng mười
Mười một rước nước thỉnh kinh lên chùa
Rước nước trên sông Bồ Đề
Thỉnh kinh chùa Đá rước về chùa Mơ.

138. Mừng nay mở hội long vân
Để cho hàng xứ xa gần đến xem
Một năm là mấy tháng xuân
Một ngày được mấy giờ dần hỡi ai
Duyên kim phận cải trời xui
Một năm được mấy cơn vui thế này!

139. Mừng nay kéo hội vui thay
Đem đàn ra gẩy một bài nhân duyên
Xem bài nào ấm nào êm
Xem bài thề nguyền ta gẩy nghe chung.

140. Nhớ ngày mồng bảy tháng ba
Trở về hội Láng, trở ra hội Thày.

141. Nhất vui là hội chùa Thày
Vui thì vui vậy chẳng tầy chùa Mơ.

142. Bơi Đăm, rước Giá, hội Thày
Vui thì vui vậy, chẳng tầy rã La.

143. Bơi đăm, rước Giá, hội Thày
Vui thì vui vậy không tày chài bơi.

144. Làng Đăm có hội bơi thuyền
Có lò đánh vật lưu truyền từ lâu.

145. Đôi ta đã thốt lời thề
Con dao lá trúc đã thề tóc mai
Hẹn rằng ai chớ quên ai

146. Làng Mọc mở hội tháng hai
Rước hôm mười một, mời hai rõ ràng
Nhất vui mở hội năm làng
Để cho thiên hạ phố phường vào xem.
Nào là hương án, long đình
Phường bồng, phường trống rập tình theo sau...
Tàn vàng quạt vá sánh bầy
Đuôi nheo phấp phới, cờ bay hằng hà.

147. Ba mươi súc miệng ăn chạy
Sáng ngày mồng một dựng cây trúc đài
Làm sân khấn vái Phật Trời
Biết đâu có nắng mà phơi quần hồng
Ai ơi, hãy hoãn lấy chồng
Để cho trai gái dốc lòng đi tu.
Chùa này chẳng có Bụt ru
Mà đem chuông khánh treo chùa Hồ Sen
Thấy cô yếm đỏ răng đen
Nam mô Di phật lại quên mất chùa!
Ai mua tấc cảnh thì mua
Thanh la não bạt, thày chùa bán cho
Hộ pháp thì một quan ba
Long thần chín rưỡi, thích ca ba tiền
Còn hai mụ Thiện hai bên
Ai mua bán nốt lấy tiền nộp cheo
Lệ làng thiếu thốn bao nhiêu
Dẵn cây tre cộc cắm nêu sân chùa.

148. Chùa Quỳnh có khánh đá chuông đồng.
Ai tu thì trả của chồng mà tu.

149. Ngày ngày ra đứng cửa chùa
Trông lên Kẻ Chợ mà mua lấy sầu.
Chợ Cót có bốn cái cầu
Để cho làng xóm mua rau, bán hàng.

150. Cốn Vòng, gạo tám Mễ Trì
Tương Bần, húng Láng còn gì ngon hơn.

151. Mễ Trì thơm gạo tám xoan
Dự hương, nếp cái hoa vàng, cốm ngon.

152. Nồi đồng thổi gạo tám xoan
Mở ra cơm trắng thơm vang cả nhà.

153. Trắng tinh hạt gạo tám xoan
Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà.

154. Rau già cùng với mướp sơ
Đem vào Ket Mẩy mà vơ lấy tiền.

155. Ai về Kẻ Mễ mà coi
Con gái cũng giỏi múa roi, đánh quyền.

156. Lấy chồng Hòe Thị nhọc nhằn
Ngày mỏi quai búa, đêm nằm đau lưng
Lấy anh ăn trắng mặc trơn
Quai búa anh nhận, sướng hơn vợ người.

157. Nghề rèn đỏ lửa còn tiền
Nguội lò tắt lửa phụt đèn hết tiêu.

158. Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làm cốm với anh thì về.

159. Đắp lò và sắm nồi rang
Đôi quang đòn gánh vắt ngang mỹ miều.

160. Bảo nhau gặt lúa vội vàng
Mang về nhặt, suốt, luận bàn thóc dôi
Người thì nhóm bếp bắc nồi
Người đem đãi thóc để rồi đi rang
Người đứng cối, kẻ giần sàng
Nghe canh gà gáy phàn nàn chửa xong
Trong làng giả trẻ thong dong
Sớm khuya bện chổi chớ hòng rỗi tay.

161. Gắng công kén hộ cốm Vòng
Kén hồng Bạch Hạc cho lòng ai vui
Trách ai lòng dạ đổi thay
Hồng nay để thối, cốm này để thiu.

162. Thái Đô làm kẹo mạch nha
Kẻ Vòng làm cốm để mà tiến vua.

163. Kim thằng Quỷ, chỉ Tây Hồ
Ai yêu thì lấy chẳng vồ lấy ai.

164. Làm người thì phải có ý
Những người mang bị là người Tây Hồ.

165. Muốn ăn rễ tía trầu vàng
Có con thì gả cho làng Chạ Nghi

166. ổi Quảng Bá, cá hồ Tây
Hàng Đào tơ lụa làm say lòng người.

167. Hỡi cô thắt dải lưng xanh
Có về Phú Diễn với anh thì về
Phú Diễn có cây bồ đề
Có sông tắm mát, có nghề ăn chơi.

168. Ngòi sách, ruộng học là đây
Cho nên Phú Diễn, đất này lắm quan.

169. Giàu ba mươi sáu phố phường
Chẳng bằng ông huyện ở làng Kiều Mai.

170. Chợ Diễn một tháng sáu phiên
Bưởi Vàng trái ngọt ai quên nhớ về.

171. Thuyền qua ghềnh Bạc, thác Sù
Ai đi đến đó gửi thơ về nhà.

172. Sù, Gạ thì giỏi chăn tằm
Làng La canh cửi, làng Đăm bơi thuyền.

173. Làng Gạ đi bán bánh trôi
Làng Sù bán bún dính môi lằng nhằng.

174. Mồng bảy rước hội Quán La
Mồng mười hội Gạ kéo qua làng Sù.

175. Làng Sù kéo mật đã lâu,
Nhật Tân bảy kiệu vui đâu cho tày.

176. Bao giờ cho đến tháng Hai
Nhật Tảo mở hội cho trai ra đình.

177. Quân cờ Đồng Cổ ra đi
Làm nên chiến thắng bất kỳ nơi đâu.

178. Cây đa giếng nước quê nhà
Mái đình còn đó người xa chưa về
Người ơi, người có nhớ quê
Giò Chèm, nem Vẽ, quạt lá đề như xưa.

179. Ba dân mở hội tháng Năm
Mười hai chạ chải, hôm rằm bơi thi
Ba dân đánh trống chỉ huy
Thuyền nào đạt nhất, cờ thì có mao
Cả Thuyết đứng mũi chịu sào
Hai Dương đánh mõ, Trương Giao phất cờ
Lái Hành lái vượt thủy cơ
Dân ta đâu có được cờ mà tranh.

180. Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về Kẻ Vẽ với anh thì về
Kẻ Vẽ có thói có lề
Kẻ Vẽ lại có nhiều nghề đâu hơn.

181. Dong cờ mở hội tháng ba
Để về Thượng Cát có ta có mình.

182. Chẳng chua ai gọi là chanh
Chẳng ngọt ai gọi cam Canh chín vàng.

183.Ngọt thay cái quả cam tròn
Vừa thơm vừa mát hãy còn ở Canh.

184. Nhắn ai trẩy chợ Kinh thành
Mua em tấm lĩnh hoa chanh gửi về.

185. The La, lụa Vạn, vải Canh
Nhanh tay đi bán ai sành thì mua.

186. The La Cả, vải Đồng Lầm
Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây.

187. Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm
Cá rô Đầm Sét, sâm Cầm Hồ Tây

188. The La, lĩnh Bưởi, chồi Phùng
Lụa vân Vạn Phúc, nhiều vùng Mỗ bên.
Chợ Lão một tháng sáu phiên
Nhiễu điều, lĩnh tía, the đen thiếu gì.

189. Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng
May áo chàng cùng sóng áo em
Chữ tình gắn với chữ duyên
Xin đừng thay áo mà quên lời nguyền.

190. Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về kẻ Bưởi với anh thì về
Làng anh có ruộng tứ bề
Có hồ tắm mát, có nghề quay tơ.
Quay tơ ra mắc ra mành
Mắc thời mắc cửi còn mành đan ngang
Mốt son anh dệt đâu hàng
Mốt cục đem bán cho nàng Kẻ Đơ.

191. Anh dệt cửi, em kéo hoa
Rông bay phượng múa ai mà chẳng khen.

192. Tay lao, chân đậm, mắt đưa
Còn đâu nghĩ tới đường tơ hỡi mình.

193. Hồ trơn, ngang nhỏ, dệt đan
Thân mình cũng sướng như quan Phù Hoài.
- Hồ to, ngang sẩn, dệt dày
Cũng bằng cha mẹ bắt đầy biển Đông.

194. Vạn Long dệt cửi kéo hoa
An Phú nấu kẹo mạch nha ngọt đường
Trung Kính thì lễ vàng hương
Nghĩa Đô làm giấy để làng tả văn.

195. Cô kia đội nón đi đâu
Có về An Phú làm dâu thì về
An Phú có ruộng tứ bề
Có ao tắm mát có nghề kẹo nha
Làm nha bán lẻ, bán buôn
Bán khắp Hà Nội bán sang Hải Phòng
Bán cho chú khách cửa Đông
Làm ra kẹo lạc, kẹo hồng, kẹo tây.

196. Yên Thái có hồ Nguyệt Nga
Có sông Tô Lịch đôi ta chèo thuyền.

197. Trời mưa đầy nước ao Quan
Lòng tôi muốn lấy cô thợ can trong bồi.

198. Dù cho người xấu như ma
Tắm nước ao Quà lại đẹp như tiên.

199. Người nào lội xuống Hồ Tây
Tiền đâu nộp thuế cho ngay chủ hồ?

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  02:39:24  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote

200. Bao giờ hết chủ Hồ Tây
Vét sông Tô Lịch có ngày ấm no.

201. Thứ nhất là tội đeo gông
Thứ nhì đất Gưởi nằm không có màn.

202. Làng Vòng bán lợn, bán gà
Làng Thụy nấu rượu la đà cả đêm.

203. Yên Phụ buôn bán dưới thuyền
Xuống đò Phố Mới bán than quạt trà.

204. Giếng Yên Thái vừa trong vừa mát
Đường Yên Thái gạch lát dễ đi
Em về bên ấy làm chi
Nước giếng thì đục, đường đi thì lầy.

205. Yên Thái có giếng trong xanh
Có đôi cá sấu ngồi canh đầu làng
Ai qua nhắn nhủ cô nàng
Yêu nhau xin chớ phũ phàng đổi thay.

206. Nước Hồ Tây vừa trong vừa mát
Đường chợ Bưởi lắm cát dễ đi
Cô kia bóng bẩy làm chi
Để cho anh ấy đi đi về về.

207. Chợ Bưởi một tháng sáu phiên
Rủ nhau đi chợ nên duyên đèo bòng
Ngày tư, ngày chín em mong
Buồng cau, con lợn bận lòng anh lo.

208. Chợ Bưởi ngày chín, ngày tư
Riêng một tháng tám lại dư phiên rằm
Ai ơi nhớ lấy kẻo nhầm
Đi mua hoa quả chơi rằm trung thu.

209. Nhất vui là chợ Ma Phường
Lắm hàng mọi chốn tìm đường đến mua
Hàng cau, hàng quít, hàng dừa
Hàng mơ, hàng mận, hàng dưa, hàng hồng.
Ai lên Yên Thái mà trông
Trẻ già trai gái vợ chồng dắt nhau.

210. Làng Nghè lập được trống quân
Ngoài Bưởi seo giấy cho dân học hành.

211. Đêm qua bóc uốn một mình
Nghe hơi sương xuống nhớ tình nhân xưa
Tình nhân xưa bây giờ xa vắng
Nỗi mong chờ cay đắng riêng em
Than ôi tăm cá, bóng chim
Biết đâu đường lối mà tìm hỡi ai!

212. Tàu seo nước giá như đồng
Tay đưa liềm giấy mà lòng nhớ ai
Nhớ người tuổi ngoại đôi mươi
Da xanh mai mái miệng cười đưa duyên.

213. Mong cho chóng đến vụ hè
Tàu seo nghỉ việc em về với anh
Cùng nhau gánh đá xây thành
Trăm năm gìn giư xmối tình đôi ta.

214. Mong cho chóng đến vụ hè
Tàu seo nghỉ việc anh về với em
Cùng nhau xe chỉ mài kim
Tình kia khâu lại cho thêm chắc bền.

215. Người ta bán vạn, buôn ngàn
Em đây làm giấy cơ hàn vẫn tươi
Dám xin nho sĩ chớ cười
Công em khó nhọc, giấy người viết thơ.

216. Người ta đúc tượng làm chùa
Còn em làm giấy bốn mùa chẳng ngơi
Dám xin sư bác chớ cười
Vì em làm giấy cho người chép kinh.

217. Giã nay rồi lại gia xmai
Đôi chân tê mỏi, đó ơi vì mày
Seo đêm rồi lại seo ngày
Đôi tay nhức buốt vì mày giấy ơi!

218. Ai ơi đứng lại mà trông
Kìa vạc nấu đó, kìa sông đãi bìa
Kìa giấy Yên Thái như kia
Giếng sâu chín trượng nước thì trong xanh
Đầu chợ Bưởi có điếm cầm canh
Người đi kẻ lại như tranh họa đồ
Cổng chợ có miếu thờ vua
Đường cái chính xứ lên chùa Thiên Niên
Chùa Thiên Niên có cậy vọng cách
Chùa Bà Sách có cây đa lông
Cổng làng Đông có cây khế ngọt
Con gái Kẻ Cót thì đi buôn xề
Con trai làng Nghè dệt cửi kéo hoa
An Phú nấu kẹo mạch nha
Làng Vòng làm cốm để mà tiến vua.
Họ Lại làm giấy sắc vua
Làng Láng mở hội kéo cờ hùng ghê.

219. Tiếng đồn con gái Nghĩa Đô
Quanh năm làm giấy cho vua được nhờ.

220. Ai ơi mua đó khó lòng
Không đi lên ẻn thì mong mỗi gì!

221. Trèo lên cây gạo cao cao
Kìa vạc nấu đó, kìa ao dặm bìa.

222. Nàng về buôn bán cho ngoan
Để anh giã giấy lấy quan tiền dài.

223. Anh về đi học cho ngoan
Để em cửi vải kiếm quan tiền dài.

224. Nhịp chày giã đó nhặt thưa
Đèn le lói sáng lòng ngơ ngẩn buồn
Nhớ ai mê mẩn tâm hồn
Thương ai mong đợi mỏi mòn tháng năm.

225. Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về Cầu Giấy với anh thì về
Làng Giấy có lịch có lề
Có sông tắm mát, có nghề xeo, can...
Tay can lòng những nhủ lòng
ở đây ấm áp lạnh lùng thương ai
Đường trần nay ngược mai xuôi
Gió hôm sương sớm ngậm ngùi một thân.

226. Thương người dãi nắng dầm mưa
Cho em cây đó, em đưa miếng trầu
Trầu này đệm với vôi tầu
Ăn dăm ba miếng kẻo rầu lòng em.

227. Rủ nhau mua nứa trên Trừm
Bơi qua bãi cát mới đem về nhà
Đem về mới đến bãi ta
Rỡ xong mới vác về nhà mới cưa
Mồ hôi lã chã như mưa
Cưa rồi mới thiến, thiến rồi mới pha
Ngồi rồi lại vót nan ra
Tính xem vốn lại được là bao nhiêu.

228. Phủ Hoài Đức có làng Tây Mỗ
Đất phì nhiêu dân số cũng đông
Tám trăm tám tám đàn ông
Sáu trăm tám sáu mẫu đồng tốt tươi
Kiểu danh thắng lắm nơi đáng kể
Trước sóng đào sau kế ao sen
Bồ Đề, Cống Hạnh, Cầu Tiên
Đình trên lưng cá nằm nghiêng giữa làng.
Đồng cao thấy miên man gò đống
Làng tròn xoe, đất rộng của nhiều
Bán buôn thịnh nhất nghề thêu
Học hành ai cũng có điều đáng khen.

229. Đi đâu mà chẳng biết ta
Ta ở kẻ Láng vốn nhà trồng rau
Rau thơm, rau húng, rau mùi
Thì là, cải cúc, đủ mùi hành hoa.
Mồng tơi, mướp đắng, ớt, cà
Bí đao, đậu ván vốn nhà trồng nên
Anh giúp em đôi quang tám dẻ cho bền
Mượn người lịch sự gánh lên kinh kỳ
Gánh lên chợ Mới một khi
Mong cho đến chợ em thì nghỉ ngơi
Cậu cai phát vé vừa rồi
Một lúc lại thấy cậu bồi ra mua
Củ hành em bán một xu
Củ cải hai rưỡi, tính xu lấy tiền
Người hiền ra bán của hiền
Nào em có dám cửa quyền cậu đâu
Bán hàng mắt trước mắt sau
Kìa thằng đội xếp đứng đầu Hàng Ngang.

230. Đầm Đại Từ hoa sen thơm ngát
Giếng Đại Từ nước mát trong xanh
Dòng Tô uốn khúc lượn quanh
Đất nuôi trẻ nhỏ lừng danh trong ngoài.

231. Sông Tô nước chảy quanh co
Phạm Công hiển hóa, âm phò quốc vương.

232. Hỡi cô đội nón quai thao
Đi qua Thanh Liệt thì vào làng anh
Làng anh Tô Lịch trong xanh
Có nhiều vải, nhãn ngon lành em ăn.

233. Hỡi cô mà thắt bao xanh
Có về Kim Lũ với anh thì về
Kim Lũ có hai cây đề
Cây cao bóng mát gần kề đôi ta
Tình sâu không quản đường xa
Nhà anh cao rộng cũng là nhà em
Nhà anh có con sông êm
Cho em tắm mát những đêm mùa hè.

234. Mình từ làng kẹo mà ra
Nên mình nói ngọt cho ta phải lòng.

235. Vua Ngô ba mươi sáu tàn vàng
Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì
Chúa Chổm uống rượu tì tì
Chết xuống âm phủ khác gì vua Ngô.

236. Nhật trình từ Ráy đến ô
Bây giờ ta kể duyên do các làng
Tứ Kỷ đó rõ ràng
Trông lên lại thấy một làng Pháp Vân
Trông xa rồi lại trông gần
Đại Từ trước mặt, sau lưng Linh Đường
Vang lừng chợ Sét một bên
Qua cầu lại thấy bên trên có chùa
Kẻ đi người lại như đua
Kẻ đi ghé nón, người vô cúi đầu
Nhác trông làng Tám càng màu
Thiên thanh con lục, địa đầu Tam Giang.

237. Đồn rằng Văn Điển vui thay
Ngoài phố chợ họp năm ngày một phiên
Tàu qua phố dưới, phố trên
Đình thì ở giữa hai bên rặng bàng.
Làng Mơ cất rượu khê nồng
Làng Vọng dệt gối, chăn tằm làng Mui
Kẻ Giả thì bán bùi nhùi
Làng Lê bán phấn cho người tốt da
Kẻ Vọng khéo ngọc, khéo ngà
Đưa đem đi bán cho nhà kẻ sang
Kẻ Lủ thì bán bỏng rang
Trên Ô hàng Đậu lắm hàng nhiều thay
Ngâu, Tựu thì bán dao phay
Dù đem chặt nứa gẫy cây lại liền
Trong kho lắm bạc nhiều tiền
Để cho giấy lại chạy liền với dây.

238. Làng Quang dưa, vải khắp đồng
Ngô khoai khắp ruộng, nhãn lồng xóm Văn

239. ớt cay là ớt Định Công
Nhãn ngon là loại nhãn lồng làng Quang.

240. Làng anh rặt thợ kim hoàn
Để anh đánh nhẫn cho nàng đeo tay.

241. Ai về Khương Hạ, Đình Gừng
Dưa chua, cà muối, xin đừng quên nhau
Dù ai buôn đâu bán đâu
Cũng không bỏ được cống Ngâu chợ Chùa.

242. Vải ngon thì nhất làng Bằng
Khắp thành Hà Nội hỏi rằng đâu hơn
Củ đậu Bằng Thượng thiếu gì
Dưa hấu Bằng Hạ đâu bì được chăng.

243. Thanh Trì có bánh cuốn ngon
Có gò Ngũ Nhạc có con sông Hồng
Thanh Trì cảnh đẹp người đông
Có cây sáo trúc bên đồng lúa xanh.

244. Làng Đam bán mắm tôm xanh
Làng Họa đan dó, làng Tranh quay guồng
Đông Phù cắp thúng đi buôn
Đông Trạch bán thịt, làng Om văn thừng
Tương Trúc thì giỏi buôn sừng
Tự Khoát đan thúng, Vẹt từng làm quan.

245. Làng Đam thì bán mắm tôm
Làng Họa đan dó, làng Om quấn thừng
Tương Trúc làm nghề lược sừng
Tự Khoát đan thúng, Vĩnh Trung làm giành.

246. Nôi Am là chính quê em
Bện thừng, đẽo guốc đã quen lắm rồi
Lại còn nổi tiếng khắp nơi
Làm bánh mứt kẹo ăn chơi tết, rằm.

247. Đất ta là đất làm thừng
Trăm chắp nghìn nối xin đừng quên nhau.

248. Đẹp nhất con gái làng Tranh
Chua ngoa Kẻ Nhót, ba vành Kẻ Om.

249. Quê hương nghĩa nặng tình sâu
Thấy hoa gạo đỏ rủ nhau cùng về.

250. Anh về Hạ Thái, Đông Phù
Ghé vô Bình Vọng thì cho em về
Xa xôi đường sá chẳng nề
Yêu anh tài sắc vì nghề thợ sơn.

251. Đông Phù có sông Tô Lịch
Có con người lịch họa phượng, họa rồng
Yêu nhau chẳng quản đèo bòng
Cách mười sông, chín núi cũng một lòng theo anh.

252. Ai về chợ Nhót mua tranh
Mua hàng quả hộp, mua hoành sơn son
Mua con người lịch đẹp giòn
Múa tay thảo nét trúc vờn, điều bay.

253. Trèo lên cây gạo cao cao
Lệ cheo làng Nhót độ bao nhiêu tiền?
Cheo thời có bảy quan hai
Lệ làng khảo rể trăm hai mươi vồ.
Thôi thôi tôi giã ơn cô
Tiền cheo cũng nặng, trăm vồ cũng đau.

254. Em còn đi cấy làm chi
Có nón có áo cắp đi theo thuyền
Ông trời đã kết nhân duyên
Em ơi về Hữu xuống thuyền với anh.

255. Nhuệ giang nước chảy quanh co
Nào ai xuôi ngược con đò em đưa

256. Nhất ngon là mía Lam Điền
Trai khôn kẻ Tó, gái hiền Từ Trung

257. Em là con gái Kẻ Ngâu
Em đi buôn chỉ dãi dầu sớm hôm
Cái khăn vuông thâm nửa đội, nửa cầm
Khăn đội rơi mất, khăn thân lập lờ
Anh ơi nhặt giúp em nhờ
Công anh nhặt giúp bao giờ cho quên
Anh quên, em chẳng cho quên
Anh nhớ, em nhớ mới nên vợ chồng.

258. Bún ngon bún mát Tứ Kỳ
Pháp Vân cua ốc đồn thì chẳng ngoa.

259. Muốn ăn chiêm quýt mùa ri
Đem con mà gả nhân nghì Huỳnh Cung.

260. Yên Ngưu đất thực là ương
Kẻ nấu rượu lậu, người tương đó mà.

261. Rượu ngon xưa vốn nghề nhà
Hoàng Mai, Vọng Thủy không qua rượu Vồi.

262. Em là con gái Kẻ Mơ
Em đi bán rượu tình cờ gặp anh
Rượu ngon chẳng quản be sành
áo rách khéo vá hơn lành vụng may
Rượu lạt uống lắm cũng say
Người khôn nói lắm hết hay hóa nhàm.

263. Làng Mui thì bán củi đồng
Nam Dư mía mật giầu lòng ăn chơi
Thanh Trì buôn bán mọi nơi
Đồng Nhân, Thúy ái là nơi chăn tằm
Làng Mơ thì bán rượu tăm
Sở Lờ cua ốc quanh năm đủ đời.

264. Sở Mui chẳng khác Sở Lờ
Quanh năm cua ốc, be bờ, đắp mương
Sống ngâm thịt chết ngâm xương
Trời ơi có biết trăm đường cực không!

265. Kẻ Mui anh đã biết chưa
Đàn ông vác nặng be bờ, đắp truông
Mẹ em đẻ em trong buồng
Về sau em lớn quay guồng ươm tơ.

266. Huyện Thanh Trì kia làng Thịnh Liệt
Đồn cá rô Đầm Sét là ngon
Bấy lâu cạn nước trơ bùn
Biết rằng hương vị có còn như xưa.

267. Nhất trong là nước giếng Hồi
Nhất béo nhất bùi cá rô Đầm Sét.

268. Kẻ chơi một huyện Thanh ?Trì
Mọc thì gạo xáo, Láng thì trồng rau
Đình Gừng bán cá đội đầu
Định Công đan gối, Lủ Cầu bánh trong.

269. Mỗi năm vào dịp xuân sang
Em về Triều Khúc xem làng hội xuân
Múa cờ, múa trống, múa lân
Nhớ ai trong hội có lần gọi em...

270. ở giữa Văn Quán, Phùng Khoang
Có làng công nghệ là làng Đơ Thao
Tơ thanh, sợi óng, chỉ màu
Nón thúng đã đẹp, quai thao lại bền.

271. Ai mang chiếc nón quai thao
Để anh thương nhớ ra vào khôn nguôi.

272. Nón em đang đội trên đầu
Anh mà giật mất dạ sầu em thay
Lấy gì mà đội hôm nay
Anh mua nón khác, nón này em xin
Nón em chả đáng đồng tiền
Chưa kết được bạn chưa yên cửa nhà
Nón em mua ở tỉnh xa
Mua ở Hà Nội quan ba mươi đồng
Trở về gặp khách má hồng
Sao anh ăn ở ra lòng thờ ơ
Mua nón, em phải mua tua
Nón này thày mẹ em mua rành rành
Nhẽ đâu em để cho anh
Về nhà mẹ mắng, em đành bảo sao.

273. Nón này Hà Nội làm ra
Mang lên tỉnh Bắc thêu hoa rõ ràng
Vợ chồng đồng tịch đồng sàng
Mà chàng bắt nón em ngang giữa đường
Để mà nắng gió hôm nay
Má hồng em nhạt thế này chàng ơi
Bây giờ chàng giả nón tôi
Tôi đội cái nón che đôi má hồng
Bao giờ kết nghĩa vợ chồng
Thì chàng lại được má hồng tốt tươi.

274. Nghĩ cảnh sống làng ta mà chán
Nợ bề bề, ruộng bán không trôi
Năm nay tết đến nơi rồi
Chủ Hàng Bồ sắp cho người về thăm
Người năm chục kẻ một trăm
Bấm tay nợ phải đến dăm ba nghìn...

275. Làng tôi công nghệ đâu bằng
Là làng Triều Khúc ở gần Thanh Xuân
Quai thao tết khéo vô ngần
Là nghề của Vũ sứ thần dạy cho
Tóc rối, lông vịt, mã cò
Bán ra ngoại quốc cũng to mối lời
Khăn san kiểu lối tân thời
Cấy tua chân chỉ mọi người đều tinh
Tua cờ nhà đạo, nhà binh
Bán ra Hà Nội, Huế, Vinh, Sài Gòn
Chân chỉ hạt bột y môn
Chỉ tơ, chỉ gốc, lại còn chỉ thêu
Dây đàn, dây rút thật nhiều
Chỉ quả chữ thọ có điều tinh thông
Khéo thay những dải kim tòng
Được bằng thưởng nhất Hà Đông bảo tàng
Phu-la, tơ lụa, đăng ten,
Tiêu thụ các xứ bán buôn thật nhiều
Buồng chơi dùng đệm lông cừu
Hỏi thăm Triều Khúc có nhiều tài hoa
Thắng đai ngựa, chổi lông gà
Thắt lưng, khăn mặt người ta thường dùng
Len đan mũ trẻ ít công
“Tích-cô” dệt máy dùng trong mùa hè
Hoa bằng lông vịt mới kỳ
Giỏ đựng ấm tích bằng tre khéo làm
Nghề kẹo mạ, thợ kim hoàn
Nghề nào cũng giỏi khôn ngoan ai tày
Quai úi dết, sợi giày tây
Vẽ tranh sơn thủy dùng bày phòng chơi
Hơn ba mươi nghệ tân thời
Sĩ, nông, công, cổ mọi người đều hay
Nghề nào cũng khéo chân tay
Nhất thân vinh hiển buổi này cạnh tranh
Đơ thao Triều Khúc rành rành
Tiếng khen công nghệ nổi danh Bắc Kỳ.

276. Ai về Yên Xá thì về
Có ao tắm mát có nghề thêu ren

277. Mấy ông quan huyện Thanh Trì
Khéo khôn: mỡ lấy, xương bì ông không
Lỗ lãi ông đắn sâu nông
Được lời ông lấy, lỗ không thèm nhìn
Kiện cáo vài lạng làm tin
Của cải ông vét ông tìm ở đâu...

278. Ông quan ở huyện Thanh Trì
Miếng mỡ thì lấy, miếng bì thì chê.

279. Gia Lâm có đất Cổ Bi
Muôn đời cảnh đẹp còn ghi rành rành
Chín mươi chín núi chung quanh
ở giữa hồ tả, bên thành hồ sen
Cửa tả, cửa hữu, cửa tiền
Ngũ hồ, tam đảo ở trên Trầu Quỳ
Cầu Lòn đường cái quan đi
Hậu miếu, hậu phủ còn ghi rõ truyền
Này điện Cần Chánh, Kính Thiên
Voi đá, sấu đá hai bên sân rồng
Lại thêm hổ đá ngự phòng
Đủ nền dinh thự khắp trong nội thành
Tương truyền đây đất đế kinh
Bao nhiêu cảnh đẹp lừng danh trong ngoài.

280. Trên trời có đám mây xanh
ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Có rửa thì rửa chân tay
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh.

281. Hồ sen xây gạch Bát Tràng
Phòng khi nóng nực thiếp chàng nghỉ ngơi.

282. Xưa kia mộc mạc mao từ
Nay thời ngói lợp chu vi trang hoàng
Xưa kia tre trúc tầm thường
Nay thời tứ thiết vững vàng biết bao
Bát Tràng có mái đình cong.

283. Giang Cao buôn gạo chợ Keo
Buôn khoai chợ Nhiễm bán rao đường làng
Ngày ngày cắp thúng lên đàng
Kiếm củi rồi mót khoai lang đem về.

284. Giao Tự lắm bãi nhiều soi
Lắm con gái đẹp nhiều nơi phải lòng
Giao Tự gần giếng, gần sông
Nước trong tắm mát má hồng thêm xinh.

285. Tay cầm bán nguyệt xênh xang
Một thăm thức cỏ lai hàng tay ta.

286. Trời mưa róc rách bãi cây
Cá rô rạch ngược cá ngày lên hương
Đừng thấy chúng bạn coi thường
Dân đất Hàn Lạc chẳng phường ăn chơi
Thông manh đứng lại mà coi
Kìa như châu chấu đá voi gãy ngà.
Trăm năm nơi đất phù sa
Lấy gì mà được vinh hoa bằng người
Bực mình chẳng được ăn chơi
Trăm năm vẫn chịu là người lầm than
Chị đây vốn thực đất Hàn
Quanh năm có được vinh hàn gì đâu.

287. Nhớ ngày hăm ba tháng ba
Dân trại ta vượt Nhị Hà thăm quê
Kinh quán, cựu quán đề huề
Hồ Tây cá nhảy đi về trong mây

288. Trung Màu chuột nhắt xáo dưa
Kỳ Lân nấu cháo cả cua lẫn càng
Đổng Viên mặc ục khoai lang
Phù Đổng cơm tấm giần sàng khỏe ghê
Đổng Xuyên mỗi người mỗi nghề
Lớn thì đánh xiếc, bé thì mò tôm
Phù Dực đi bán vải non
Chửa đi đến chợ mía don đầy lồng
Tấm gốc, tấm ngọn phần chồng
Còn bao tấm giữa để vào lòng mà ăn.
Công Đình cưa xẻ đã quen
Tế Xuyên bắt rẽ lấy tiền mua nhiêu...
Nhân Lễ thì đúc lưỡi cày
To Khê Viên Ngoại thì hay hàn nồi
Xa Long lắm chuối mình ơi
Phù Ninh dệt vải người người thâu đêm.

289. Bao giờ mồng sáu tháng ba
Để làng mở hội em ra lấy chồng.

290. Mồng sáu đi hội Bồ Đề
Mồng bảy trở về đi hội Đống cao

291.Dù ai đi ở nơi đâu
Tháng giêng mười tám bảo nhau mà về
Dù ai lâu đã xa quê
Nhớ lấy mà về mười tám tháng giêng.

292. Dù ai bốc thuốc nơi đâu
Tháng giêng mười tám rủ nhau mà về.
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày lễ hội thì về quê hương

293. Chăm sao cho lá dâu dày
Để khi kéo kén cho đầy nong tơ
Dâu non em để tằm tơ
Dâu già đến cữ em chờ tằm khôn
đã mang lấy cái thân tằm
Không vuơng tơ nữa vẫn nằm trong tơ.

294. Chợ Keo ngày một, ngày ba
Ngày sáu, ngày tám quả là vui chưa
Hôm nay sau buổi chợ trưa
Người bán đã đoạn người mua đã rồi
Con sông Thiên Đức hẹp hòi
Làm sao cho nước trên thoi đổ về.

295. Chợ Keo một tháng mười hai phiên
Gặp cô hàng xóm kết duyên vừa rồi
Gánh hàng em những quế cùng hồi
Có mẹt bồ kết lại nồi phèn chua
Bó nhang thơm xếp ở cạnh bồ
Táo tầu, ý nhĩ, sài hồ, hoắc hương
ống diêm đánh lửa cho chàng
Lược thưa, ống thuốc em mang cạnh lòng
Phẩm lam, phẩm lục, phẩm hồng
Bao kim, gói cúc, chín đồng lưỡi câu.

296. Chợ Gióng một tháng sáu phiên
Bắt cô hàng xén kết duyên châu trần
Xa xôi dịch lại cho gần
Cách sông cách núi cũng lần cũng sang
Người ơi tôi dặn người rằng
Đâu hơn hãy lấy, đâu bằng đợi tôi.

297. Tục truyền mồng tám tháng tư
Không xem hội Gióng cũng hư một đời.

298. Ai ơi mồng chín tháng tư
Không đi hội Gióng cũng hư mất đời

299. Hàng năm cứ tháng tư mồng chín
Hội Gióng là nức tiếng khắp nơi
Nước Nam các tỉnh trong ngoài
Gần xa nô nức mọi người đến xem
Xã Phù Đổng sơn xuyên anh đục
Dãy núi Hằng, sông Đức tứ chung
Vườn hoa vạn cổ anh phong
Là nơi cố trạch, anh hùng giáng sinh
Ngôi miếu đền uy linh rạng rỡ
Đủ tứ thời hương lửa phụng thờ
Nguy nga lầu các sùng tu
Danh lam thắng cảnh từ xưa lưu truyền
Thánh chính vị ngự trên long giá
Địa thế bên giếng đá mắt rồng
Kiểu đền ngoại quốc, nội công
Trước hồ thủy tạ linh lung huy hoàng
Ngũ môn, lầu linh quang tuấn nhạc
Thạch long kiều thủy các chầu ra
Xung quanh cổ thụ rườm rà...
Lâu đài sầm uất thực là tối linh
Những ngày hội linh đình rước tế
Khách các nơi đến lễ rất đông
Trầm hương nghi ngút xa trông
Cuộn bay từng đám như rồng khói tuôn
Giữ thiên địa trường tồn bất diệt
Rõ “chí kim vi liệt” không sai
Vốn là hiển thánh trong ngoài
“Bách thần nguyên tự” rực trời uy nghi
“Đại nhi hóa” lưu kỳ phụng sự
“Thiên thượng thần” ba chữ môn lâu
Hội từ mồng một bắt đầu
Thi kèn thi trống mọi màu bách công
Ngày mồng năm tập trung phù giá
Như tập quân chuẩn bị chiến công
Chỉ huy xướng xuất tiên phong
Cờ nào đội ấy phân công chỉnh tề
Ngày mồng sáu hành nghi rước nước
Đôi chum ngô bày trước án son
Cửa đền Mẫu có giếng tròn
Rước từ giếng ấy nghiêm tôn về đền
Ngày mồng bảy thiên thanh minh tú
Sáng rước cờ, rước cỗ, rước văn
Trưa phù giá tập binh quân
Tập ngoài trong tế, suốt tuần tế trưa
Chiều phù giá đi đưa về đón
Đi khám đường kéo đến ải môn
Ba cây số Đổng Viên thôn
Xứ đồng cửa ải, tiếng còn lưu danh
Ngày mồng tám tuyển binh, kén tướng
Bày hai mươi tám tướng nữ nhân
Tướng nào là tướng giặc Ân
Cơ nào đội ấy, đai cân chỉnh tề
Ngày mồng chín hành nghi chính hội
Đúng buổi trưa kéo tới Đổng Viên
Roi rồng áo đỏ, áo đen
Hiệu cờ chiêng trống loa kèn nhạc âm
Hiệu hàng dăng trung quân tiểu cổ.
Phường ải Lao áo hổ đi theo
Là phường Tùng choặc cờ mao
Người bên Hội Xá năm nào cũng sang
Đoàn phù giá xếp hàng lần lượt
Vác biển cờ, tàn quạt tiêu dao
Người mang lồng mũ, áo bào
Vừa reo vừa chạy ào ào ầm vang
Xa nghe tiếng nhạc vàng rung động
Xướng suất cầm kẻng trống trong vòng
Xe long giá kéo thẳng dong
Đến nơi giá ngự hợp đồng phụng nghi
Các hiệu đi bao vi nữ tướng
Quay trở về bái vọng ngự tiền
Điểm ba tiếng trống tiên nghiêm
Nối theo chiêng trống nổi lên ba hồi
Mở miếu cờ tung trời đỏ chói
Ngũ sắc bay phấp phới bướm ra
Trên trời có đám mây sa
Hiệu cờ quỳ xuống phất ba ván liền
Gạt ba lần bắt đàn cướp chiếu
Phất cờ xong hội kéo về đền
Khao quân thưởng tướng yến diên
Phù giá xướng suất sân đền hạ công
Đang cuộc vui chưa xong tiệc yến
Lại vội vàng kéo đến Soi Bia
Hội bày như buổi ban trưa
Lại phất ba ván dựng cờ thành công
Hội kéo về vừa xong gần tối
Bắt giặc Ân rong ruổi theo sau
Bắt hai thủ tướng vào chầu
Tướng đốc, tướng ngựa hai đầu quân binh
Gươm thần đứng rạch phanh cưởi áo
Vung gươm lên gạt tháo mũ ra
Giả chặt đầu với lột da
Giả hình hai tướng ý là giặc tan.
Ngày mồng mười nghi loan rước tướng
Dâng vàng vào tiến cống xin hàng
Truyền cho các tướng tọa an
Ban cho tiệc yến hoàn toàn hồi quy
Ngày mười một hành nghi rước nước
Lại rước như kỳ trước nghiêm trang
Giặc Ân cờ trắng đầu hàng
Ngày mười hai hội biểu dương khám cờ
Ngày nào cũng tuồng ca vũ nhạc
Tối đuốc bông sáng quắc góc trời
Lại còn mở các trò vui
Sân cờ Đế Thích, đua tài vật thi
Các ông hiệu được đi phụng sự
Lòng trai thành ăn ngủ ở đền
Dãy nhà hiệu cạnh ba gian
Chỗ ngồi lịch sự bằng tiên trên trần
Khi hành hội đai cân áo mũ
Dàn hai bên có đủ gươm hèo
Roi rồng, tay thước, kiếm đeo
Hiệu cờ bốn lọng còn đều là hai
Hội Gióng này trưng bày buổi trước
Có giặc Ân chiếm nước Nam ta
Hùng Vương thứ sáu đời qua
Bốn ngàn năm kể hơn thừa đến nay
Thánh giúp nước ra tay giết giặc
Thanh gươm vàng, ngựa sắt, áo nhung
Lên ba tuổi, rõ anh hùng
Dẹp xong giặc biến lên không lạ thường
Linh sơn núi đằng không di tích
áp nhung treo, ngựa sắt, dấu tiên
Xã Phù Đổng dựng miếu đền
Hàng năm mở hội lưu truyền công ơn.

300. Muỗi nào chui lọt mùng quây
Mối nào xông được mỏ chày kim cương
Chúng em bé nhỏ chưa tường
Vốn anh khi trước cũng phường ải Lao
Ải Lao ta tập đã lâu
Tốn cơm, tốn áo, tốn dầu mẹ cha.
ở gần hay là ở xa
Cách phủ, cách huyện hay là cách sông
Xa xôi cách mấy quãng đồng
Để anh bỏ việc, bỏ công đi tìm.

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  02:41:11  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
301. Thứ nhất Hội Gióng, Hội Dâu
Thứ nhì Hội Bưởi, Hội Vó chẳng đâu vui bằng.

302. Nhớ xưa đương thuở triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nẩy ra kỳ tài
Lên ba đang tuổi anh hài
Roi ngã ngựa sắt ra oai trận tiền
Một phen khói lửa dẹp yên
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời.

303. Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương
Ân sai hăm tám tướng cường nữ nhung
Xâm cương cậy thế khỏe hùng
Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh
Trời cho thánh tướng giáng sinh
Giáng về Phù Đổng ẩn hình hai hay
Mới lên ba tuổi thơ ngây
Thấy vua cầu tướng ngày rầy ra quân
Gọi sứ phán bảo ân cần
Gươm vàng, ngựa sắt đề binh tức thì
Thánh vương khi ấy ra uy
Nửa ngày sấm sét, tứ bề giặc tan
áo thiêng gửi lại Linh San
Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiên
Miếu đền còn dấu có viên
Sử xanh bia đá tiếng truyền tự xưa.

304. Nhớ xưa thứ sáu đời Hùng
Giặc Ân sang chiếm cả vùng Vũ Ninh
Chúng nó có Thạch Linh thần tướng
Dạ hung tàn chúng nướng dân đen
Vua Hùng sai sứ một phen
Về làng Phù Đổng thuộc miền Tiên Du
Thánh sai gọi sứ vua vào báo:
Họp thợ rào rèn nấu ngựa, roi
Ngựa, roi, áo sắt đúc rồi
Ra oai một trận tơi bời giặc Ân.
Công Thánh đã cứu dân, cứu nước
Con cúc cung đứng trước đền vàng
Lòng thành chén rượu, uần nhang
Cầu xin rộng lượng Thánh ban phúc lành

305. Trò lên cây gạo cao cao
Bước xuống hội Gióng vui sao vui vầy
Giáo gươm cờ xí trùng trùng
Hằng năm mở hội tưng bừng vui thay
Nhớ xưa Thánh Gióng tích rày
Uy phong rạng rỡ đến nay còn truyền.

306. Giáo gươm cờ quạt tưng bừng
Nhác trông uy vũ tưởng chừng năm xưa
Anh hùng trí dũng có thừa
Sử vàng bia đá bây giờ là đây
Non xanh nước biếc sánh tày
Danh thơm Phù Đổng xưa nay tiếng truyền.

307. Lịch triều có sắc truy phong
Tiếng tăm lừng lẫy khắp trong nước nhà
Trước nơi đinh vũ nguy nga
Muôn dân kính chúc hương hoa kính thành
Đời đời nổi tiếng anh linh
Tùy dân hộ quốc uy danh rõ ràng
Cúi đầu lạy đức Thiên Vương
Nghìn thu sông Nguyệt, non Thường ghi công.

308. Dạo chơi non nước Vệ Linh
Phong cảnh hữu tình để nhớ cho ai
Ngàn tây có dải núi Dài
Có con sông Khốn chảy ngoài nẻo đông

309. Tháng Giêng giỗ Thánh Sóc Sơn
Tháng ba giỗ tổ Hùng Vương nhớ về.

310. Bàn Cờ, Trảm Tướng, Cao Tung
Mũi Cày, Đụn Rạ, trùng trùng non cao
Sóc Sơn là ngọn núi nào
Có ông Thánh Gióng bay vào trời xanh
Sông Cà Lồ phía Nam quanh
Uốn quanh trăm khúc như tình đôi ta.

311. Nhớ thuở có loạn Tống binh
Đức vua ngự giá thân chinh về làng
Cửa nhà giặc đốt tan hoang
Lợn bò giặc bắt, đường làng vắng tanh
Người người cầu khấn thánh linh
Có Thánh Phù Đổng hiện hình cứu dân
Đôi bên giáp trận ầm ầm
Đầu rơi kín đất, máu đầm cỏ cây.
Gươm khua, ngựa xéo, voi giày
Giặc như kiến cỏ chúng quay ra hàng
Đức vua ngự giá hồi loan
Đổi tên Bình Lỗ cho làng Vệ Linh
Khao quân mở tiệc linh đình
Tạ từ Thánh Sóc hiển linh giúp vầy
Dựng đền, tạc tượng vào đây
Truyền sai dân chúng tháng ngày khói hương.

312. Văn Lang sạch bóng giặc Ân
Nơi đây Thánh Gióng dừng chân gội đầu
Cổ xưa truyền lại có câu
Vùng quê lấy Sọ làm đầu vẻ vang
Nước trong, trong mát như gương
Cổ giếng ghi tích lưu truyền mai sau
Hằng năm rưới nước gội đầu
Dâng lên Thánh Gióng bấy lâu tôn thờ.

313. Rủ nhau lên núi Mũi Cày
Xem bàn cờ Thánh, xem cây ngô đồng.

314. Núi Sóc ai đắp nên cao
Ngã ba Sà sông ấy ai đào mà sâu?

315. Thôi thôi từ tạ bạn vàng
Cá lui về sông Nguyệt Đức, chim ngược ngàn non Tây.

316. Mặt trời nửa đỏ nửa vàng
Khuyên em về Kẻ Sải ăn dưa gang với mình.

317. Đất Phú Mỹ, chữ Mỹ là đẹp
Đất Đa Lộc, chữ Lộc là giàu
Em đến đây muốn cho đẹp trước giàu sau
Lửa hương càng đượm, càng lâu, càng bền.

318. Tiếc thay con chim phượng hoàng còn dại chưa khôn.
Núi Vệ Linh chẳng đậu, lại đậu ngàn cỏ may.

319. Ba Biều chí dũng gan liền
Tả xung hữu đột, trận tiền chỉ huy
Đạn của giặc tứ vi bắn lại
Biều chẳng may bị phải trọng thương
Khen thay khí tiết kiên cường
Trước khi tắt thở khẩn trương dặn dò:
Khuyên đồng đội đánh cho quyết liệt
Dẫu hy sinh tử tiết không hàng
Dặn xong xuống cõi suối vàng
Nghĩa quân thương tiếc hai hàng châu sa.

320. Tòi mòi, chín đỏ chín đen
Con gái Minh Phú hay ăn tòi mòi
Nước sông đổ lẫn nước ngòi
Con gái Minh Phú cầm roi dạy chồng.

321. Ai về thăm huyện Đông Anh
Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương
Cổ Loa hình ốc khác thường
Ngàn năm dấu vết chiến trường còn đây.

322. Ai về qua huyện Đông Anh
Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương
Cổ Loa thành ốc khác thường
Trải bao năm tháng nẻo đường còn đây.

323. Ai về qua huyện Đông Ngàn
Ghé thăm thành ốc rùa vàng tiên xây
Căm hờn Giếng Ngọc tràn đầy
Máu pha thành lũy, ngàn cây bóng tà.

324. Cổ Loa là đất đế kinh
Trông ra lại thấy tòa thành tiên xây.

325. Thứ nhất là hội Cổ Loa
Thứ nhì hội Gióng, thứ ba hội Tràm.

326. Bao giờ lấp ngã ba Chanh
Để ta gánh đá xây thành Cổ Loa.

327. Sinh ra trên tổng Đông Ngàn
Không ham vật võ khó làm thân trai.

328. Ai về Đào Xá vui thay
Xóm Bắc có Chợ, xóm Tây có chùa
Xóm Đông có miếu thờ vua
Xóm Nam có bến đò đưa dập dìu.

329. Đồn rằng chợ Bỏi vui thay
Đằng đông có miếu, đằng tây có chùa
Giữa chợ lại có đền thờ
Dưới sông nước chảy đò đưa dập dìu.

330. Nước Đào Thục vừa trong vừa mát
Đường Đào Thục bốn góc bàn cờ
Đẹp hơn phường phố kinh đô
Đẹp như một bức bản đồ trong tranh.

331. Đánh giặc thì đánh qua sông
Đừng đánh qua đồng nát lúa người ta
Đánh giặc thì đánh qua Sà
Đừng đánh qua Nhội nát nhà Kẻ Giâm.

332. Đông Đồ là Đông Đồ Đoài
Ăn cơm thì ít, ăn khoai thì nhiều.

333. Cơm nắm ăn với muối vừng
Lấy chồng Hà Thiết xin đừng chê đen
Một năm ba cái lụt liền
Lấy gì làm thú giải phiền chàng ơi!

324. Còn ai đem bỏ chùa này
Nam mô Di phật, con thày, thày thương

325. Trách người quân tử bạc tình
Chơi hoa lại nỡ bẻ cành bán rao.

326. Tiếc thay hạt gạo trắng ngần
Đã vo nước đục lại vần than rơm.

337. Lạy trời cho cả gió lên
Cho cờ vua Bình Định bay trên kinh thành.

338. Nhong nhong ngựa Ông đã về
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa Ông ăn.

339. Chàng về Hồ, thiếp cũng về Hồ
Chàng về Hồ Hán, thiếp về Hồ Tây.

340. Chỉ vì có bà chúa Tây
Để cho kẻ Dựa mang dây buộc đùm.

341. Trạng chết Chúa cũng băng hà
Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ chôn.

342. Hễ ai mà nói dối ai
Tối ba mươi tết Ba Giai vào nhà.

343. Đục cùn thì giữ lấy Tông
Đục long Cán gẫy còn mong nỗi gì!

344. Sự đời chỉ tại Bà chúa Chè
Cho nước Chúa mất, cho nghè làng xiêu.

345. Kẻ nào có tội mấy đời
Ra đường gặp phải cậu Trời bắt đi.

346. Cậu Ba kẻ Gióng kia ơi
Sao chẳng ở lại mà chơi kinh kỳ.

347. Trăm quan có mắt như mờ
Để cho Huy Quận vào sờ chánh cung.

348. Đống Đa ghi để lại đây
Bên kia Thanh Miếu bên này Bộc Am.

349. Quý Tị giữa ngày mồng Năm
Giờ Dần chính nguyệt ầm ầm huyên hoa
Một chi đánh ở Đống Đa
Cầu Duệ kéo xuống, tốt xa muôn phần
Phép voi bại trận tiên phong
Cầu Tương sụt cả xuống sông Bồ Đề
Đao binh tử trận đầy khe
Dọc đường giáo mác nằm kề năm năm
Điền Châu Thái thú đảm đương
Liều mình tử trận chiến trường nên công
Trận vây ở trong Nam Đồng
Rạng ngày mồng Sáu cờ dong lai hàng
Vua ban sứ bộ tiếp sang
Quan tài phong kín đón đường kéo ra
Con con cháu cháu hằng hà
Mừng lấy được xác Điền Châu đem về
Tướng tài can đảm cũng ghê
Làm đền phụng sự tức thì Đống Đa.

350. Quận ông đã tiến về đây
Quận Cồ nức tiếng đông tây khắp vùng

351. Đời vua Thánh Tổ, Thánh Tông
Cơm nguội đầy nổi trẻ chả buồn ăn.

352. Ung dung gậy trúc chống đi
áo chùng chấm gót, mũ ni che đầu
Cụ ơi, cụ sắp đi đâu?
Ra đình Yến lão tiệc chầu vua ban
Cháu ơi, cháu chơi cho ngoan
Cụ về có gói phần ban chia đều
Ơn vua ít cũng như nhiều.

353. Long Thành bao quản gió mưa
Cửa Ô Quan Chưởng bây giờ còn đây.

354. Bao giờ lúa mọc trên chì
Voi đi trên giấy, Tây thì về Tây.

355. Tầu cười, Tây bước, Nhật lo
Việt Nam độc lập chết co đầy đường.

356. Ba con đổi lấy một cha
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền.

357. Con ơi đừng khóc mẹ sầu
Cha con đốt lửa dưới tàu Long Môn
Bao giờ con lớn con khôn
Thì con lại xuống Long Môn con làm
Làm việc từ sáng đến đêm
Máu say vì lửa, mặt hoen than dầu.

358. Nghĩ xem cái nước Nam mình
Tây sang bảo hộ tài tình đến đâu?
Nghĩ xem tiền của ở đâu
Đưa ra mà bắc được cầu qua sông
Chả hay tiền của của chung
Đưa ra mà bắc qua sông Bồ Đề
Bắc cho thiện hạ đi về
Những cột dây thép khác gì nhện chăng
Tưởng rằng anh Pháp nghĩa nhân
Chả hay lấy của dân Nam làm giàu
Tưởng rằng bảo hộ cho nhau
Chả hay đánh mắng ra màn coi khinh
Cũng giang sơn cũng triều đình
Thế mà nước mất dân tình lầm than
Lo sưu, lo thuế đã cam
Nay kinh, mai lính, gian nan mịt mù
Dân thì phải thợ, phải thu
Tỉnh thành đặt chốn lao tù cấm ngăn
Một năm biết mấy lần liền
Nay thuế quốc trái, mai thu quốc phòng
Những quân vui thú nức lòng
Đua nhau ăn bẩn như muông khác gì...
Nước khô rồi nước lại hồi
Còn trời, còn đất, còn nòi giống ta.

359. Cầu sắt mà bắc ngang sông
Chàng ơi sang tỉnh mà trông chẳng lầm
Hà Nội bắc sang Gia Lâm
Tính cây lô mét độ năm cây tròn
Họa hình Tây bắc ống nhòm
Ngắm đi ngắm lại xem còn cong không
Giở về hội nghị cộng đồng
Đến năm Mậu Tuất khởi công bắc cầu
Mộ phu khắp cả đâu đâu
Xây từ ái Mộ bắt đầu xây ra
Bắc qua con sông Nhị Hà
Chia khoang làm nhịp, mười ba cột vừa
Lập mưu xây được bây giờ
Chế ra cái chụp để mà bơm lên
Bơm hết nước đến bùn đen
Người chết như rạ vẫn phải len mình vào
Vỡ bơm nước lại chảy vào
Chết thì mặc chết ai nào biết không
Mỗi giờ thuê có một đồng
Xi măng với đá, dây dòng xuống xây

Đóng phà, đóng cột, cắm cây
Xây trên buông xuống thành ngay chân cầu

Bây giờ đục sắt bắc cầu
Cột ngang, cột dọc, đường tàu song song
Bắc từ Dốc Gạch bắc sang
Chính giữa đường sắt làm đường tàu đi
Đôi bên nhịp sắt chữ chi
Bên đi, bên lại chớ hề gặp nhau
Còn hai bên cạnh rìa cầu
Sắt chằng hoa thị đi cầu không kinh
Hai vì đèn máy sáng tinh
Ai đi đến đấy có xinh chăng là
Kẻ đi người lại hằng hà
Mưu kia nào kiệt tính đà cũng thông
Bề khoát tàu chạy bên trong
Khoát vừa ba thước đủ dùng không hơn
Đường ô-tô chạy rập rờn
Cũng khoát thước rưỡi đường trơn phẳng lì
Còn đường của An Nam đi
Khoát hơn nửa thước vậy thì tính sao
Bây giờ kể đến bề cao
Cao hơn mười thước ai nào biết không
Làm xong Tây tính tiền công
Lập mưu, lập kế trả công chẳng rành
Chế ra giấy bạc dâu xanh
Trừ tiền giấy bút hết toanh dăm đồng
Tiền công chẳng đáng tiền công
Kẻ còn, người mất mà lòng xót thay!
Hội cầu năm ấy vui vầy
Nhớ ngày hăm mốt tháng hai, công hoàn.

360. Hôm nay thứ sáu mình ơi
Ngày mai thứ bảy phiên tôi lục xì.

361. Hôm nay thứ bảy mình ơi
Ngày mai chủ nhật đi chơi Bờ Hồ.

362. Có tiền xuống xóm K.T.
Khao nhau chầu hát, sướng mê mẩn đời
Đốc Sao, nhà ấy mà chơi
ả đào xinh đẹp, lại người hát hay.

363. Tối thì đẹp tựa tiên sa
Ngày nom rũ rượi như gà phải mưa
Báu gì hương chạ hoa thừa
Chẳng thà chẵn lẻ Hai Cua cho rồi.

364. Quan viên ba bẩy quan viên
Chém cha cái loại lấy tiền vung văng
Cầm chầu roi trống vụt sằng
Say tỉnh nhập nhằng, rờ mó hơn ma.

365. Đừng mê ăn trắng mặc trơn
Lầu xanh gác đỏ cung đờn nhớp tai
Tim lam xắng téng, giang mai
Bùn tanh Cống Trắng chừa ai bao giờ.

366. Nước Liên Hoa chảy ra Cống Trắng
Khói ả phiền lẵng nhẵng theo sau
Đầu quan gối vể ả đào
Ro ro dọc tẩu áp vào môi thâm.

367. Anh ơi trời đã nhá nhem
Đừng qua lối xóm Khâm Thiên rách quần.

368. Canh khuya nghe khúc Tì Bà
Tửng tưng đàn đáy, tim già cũng tung.

369. Nửa đêm xenh phách đổ rền
Hà Đông sư tử gầm lên phốc vào
Quan ông râu vểnh bên đào
Dúm co bốn cẳng bổ nhao ra đường.

370. Đài Khâm Thiên giám ở đâu
Đến đây chỉ thấy cô đầu hóng quan.

371. Cô đầu, cô đít, cô đuôi
Bố tôi sạt nghiệp ai nuôi cô đầu

372. Trên trời có ông sau dâu
Hạ giới cô đầu có cái lưỡi gà con
Nhà nho có cái đục cùn.

373. Chị dại đã có em khôn
Lẽ đâu mang giỏ thủng chôn đi mò
Em khôn, em ở trong bồ
Chị dại, chị ở kinh đô mới về.
- Kinh đô thì mặc Kinh đô
Chị đi cho lắm thì đồ chị tan.

374. Kinh đô cũng có người rồ
Man di cũng có sinh đồ, trạng nguyên.

375. Em đây như chiếc chuông vàng
Trên tỉnh Hà Nội ba ngàn quân canh!
- Anh đây là lính xứ Thanh
Ra tỉnh Hà Nội, lên thành thử chuông!

376. Mình em nào hột, nào hoa
Hột vàng đeo cổ, xe nhà nghênh ngang
Mẹ em dọn chõng bán hàng
Nhặt từng đồng kẽm còn sang nỗi gì
Mà em bắc bậc kiêu kỳ
Thân em có đáng đồng chì hay không?

377. Thành Hà Nội năm cửa chàng ơi
Sông Nhị nước chảy phân đôi một dòng
Đôi ta chua ngọt đã từng
Thành cao, sóng mạnh cũng xin đừng quên ai.

378. Từ khi Tự Đức lên ngôi
Võ đường Thiệu Trị vỡ đôi năm liền
Mong cho thiên hạ lòng thuyền
Trong làng lại có chiếc thuyền đi qua
Vỡ từ cửa ô Yên Hoa
Nhật Tân, Quảng Bá vỡ ra Tây Hồ
Thụy Phương trôi mất mả mồ
Kẻ Vòng, kẻ Cót xôi đồ làm ăn
Kẻ Trôi, kẻ Gối, kẻ Đăm
Nước vào đến vách biết nằm nơi nao
Giời làm cả huyện lao đao
Ăn đói nhịn khát những đau ruột rà
Mong cho nước xuống nước ra
Để mà buôn bán gần xa trong đồng.
Để mà tính chuyện canh nông
Mắt nhìn dòng nước mênh mông mong hoài
Thòm thòm trống điểm canh hai
Nửa đêm gà gáy mười hai tháng thừa.

379. Giời làm sóng lở cát bay
Cho tớ bỏ thày cho mẹ bỏ con
Cửa nhà trôi mấ chẳng còn
Vợ chồng cõng bế đàn con lên chùa
Năm nay nạn nước ơn vua
Quan trên phát trẩn ở chùa Tây Phương
Giời làm một trận lỡ đường
Cho nên mới biết Tây Phương thế này
Giời làm sóng lở cát bay
Quan trên phát trẩn mỗi ngày hai ca
Đàn ông cho chí đàn bà
Rạng ngày hăm tám đi ra mà về
Quan Tuần, quan án ngồi nghĩ cũng ghê
Thuê ngay hai chiếc thuyền về đình chung
Giàu cùng, khó lại chẳng cùng
Ai ơi còn cậy anh hùng làm chi
Sinh ra nước lụt làm gì
Giàu thì bán ruộng, khó thì bán con
Nghèo thì bán cả nồi cấn lẫn lon đựng cà
Có thì bán cửa bán nhà
Nghèo bán đứa bé lấy ba bẩy hào
Em ngồi em nghĩ xôn xao
Kẻ lên Tứ Mỹ, kẻ vào Sơn Đông
Kỳ này thì vợ bỏ chồng
Chồng lại bỏ vợ kẻ Đông, người Đoài
Người thì buôn sắn, người lại buôn khoai
Người thì buôn mía dông dài quàng xiên
Gạo hơn nhưng chẳng có tiền
Cho nên phải xách tổ tiên đi cầm
Nghèo thì bán bát, bán mâm
Giàu thì đi cố, đi cầm ruộng nương
Có thì bán sập, bán giường
Đói quá bán cả giá hương, long bài
Nhà giàu tích lúa lên hai
Để cho nhà khó đến nài chẳng cho
Đến khi lúa tốt được mùa
Ruộng cạn, má úa có nhờ nhau không!
Giời làm một cạm thâm đông
Gặp cơn gió bấc sạch không làu bàu
Ai ngờ ngã bỡn mà đau
Tháng mười nước lại ở đâu mới về.

380. Con cò mày đậu cành tre
Thằng Tây bắn súng cò què một chân
Đến mai ra chợ Đồng Xuân
Chú khách mới hỏi sao chân cò què
Cò rằng cò đậu cành tre
Thằng Tây bắn phải cò quà một chân.

381. Đầu thì đội nón mõm bò
Chân đạp mặt đất, tay gò càng xe.

382. Ai đưa tôi đến chốn này
Bên kia nhà xác, bên này nhà điên.

383. Ai đưa em đến chốn này
Bên kia tòa án, bên này đề lao
Từ ngày mắc bệnh đề lao
Tin ra thì có, tin vào thì không
Mỗi ngày hai nắm cơm con
Dăm ba hạt muối đổ dồn xuống mo
Ăn xong chẳng được nói to
Hai tay cắp gáy lò dò đứng lên
Ăn xong thì xếp vào bên
Bà đầm vào điểm mới nên cơ hàn
Cửa bằng sắt, khóa bằng đồng
Ai vào cứu giúp bế bồng tôi ra.

384. Bao giờ trục mọc quanh thành
Cha con nhà Nguyễn tan tành như tro.

385. Bao giờ ngựa đá qua sông
Cha con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi.

386. Nguyễn ra rồi Nguyễn lại về
Chúa Trịnh mất nước, vua Lê hãy còn
Đầu cha lấy làm thân con
Mười bốn năm tròn, hết số thì thôi.

387. Nhất thì bộ Lại, bộ Binh
Nhì thì bộ Hộ, bộ Hình cũng xong
Thứ ba thì đến bộ Công
Nhược bằng bộ Lễ, lạy ông xin về.

388. Bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình
Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi.

389. Văn thì cửu phẩm là sang
Võ thì tứ phẩm còn mang gươm hầu.

390. Đốc Hà áo gấm áo hoa
Mẹ tôi váy đụp đã ba bốn tầng.

391. Cha đời lính tẩy, lính Tây
Hễ trông thấy gái giở ngay xì xồ
Một tháng sáu phiên chợ Đơ
Kẻ gian cũng lắm, lệ cơ cũng nhiều.

392. Nhâm Ngọ thì có sao đuôi
Đến năm Quý Mùi giặc liền phá ra
Nhà vua thân với Lang - Sa
Để Tây ăn hại trứng gà của dân.

393. Người đâu mà lại lạ đời
Con gái Hà Nội lấy người bên Tây
Tây đâu có ở đất này
Nó về nước nó khốn thay thân già.

394. Đi thì nhớ vợ cùng con
Về nhà nhớ những ba-toong ông Khàn.

395. Thuế đò, thuế chợ, thuế xia
Bây giờ Tây bắt đóng thì thuế đinh.

396. Khuyển, ưng hai gã Khải, Hoan
Theo Tây hại nước giàu sang riêng mình
Công lênh với nước mới vinh
Công lênh với giặc người khinh đời đời.

397. Từ ngày có Phú Lãng Sa
Văn minh thì ít, trăng hoa thì nhiều
Văn minh khắp cả Tây, Tầu
Ông sư cũng húi cái đầu năm xu
Văn minh khắp cả gần xa
Sư ông xe đạp, sư bà xe tay.

398. Bắc kỳ ông thống Sa-ten
Đặt thi-xe đạp cho tiên Hà Thành.

399. Chuyện đâu có chuyện lạ đời
Quan đi theo giặc bắt người lành ngay
Nghìn năm nhớ mãi nhục này
Theo Tây được thả, đánh Tây bị tù.

400. Việc đời biến đổi ai hay
Thù nay thành bạn, bạn nay ra thù
Cũng thì một cuộc tiễn đưa
Gông cùm bên nớ, lọng cờ bên ni.

401. Gớm thay thời buổi Tây, Tầu
Bỏ đường trung nghĩa, ham cầu lợi danh.

402. Chớ tham đồng bạc con cò
Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang-sa.

403. Kèn Tây đã thổi tò le
Dốc binh, đốc chiến xuống khe mà ngồi
Ông nghè, ông cống nực cười
Mới nghe tiếng súng rụng rơi cả mình.

404. Bên Tây có chiếc tàu sang
Sinh ra khố đỏ, quần vàng, áo thâm
Cho nên anh chịu âm thầm
Vai vác khẩu súng, tay cầm bình toong
Ra đi sông cạn đá mòn
Ra đi thương nhớ vợ con ở nhà
Việc Tây anh phải trẩy xa
Khi ở Hà Nội khi ra Hải Phòng
Nói ra đau đớn trong lòng
Vợ con nào biết vân mòng là đâu!

405. Năm Quý Dậu, tàu vào vừa tới
Người Bắc Kỳ rằng mới biết Tây
Rủ nhau xem sóc thâu ngày
Đem quân về đóng ở rày Trường Thi
Tờ niêm yết Ngạc-nhe An-nghiệp
“Đường giao thông tiến tiếp lại qua
Xa nghe đồn tỉnh Bắc Hà
Giặc Tàu quấy rối vậy mà đến đây”
Các quan tỉnh nghi nghi hoặc hoặc
Những bàn riêng rằng “giặc bên chân”
Tháng mười, mồng một, giờ dần
ầm ầm hạ tỉnh là lần ngày xưa
Khi ấy có Khâm thừa quan Nguyễn
Cha con đều ngộ biến thất cơ
Phò Lâm mắc cạn bây giờ
Cha già tuyệt thực còn chờ quyên sinh
Các quan sau quyết tình lên thứ
Ông thamTôn tức sự khởi hành
Đem quân về đóng Diễn, Canh
Nhơn nhơn thu phục tỉnh thành về ta.
Chốn Thăng Long thật là thượng đẳng
Xui tướng Tây quyết thắng tiến truy
Thất cơ phải chú Hắc Kỳ
Ngoài ô, một trận, Ngạc-nhe qua đời
Khách các hiệu rụng rời nhao nhác
Dọn vần tay đồ đạ xuống tàu
Giữa dòng chiếc trước, chiếc sau
Ra ngoài Ninh Hải để hầu về Nam
Quan thừa thắng, điên bàn tướng sĩ
Bất thình lình có chỉ Kinh ra
Chuộc thành mà lại giảng hòa
Định, An, Ninh Hải tới Hà Nội đây
Quan Hoàng thống nghe rày bứt rứt
Lưu Hắc Kỳ kéo phứt lên Ngâu.
Phá ngang việc ấy bởi đâu
Nhà công xế bóng, cửa chầu lỏng then.
Sai quan Nguyễn VănTường chánh sứ
Hoắc-đạo-sinh thủ thứ là đây
Quan Nam với lại quan Tây
Sửa sang khi ấy dân rày được yên
Việc thanh khoản chi truyền về bộ
Quan Nguyễn Tường thăng Hộ thượng thư
Qua năm Giáp Tuất, tháng tư
Thấy quan Nguyễn Chánh phụng từ kinh ra
Điều niêm yết mới hòa ước đó
Gẫm kỹ xem có khó nghe thay!
Non sông cao rộng thế này
Nào người trí dũng, nào tay anh hùng?
Quan Tăng doãn rằng: - Vâng thánh chỉ
Tỉnh Hải Dương lĩnh ý phải ra”
Quan tư với lại quan ba
Tìm nơi Hà Nội lập tòa Tràng Tây
Thấy phố xá người đầy, đất hẹp
Nhà thứ dân rộn rịp chỉn khôn
Thênh thênh sẵn chốn Thủy Đồn
Làm tòa ở cạnh ô môn Trường Tiền
Khai Thương chánh, thu biên thuế thủy
Cùng quan ta quản lý thâu chung
Rồi sau mới lập ngoài sông
Nhà cao ngất ngưởng bên sông Nhị Hà...

406. ... Có quan tổng đốc Hà Ninh
Hiệu là Quan Viễn, trung trinh ai bằng
Lâm nguy lý hiểm đã từng
Vâng ra trọng trấn mới chừng ba năm
Thôn Hồ dạ vốn, nhăm nhăm
Ngoài tuy giao tiếp trong căm những là
Vừa năm Nhâm Ngọ, tháng ba
Sáng mai mồng tám, bước qua giờ thìn
Biết cơ trước đã giữ gìn
Hơn trăm vũ sĩ, vài nghìn tinh binh
Tiên nghiêm lên đóng trên thành
Thệ sư rót chén rượu quỳnh, đầy vơi
Văn quan, vũ tướng nghe lời
Hầm hầm xin quyết một bài tận trung
Ra oai xuống lệnh vừa xong
Bỗng nghe ngoài đã ầm ầm pháo ran
Tiêm cừu nổi giận xung quan
Quyết rằng chẳng để chi đoàn chó dê
Lửa phun, súng phát bốn bề
Khiến loài bạch quỷ hồn lìa phách siêu
Bắn ra nghe chết cũng nhiều
Phố phường trông thấy tiếng reo ầm ầm
Quan quân đắc chí bình tâm
Cửa Đông, cửa Bắc vẫn cầm vững binh
Chém cha cái lũ hôi tanh!
Phen này quét sạch sành sanh mới là
Nào ngờ thấu ý tại ta
Vẫn rằng thắng trạng, hóa mà thua cơ
Nội công phải những bao giờ
Thấy kho thuốc cháy, ngọn cờ ngả theo
Quan quân sợ chết thảy đều
Thằng Tây, bạch quỷ đánh liều trèo lên
Nào ai cơm áo dốc đền?
Nào ai cầm vững cho bền ba quân?
Nào ai còn chí kinh luân?
Nào ai nghĩ đến thánh quân trên đầu?
Một cơn gió thảm mưa sầu
Nấu nung gan sắt, dãi dầu lòng son
Chữ trung còn chút con con
Quyết đem gửi cái tàn hồn gốc cây
Trời cao, biển rộng, đất dày
Núi Nùng, sông Nhị, chốn này làm ghi...

407. ... Nhớ xưa liệt sĩ bốn người
ở trong ban lính đóng nơi La Thành
Đôi phen trận mạc tập tành
Thấy người xe ngựa, tủi mình non sông
- Nay tôi có chước lập công
ở trong tôi đã ám thông với bồi
Chờ khi nó trúng độc rồi
Thẳng lên kho súng giết người lính canh
Lấy được súng, kéo vào thành
Ba tòa chiếm thủ, chi binh ba đường
Đất bằng nổi tiếng sấm vang
Ông Đề xuống lấy Bắc Giang tỉnh thành
Tuyên Quang, Thái, Lạng, Nghệ, Thanh
Bốn phương hưởng ứng dẹp bình như chơi.
Ông Bình nói chửa hết lời
Hai bên đứng dậy, người người vỗ tay
Tức thì ba đạo chia ngay
Hữu kia Nguyễn Cốc, tả này Đặng Nhân
Ông Bình là chủ trong quân
Ông Nga làm phó ba quân cứ lời
Cùng nhau bộ thự vừa rồi
Mở ra sáp huyết làm lời ước minh
Ngày hai mươi chín bình minh
Nghe nó trúng độc thì mình động ngay
Lạ thay không cánh mà bay
Cơ mưu nó biết, ngày ngày nó trông
Hai mươi chín, bẩy điểm chung
Nó ăn phải độc chưa xong nửa phần
Vô tình phải đứa bất nhân
Đem tin báo với Pháp quân tức thì
Thôi thôi còn có kíp gì
Hùm kia đến lúc xa ki cũng hèn
Pháp doanh nghe động tiếng kèn
Trong thành bốn mặt bổ liền quân vây
Chẳng qua một rủi, một may
Chậm cho mươi phút sự này hẳn xong
Thương thay thất bại anh hùng
Tấm lòng đối với non sông thẹn gì
Gan vàng, dạ đá tri tri
Ông Bình đến chết coi thì như không
Vừa cười vừa nói ung dung
Bên đường trông thấy ai không sụt sùi
Ông Nga vừa bắt đến nơi
Pháp quân dò hỏi mấy lời thủy chung
Rằng: - Anh là kẻ có công
Và ơn Nhà nước cũng không bạc gì
Cớ sao mưu phản làm chi?
Những ai đồng đảng nói thì tha ngay!
Nghe lời nghiến lợi cau mày
Mắng rằng: - Pháp tặc nói hay làm gì
Một năm lương thuế toàn kỳ
Mấy nghìn vạn ức mày thì nhớ không?
Tao ăn một tháng mười đồng
Cũng là da thịt của trong toàn kỳ
Cơm thừa canh cặn ra chi
Hãy còn khéo nói, kể gì làm ơn
Dựa Nam nhân, giết Nam nhân
Làm cho hết giống hết dân nhà này!
Pháp-lan-tây! Pháp-lan-tây!
Chí tao chỉ muốn thịt mày mới cam
Chẳng thà làm quỷ nước Nam
Còn hơn nô lệ làm quan nước mày!
Rồi ra được chết là may
Càng cho khỏi giống sau này giống tao
Gọi to một tiếng “Đồng bào!”
Hồn thiêng theo trận gió ào lên mây
Ôi thương thay! Ôi thương thay!
Kể sao cho xiết chết lây những người
Văn minh thật đã lạ đời
Đàn bà giết cả đến người hàng cơm
Thôi thôi trâu béo cỏ rơm
Trăm nghìn phó một mũi gươm là rồi
Khen cho liệt sĩ bốn người
Một lòng vì nước muôn đời tiếng thơm...

408. Bấy lâu ta ở với ta
Bây giờ có Phú-lang-sa lọt vào
Bây giờ đất thấp trời cao
An Nam, Quảng Tống phải vào lụy Tây
Bây giờ khố bẹ đi giày
Bờ lau nên phố, đĩ nay lên bà
Mấy đời con đĩ nên bà
Thau rau đắc thế, bà già thất kinh
Bấy lâu vua trị một mình
Bây giờ Nhà nước đã rành chia đôi
Văn nhân khoa mục ở rồi
Những phường dốt nát lên ngồi làm quan
Những anh phơ phất loàng xoàng
Làm bồi làm bếp ra ràng cậu chiêu
Các quan trung nghĩa trong triều
Về nhà ngồi xó liệu chiều thủ thân
Những quân vô nghĩa, nịnh thần
Tìm thày, tìm cách lần lần thăng quan
Trị dân lắm sự tham tàn
Kiếm tiền kiếm bạc mới toan bằng lòng
Muốn cho bể lặng, sông trong
Cách hết lũ ấy mới mong thái bình.

409. Trường Nghĩa Thục đứng đầu dạy dỗ
Khắp ba mươi sáu phố Hà Thành
Gái trai nô nức học hành
Giáo sư mấy lớp, học sinh mấy ngàn
Buổi diễn thuyết người xem như hội
Kỳ bình văn khách tới như mưa
Nôm quốc ngữ, chữ hán thư
Bài ca yêu nước, câu thơ hiệp đoàn
Trong chín tháng, sóng tràn gió đập
Tiếng Đông Kinh lừng khắp Đông Dương
Khắp đâu đâu cũng học trường
Cùng nhau đua bước lên đường văn minh...
... Trời đang buổi nắng mưa tầm tã
Dấn thân mình đứng giữa cơn dông
Cả gan cho biết anh hùng
Hỏi xem mấy mặt trong vòng trần ai.

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  22:10:52  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Ca dao xây dựng CNXH và kháng chiến chống Mỹ

410. Ngồi vui kể chuyện quê nhà
Rau tươi quả ngọt đồng ta ngoại thành
Làng Đăm cải biếc màu xanh
Làng Hàn cà bát trĩu cành xum xuê
Rau thơm đất Láng quen nghề
Hành tươi Mai Động, Yên Khê đầy đồng
Bắp cải Phù Dực sớm trồng
Yên Mỹ nổi tiếng cà hồng xưa nay
Yên Viên có món măng tây
Lại thêm cải tiếu ngọt thay hỡi mình!
Nhất cay là giống ớt Đình
Nhất thơm là mướp làng Quỳnh, làng Mai
Su hào Quảng Bá hơn ai
Hoa lơ Phú Diễn chen vai trắng ngà
Cải canh mát bãi Duyên Hà
Đông Dư cải nén mặn mà hương quê
Nhật Tân cải trắng ven đê
Muốn thăm cải củ thì về Lĩnh Nam
Tỏi tây, xà lách Xã Đàn
Đạu trạch, đậu vàng, đậu đũa Vĩnh Tuy
Muống non xơ mới Thanh Trì
Rau cần làng Sét xanh rì bờ sông
Bí xanh, bí đỏ đầy đồng
Cổ Loa, Tầm Xá, Nam Hồng chứ đâu
Khoai tây mời tới làng Ngâu
Thôn Quang dưa chuột giữ mầu quê hương.
Vùng rau đã kể tỏ tường
Bây giờ đất quả đưa đường vào thăm
Cam Canh, bưởi Cáo, vải Bằng
Tiếng đồn xưa vẫn còn vang quê nhà,
Chuối Giang Biên, chuối Trung Hà
Sông Hồng, sông Đuống phù sa đắp bồi
Cổ Loa mít chín thơm trời
Thành tiên lại có trám bùi trên cây
Song mai Đông Mỹ quý thay
Rừng dừa Hải Bối khen tay người trồng.
Thôn Văn ngọt nước nhãn lồng
Trưa hè Hoàng Liệt, Bắc Hồng xem dưa
Bưởi đường Vạn Phúc tìm mua
Vườn chanh Trung Phụng hoa đua trắng cành
Tây Hồ quất đỏ trời xanh
Mễ Trì chín mọng cam sành làm duyên
Xuân Đỉnh tốt giống hồng xiêm
Dâu tây ở Dịch Vọng Tiền mình ơi
Nghi Tàm lắm táo, nhiều roi
ổi ngon Quảng Bá, Quỳnh Lôi mời vào
Trung Hà đã quý chanh đào
Lại sai đu đủ ngọt ngào quê ta
Mấy vần chắp nhặt nôm na
Hoa thơm quả ngọt ai mà chẳng yêu.
Mình về ươm hạt cho nhiều
Chiết cành gây giống, sớm chiều ta sang
Trồng cây cho rợp đường làng
Xe rau chạy giữa hai hàng cây xanh
Rau tươi, quả ngọt ngoại thành
Bốn mùa xanh bãi, đỏ cành quê hương.

411. Vừa nghe tàu điện rung chuông
Leng keng đánh thức màn sương Tây Hồ.
Đường vui rộn bánh xe bò,
Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau.
Hỏi mình: - Chuyên chở về đâu
Ngụy trang xanh ngắt một màu thế kia?
Rằng: - Rau Quảng Bá đây mà,
Rau vào xí nghiệp, rau ra chiến trường.
Rau tình, rau nghĩa quê hương
Lại đây, đẩy một đoạn đường hộ rau.


412. Chẳng thơm cũng ngát hoa chanh
Chẳng giỏi cũng gái ngoại thành Thủ đô.
Ra tay chẳng phải tay vừa
Làm chiêm chiêm vượt, làm mùa mùa hơn.
Chăn nuôi vừa khéo vừa khôn
Quanh năm gà lợn xuất chuồng quanh năm.
Thao trường cũng gắng cũng chăm
Veo veo đường đạn thằng băng vòng mười.
Việc quân nào chịu thua người
Cũng tay súng thép giữ trời quê hương.
Điện về điện sáng làng thôn
Cũng tay điều khiển máy bơm máy nghiền.
Siêng làm thì học cũng siêng
Người vào lớp bảy, người lên lớp mười.
Mấy kỳ đấu kiếm, thi bơi
Chưa tài mà cũng khối người vỗ tay.
Đêm chèo giọng hát chưa hay
Vẳng qua sông Đuống đã say sông Hồng.

Bốn mùa tươi áo nâu sồng
Việc nhà việc nước gánh gồng đôi vai.
Trai tài gái đã kém ai
Chẳng thơm cũng ngát hoa nhài hoa chanh.
Chẳng giỏi cũng gái ngoại thành
Gái mà như thế, khối anh giật mình!

413. Rau Lĩnh Nam nấu suông mà ngọt
Bưng bát cơm đơm một muốn hai
Trưa nay vừa bức vừa oi
Hái nhanh cho kịp gửi nơi trận tiền
Cà muối xổi, rau dền, cải trắng
Tuy đơn sơ nhưng thắm tình dân
Sớm chiều em tưới em chăm
Cho rau mượt lá, anh ăn mát lòng
Anh giữ súng phòng không vững chắc
Em trồng rau xanh ngắt trên đồng
Rau tiếp luống, đạn lên nòng
Giặc nào thoát khỏi trong vòng tay ta.

414. Nhắm ai hoa thắm lòng tay
Ngát hương Hữu Tiệp mà say Ngọc Hà.
Hoa thơm dải áo sẻ tà
Thơm thơm lá phiếu của ta của mình.

Nhắn ai ươm ngọn dâu xanh
Tơ vàng Tầm Xá uốn quanh sông Hồng.
Ví dù con bế con bồng
Phiếu tươi nét chữ đẹp lòng cả đôi.

Nhắn ai chèo lái ngược xuôi
Thuyền qua Thái Thủy dừng nơi bến Chèm.
Cắm sào quen lại thêm quen
Hẹn năm ba hẹn: chờ quên phiếu bầu.

Nhắn ai se chỉ bấy lâu
Tây Hồ vấn vít trăm mầu tơ vương.
Có đi chung lối chung đường
Chờ chung lá phiếu mà vương chỉ hồng.

Nhắn ai quê ở bên sông
Phú Viên cau thắm trầu không mấy mùa.
Phiếu bầu buổi sớm hay trưa
Để trầu cau gửi cho vừa lòng ai.

Nhắn lời xin giữ lấy lời
Mừng ngày bầu cử thêm vui xóm làng.
Ước gì nắng đỡ hanh vàng
Để ai nghiêng nón qua làng cùng đi...

415. Ai về Giáp Nhị năm xưa
Chê ao thối đặc, chê mưa ngập làng.
Chê nhà mái dột, vách tàn
Chê lúa mọc mậm đầu làng cuối thôn.
Giờ về Giáp Nhị một hôm
Khen rau muống tốt nhiều hơn lá rừng.

Khen ao lắm cá vẫy vùng,
Khen nhà ngói đỏ như vung hàng nồi!
Khen trường mới dựng xinh tươi, Khen loa đã bắc từng nơi từng nhà.
ấm no vui trẻ vui già
Sản xuất càng mạnh còn là đổi thay.

416. Đố ai đếm được lúa vàng
Để ta tính gạch Bát Tràng xây sân
Sân ta mở rộng mấy lần
Mà sao lúa cứ lấn dần, đòi thêm!

417. Tháng tám nắng rám trái bòng
Bồ không hạt thóc, trông mong từng ngày...
Vui sao tháng tám ngày nay:
Thóc chiêm vừa vợi đã đầy Nam Ninh.

Bén mầu luống cải lên xanh
Ngô thơm mùi nắng để dành riêng hai.
Mới ra mẻ gạch lò ngoài
Nhà ai cuối xóm đã tươi mái hồng.
Đầm trong sen hái vừa xong.
Đầy sân hợp tác sen hong nắng vàng.

418. Quê ta đẹp quất Tây Hồ,
Tơ vàng kén mượt đầy bồ Tứ Liên.
Hữu Hưng dệt lụa hoa hiên
Cò bay bướm lượn in trên lụa đào.
Cam Canh, bưởi Mỗ ngọt ngào,
Mát lòng cải bắp, su hào Trung Kiên.
Mình về Nguyên Xá mà xem
Vườn hồng trĩu quả, chuối nêm kín làng.
Mễ Trì thơm gạo tám xoan.
Dự hương, gié cánh thóc vàng như tơ.
Gửi người dệt bộ bài thơ
Phùng Khoang gấm đẹp còn chờ tay ta.

Cốn Vòng nức tiếng gần xa,
Cau non Dịch Vọng, tiếng gà thôn Viên.
Đường vào Cổ Nhuế vẫn quen
Máy khâu rộn rã, mía chen vai người.
Hai Xuân như đẻ sinh đôi
Cánh diều chung sáo, mương khơi chung đào
Trên mình xanh thắm bí đao
Dưới ta lúa tốt khác nào rừng xanh
Vải thiều đỏ rực đầu cành
Thơm mùi cam Cáo, ngọt canh đậu Giàn.
Xuân La lợn béo bao đàn,
Trắng phau cá lội, dịu vàng khoai tây
Mình về ta nắm lấy tay
Ta dặn câu này mình chớ có quên:
Khỏa chèo mình ngược bến Chèm
Viếng Lý Ông Trọng, hoa chen mái đình
Giò Chèm ai gói xinh xinh
Nắm nem làng Vẽ đậm tình quê hương.
Chuối Sù mập quả trăm vườn
Sang thu hương chuối quện hương cốm Vòng.
Hoa đào dệt lối Nhật Tân
Yêu quê hoa nở đầy sân lụa đào.
ở đâu hợp tác công cao
Rẽ vào Quảng Bá xem nào đâu hơn.

Rau xanh kín bãi kín vườn
Hương sen thoang thoảng cho thơm tóc mình
Tung tăng đàn cá lượn quanh
Ta giăng lưới bạc rung rinh mặt hồ.
Quên sao giấy điệp Nghĩa Đô
Tiếng chày nện sợi, câu hò nhặt khoan
Ai xeo cho giấy mịn màng
Đẹp màu tranh mới xuân sang quê nhà.
An Phú dẻo kẹo mạch nha
Lợn hồng da mượt như là trong tranh.
ở đâu thơm húng thơm hành
Có về làng Láng cho anh theo cùng
Theo ai vai gánh vai gồng
Rau xanh níu gót bóng lồng sông Tô.
Trời cao lồng lộng sao cờ
Phi lao vi vút đôi bờ Nhuệ Giang
Trập trùng nhà máy công trường
Đỏ tươi mái ngói, mây vờn khói bay.
Lòng ta như tỉnh như say
Mình nghe! Kìa tiếng máy cày xa xa...
Quê ta đẹp lắm quê ta
Trăm mầu nghìn sắc quê nhà: Từ Liêm.

419. Hà Nội là trái tim ta
Trái tim đất nước, gần xa giữ gìn.
Mày mà đụng đến trái tim,
Sóng căm thù sẽ nhận chìm mày ngay.
Đã chôn hăm mốt máy bay
Vẫn còn sẵn hố đợi mày ở đây.

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  22:13:27  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote

420. Hai ngày rụng sáu máy bay
Chết cha thằng Mỹ hai ngày lỗ to!
Như gà phải gió
Như chó bị mưa
Mặt mày ngơ ngác như cua gãy càng.
Cua gãy càng lang thang bụi cỏ,
Tổng Giôn ngồi như chó cụt đuôi.
Leo vào Hà Nội mà chơi
Gãy càng còn lắm, cụt đuôi còn nhiều!

421. Giặc Mỹ mò vào Thủ đô
Như cá vào trúm như cua vào lờ
Cá vào trúm nằm trơ thân cá
Cua vào lờ đừng có hòng ra
Trận thì rơi bốn
Trận thì rụng ba
Năm mươi tư chiếc đã ra đất bùn.

422. Vỉ ruồi lốm đốm là “con ma” ép bốn
Tiếng rít như lợn là thằng “thần sấm” ep trăm linh năm
ép gì thì ép
Thần gì thì thần
Năm mươi tư chiếc
Tao ep dưới chân
Tao còn đang đợi ép thần một trăm!

423. Hoan hô sông Đuống sông Hồng
Khép vành đai lửa phòng không diệt thù.
Cháu con Thánh Gióng rất cừ
Quật rơi bốn quạ đứ đừ chết ngay.
Tóm cổ giặc lái máy bay
Giỏi đi rong phố, biết tay anh hùng.

424. Trên trời trăng sáng như gương
Dưới trời đèn thắp đỏ đường số Năm
Vui như tháng tám hội rằm.
Rào rào tiếng cuốc tiếng đầm hòa vang.
Ta đào hầm hố sẵn sàng
Như ngày kháng chiến cả làng đánh Tây.
Giặc Mỹ mà lẻn vào đây.
Người chôn xác lũ chúng mày là ta!
Rộn ràng tiếng cuốc gần xa,
Hố sâu theo nhịp lời ca câu hò.
Giặc Mỹ mày còn thua to.
Thua từ nhát cuốc, câu hò thua đi.

425. Bom nào dọa nổi Gia Lâm
Lửa cao cháy bỏng hờn căm trong lòng.
Chiến công thôi thúc ruộng đồng
Đường bừa chống Mỹ trâu vòng thêm nhanh.
Mau lên tay cấy lúa xanh,
Thép mai thủy lợi, biến thành nhát gươm.
Tay cày tay súng căm hờn
Đánh cho giặc Mỹ rụi xương đất này.

426. Nghe đồn mình giỏi làm bèo,
Tiền Phong, Thuận Tốn mình theo kịp rồi.
Quê ta đang kén một người,
Nuôi bèo mùa nực muốn mời mình sang.
Mình - thanh niên ba sẵn sàng,
Chẳng lo xa xóm lạ làng mà chê.
Mình sang ta đẵn thêm tre,
Đóng xe Bốn Bắc khi về tặng theo.
Phải đâu vì quê mình nghèo,
Đôi vai giải phóng chưa theo kịp người.
Xe này chả đáng mấy mươi,
Mình muốn học đóng, ta thời chỉ cho.
Có bèo, lúa tốt bông to,
Có xe thêm sức vui mùa lập công.
Quê ta chống Mỹ, chung lòng,
Đánh giặc trên đồng, kinh nghiệm giúp nhau.

427. Thạch Bàn năm ngoái tốt đay
Đay trồng chống Mỹ năm nay tốt nhiều.
Năm ngoái mậu dịch trói heo
Sợi mành đay đứt nó kêu váng đồng.
Năm nay trói giặc phi công
Quấn mấy mươi vòng chẳng phải nối thêm!

428. đay Cầu Bây tưởng cây tre mọc,
Ngô To Khê vượt nóc đình làng.
Cá Sủi sánh với quạt nan,
Cà Hàn quả tựa bát đàn, kém chi!
Rau Gióng mơn mởn xanh rì
Khiến xe mậu dịch đi về ngày đêm.
Lợn thôn Hội đánh tiếng ghen
Kêu lên, các huyện bốn bên giật mình!

429. Cầu Long Biên qua trái về phải
Bãi sông Hồng thoai thoải ngàn dâu.
Qua sông nhớ mấy nhịp cầu
Được tằm nhờ mấy lứa dâu sông Hồng.
Nhớ công mẹ bón em trông
Tằm lai tốt giống, dâu trồng tốt phân.
Trăng ngà rải lụa sóng Ngân
Tơ vàng mượt bóng lụa vân sông Hồng.

430. Guồng ươm vang khắp gần xa
Vang lên Ngọc Thụy vang qua Bồ Đề.
ầm ầm pháo chuyển trên đê
Sông Hồng chảy réo vẫn nghe tiếng guồng.
Khách đi ngơ ngẩn trên đường
Hỏi đây nhà máy hay trường luyện kim?
- Thạch Cầu chính thực thôn em
Nghề tằm, tay ngọc vốn quen se vàng.

431. Bèo lan khắp cánh đồng Cầu,
Như ai ném cốm đậm mầu xanh xanh.
Gió đưa bèo cuốn vòng quanh,
Bèo ôm chân lúa, lúa xanh che bèo.
Nhờ hôm rét rúm vẳng mèo,
Chân lội xuống nước, rét trèo tận tai.
Tổ bèo không vắng một ai
Ngại chi sương ướt áo ngoài, vẫn tươi.
Những chiều hanh nứt làn môi,
Hết san lại vỗ gấp đôi mọi ngày.
Tin về bắn rụng máy bay,
Bèo ôm kín ruộng, nở đầy đồng ta.
Đồng Cầu ai có thăm qua,
Túi rong mang nặng lời ca tổ bèo.

432. Người đi những ngắm cùng trông
Chị Học đi học, học không ngại ngùng
Vào Thanh học đắp bờ vùng,
Xuống Phòng xin giống chiêm Phòng về gây.
Sang Đào học cấy chăng dây,
Lên Xuân Đỉnh học vung tay ươm bèo.
Chị đi làng xóm trông theo
Chị về Thuận Tốn lúa reo rộn ràng.
Tiếng đồn chị Học đảm đang
Đi một ngày đàng học mấy sàng khôn.

433. Tằm ơi tằm cứ ngủ say
Tan nhà, lấy lá thưng dầy ta che.
Ta làm nhà mới tằm nghe
Buồng tằm có cả mành tre, láng sàn.
Thiếu dâu ta xuống Quảng An,
Ta về Tứ Tổng, ta sang Bắc Cầu.
Ngủ rồi tằm dậy ăn dâu
Vương đầy bụng kén, khắc sâu căm thù.

434. Bạc màu là đất Đông Anh
Làm theo lời Bác vẫn xanh ruộng đồng.
Tưng bừng trống giục, cờ giong
Con mương chống Mỹ, bờ vùng “đảm đang”.
Ai về Dục Tú tham quan
Khen đây thủy lợi gần ngang Phương-Trù.
Ai về thăm Cổ Loa xưa
Thi đua nuôi lợn giỏi như thôn Nhồi.
Nghìn năm mơ ước đây rồi
Thay chân giã gạo, thay trời làm mưa.
Điện về, máy chạy sớm trưa.
Mẹ già sáng mắt, con thơ sáng lòng,
Kim Chung, Uy Nỗ, Nam Hồng...
Đôi vai nhẹ gánh, thêm công cày bừa.
Nhớ sao nhớ mãi năm xưa
Bác về thăm huyện đến giờ chưa quên
Chưa quên lời hứa - niềm tin
Đã ghi vào dạ, đã in vào lòng
Sao cho đồi bãi, ruộng đồng
Thành vựa thóc lúa, thành rừng cây xanh.
Bạc màu là đất Đông Anh
Làm theo lời Bác, đất thành tốt tươi.

435. Đường hào luồn giữa xóm Đình,
Xuyên qua xóm Nội uốn quanh xóm Hà.
Súng trường đón hướng cây đa,
Đại liên ngóc cổ vươn ra phía cầu
Đường hào, ụ súng nối nhau
Giữ đồng lúa thắm, giữ bầu trời xanh.
Đất này là đất Đông Anh
“Thần sấm” mà đến sẽ thành... thần thiêu!

436. Thấy em là gái Thụy Lôi
Chăn nuôi dù khó gấp mười vẫn chăn
Mới đầu lợn thiếu thức ăn
Như trâu đòi cỏ, như tằm đói dâu
Quê em giờ đã dẫn đầu
Lợn nuôi trên đất bạc màu vẫn to.
Anh về năm liệu bảy lo
Thời này nuôi lợn không to cũng hèn!

437. Sương reo lắc rắc cành tre,
Mặt hồ lấp lánh sao khuya đỉnh trời.
Đoàn trâu đủ mặt đây rồi,
Tỏa trăm mặt ruộng sục sôi bùn lầy.
Trâu ơi! Ta bảo trâu này,
Quê ta giặc bắn ban ngày ban đêm.
Căm thù giặc Mỹ chất thêm
Cùng trâu tranh thủ làm đêm làm ngày.

Trâu ờ trâu ơi.
Thuở xưa Thành ốc ta xây.
Nỏ thần ta bắn tan thây quân thù.
Ngày nay vâng lệnh Bác Hồ,
Cổ Loa rầm rập tiếng hò xuất quân.

Trâu ờ trâu ơi.
Cày đêm, trâu chớ ngại ngần,
Đất này dâng thóc theo chân anh hùng.
Vầng dương sáng tỏa phía đông,
Bác Hồ chắc cũng đèn chong đêm dài.
Mùa này thắng Mỹ, thắng trời,
Lại nghe tiếng Bác ấm vui quê nhà.
Bác vừa kêu gọi hôm qua,
Sáng nay ruộng đã thấm ba lượt cày.

438. Xách khoai ra đến làng Sằn,
Nhìn khoai, mấy chị cứ lăn ra cười:
- Khoai đâu to quá bình vôi?!
Thưa rằng: “Khoai của xóm Nhồi mẹ cho.
Năm nay khoai được mùa to
Sào gần bảy tạ ních kho, chật nhà”.
Xách khoai mỏi cánh... ái chà!
Nặng như đạn pháo, khoai ra chiến trường.

439. Anh vươn đôi cánh che dâu
Em canh tằm ngủ cho sâu cho già
Kẻ thù đến phá quê ta
Anh như én bạc, em là pháo binh
Quê em Tằm Xá, Đông Anh
Tơ vương mát lối, cửi canh rộn nhà
Bắn tan “thần sấm”,
Nghiêng cánh anh qua
Bóng anh soi bóng lụa là quê em.

440. Ai về Dục Tú cùng em
Mà ngắm bờ thửa, mà xem bờ vùng.
Đồng em như tấm thảm nhung
Bờ như dải lụa thêu từng cánh hoa,
Mương gần nối với mương xa
Cống chìm cống nổi nước ra nước vào,
Đường đi mát bóng xoan đào
Cánh cò bay liệng vẫy chào trạm bơm.

441. Đường lên Đại Độ
Đường đến Tằng Mi
Đường xa cũng chẳng ngại chi
Đường xa vẫn lắm kẻ đi người về.
Kẻ đi đào đất đắp đê
Người về vớt nứa, chẻ tre, đan thuyền.
Sông sâu đón nước chẩy lên
Thuyền nan chở mạ cấy chiêm xanh đồng.
Ruộng cao mát nước sông Hồng
Mát tay người ở, ấm lòng người đi.

442. Con đê ngăn lũ sóng Hồng,
Khỏi vào tàn phá ruộng đồng quê ta.
Mồ hôi nước mắt ông cha,
Đê này trao lại cho ta giữ gìn.
Súng ta trực suốt ngày đêm,
Bao nhiêu lửa giận gửi viên đạn này.
Thịt ta đây, xương ta đây,
Đem ra giữ vững đê này cũng đem.

443. - Em sinh con gái hay trai?
Con trai làm cậu thủ mai cho làng.
Con gái cho học nghề đan
Đan sảo đan sọt cho đoàn dân công.
Dân công đắp đập khơi sông
Lấy nước về đồng nuôi lúa mùa chiêm...
Vợ tôi tủm tỉm cười duyên:
- Sông ngòi anh nghĩ liên miên suốt ngày!

444. Sớm nay ra đồng gặt chiêm
Ngẩng nhìn cầu sắt Long Biên cao vời
Thấy anh bên súng canh trời
Cho đồng hợp tác tiếng cười nở ran.
Ơi anh bộ đội, Mũ gắn sao vàng,
Ước mong anh xuống tận làng em chơi.
Thổi nồi cơm mới, vung cười,
Hơi thơm nghi ngút xới mời anh ăn.
Ước rồi đêm tới sáng trăng,
Chòi em đứng gác cao bằng súng anh.

445. Nhật Tân có một cây đào
Mảnh bom giặc Mỹ xuyên vào giữa thân.
Cây đau, cây vẫn lớn dần
Hẹn ngày bẻ một cành xuân nở đều
Tặng anh pháo thủ thương yêu
Mừng anh chiến thắng nở nhiều hơn hoa.

446. Phá rau, rau vẫn lên xanh
Còn máy bay Mỹ tan tành khắp nơi.
Phá đào, đào vẫn đâm chồi
Còn thằng Mỹ vái như ngồi tế sao.
Sợ rau sợ cả hoa đào
Hèn chi thằng Mỹ ngày nào cũng thua.

447. Giặc trời gieo bão đổ mưa,
Chưa qua sương giá lại mùa nở sâu.
Em là con gái vùng rau,
Giặc Mỹ không sợ, sợ đâu giặc trời.
Cải Đăm mưa bão chẳng vơi,
Cà Yên sương muối vẫn tươi sắc hồng.
Đạn bom, rau vẫn kín vồng,
Vẫn vững, tấm lòng con gái vùng rau.

448. Ruộng cà trĩu quả đồng Chay
Đi hết một luống ba ngày mỏi chân
Cải xanh Yên Ngựa đồng gần
Mới đi nửa luống mà chân mỏi rời
Rau xanh, cà trắng ngược xuôi
Quân đi cuối đất đầu trời cũng theo.

449. Ai về hợp tác Trung Hòa
Tới thăm bà Hợi xem bà chăn nuôi.
Lợn nằm lợn đứng lợn ngồi
Béo tròn béo mập, trông thời như tranh.
Tới đây thấy rõ rành rành
Chẳng còn là chuyện hữu danh vô hình.
- Hai nhăm con lợn xinh xinh
Mười lăm con lớn rõ rành bốn mươi!
Xem xong khen chẳng hết lời:
- Giỏi thay! Kiện tướng chăn nuôi ngoại thành!

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  22:15:08  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
450. Trại em có giống khoai môn
Nuôi lợn chống Mỹ béo tròn, mượt lông.
Trại tôi nghe cũng muốn trồng
Qua bốn cánh đồng mua mặt khoai con.
Lúc về trời đổ mưa phùn
Thấy không mang nón, ngắt giùm lá khoai.
Người đi đội nón ướt vai
Nhưng tôi chỉ ướt đến hai bên sườn.

451. Đàn gà Đại Từ
Trông như đàn ngỗng
Gáy một hồi vang động gần xa
Lông trơn lốm đốm như hoa
Chân vàng vàng sẫm như gà trong tranh
Thảo nào các xã ngoại thành
Nuôi gà chống Mỹ, chịu anh Đại Từ.

452. Chép Yên Duyên nằm nghiêng thuyền thúng
Con mè hoa quẫy thủng rổ sề
Tháng bảy cá đi ăn thề
Ngày nay tháng bảy cá về đầy sân
Công nhân, bộ đội, nông dân
Vui cùng cá, bắn tan quân giặc trời.

453. Mênh mông sóng vỗ ngang bờ
Rung rinh nước bạc lập lờ ánh trăng
Khỏa chèo thuyền lướt băng băng
Cá phô lườn bạc rõ bằng mo cau!
Nước trong cá quẫy đục ngầu
Chạm thuyền, cô lái tưởng trâu húc thuyền!

454. Hỡi cô tắm mát ao anh
Cô tắm thì hãy ngồi nhanh lên cầu.
Cô mà có muốn tắm lâu
Mau bước lên cầu cho cá anh bơi.
Cá anh lượn ngược lượn xuôi
Nào mè, nào chép, nào trôi, nào chầy.
Cô đừng có lội xuống đây
E gặp đàn cá ao này rỉa chân!

455. Gánh gì phủ kín lá cây
Tưởng cô mậu dịch về đây bán hàng.
Đương khi đói bụng nhỡ nhàng
Hỏi cô có bánh có hàng bán chăng?
Cô cười trắng muốt hàm răng:
- Hàng em chỉ bán cho thằng Mỹ thôi!
Tối nghe tin lũ giặc trời
Đúng thằng nghìn sáu đã rơi đất này.
Hỏi tên giặc lái máy bay
“Kẹo” cô du kích sáng ngày có ngon?

456. Người rơm phe phẩy tay rơm
Đứng canh đồng lúa sớm hôm tối ngày
Một chiều có chiếc máy bay
Mò vào ăn đạn rơi ngay xuống đồng
Nhảy dù thằng Mỹ thoạt trông
Như gà mổ thóc, “xin ông, lạy bà!”
- Tao canh chim chóc thôi mà,
Muốn xin, ra lạy mấy bà xã viên!

457. Nồi cơm trên bếp đang sôi,
Máy bay đến bắn vỡ nồi nhà ông.
Tức mình ông phóng ra đồng
Ông ghì khẩu súng ông trông lên trời:
Máy bay cái cháy cái rơi,
Cái cong đuôi chạy một hơi hoảng hồn.
Đứng lên vuốt bụng ông buồn
Khao quân giờ biết nấu cơm bằng gì?
Anh em du kích cười khì
Gò luôn “không lực Huê Kỳ” tặng ông!

458. Có cô con gái xóm Đoài
Nghe tiếng súng nổ bên tai dập dồn
Vội vàng bỏ dở bát cơm
Đên snơi tiếp đạn như hôm hiệp đồng.
Có anh du kích thôn Đông
Cũng vừa nghe súng ầm ầm bên tai
Bếp vừa nhóm luộc nồi khoai
Nhanh tay dập lửa, ra nơi hiệp đồng.
Bên này bên ấy Đoài, Đông
Cách nhau cánh đồng không hẹn mà nên.

459. Giữa trưa trời nắng chang chang
Bom gầm đạn rít dọc ngang trên đầu
Nước chè mẹ gánh qua cầu
Mẹ ra trận địa phía sau đồng làng.
Chè tươi của mẹ đem sang
Xanh mầu đồng lúa, rộn ràng lòng con.
Cổ khô được bát nước ngon,
Súng nhằm giặc Mỹ nổ giòn trời mây.

460. Đêm sao sáng lắm sao ơi!
Liệu sao có thức bằng người được không?
Đố sao thức tới rạng đông
Mà xem ta gác ruộng đồng trời mây.

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan

Edited by - tieuboingoan on 05/25/2006 22:22:08
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  22:18:01  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
461. Tiễn chồng nhập ngũ hôm nào
Em về em cũng xin vào dân quân
Đêm qua vác súng đi tuần
Thấy đường còn ấm bước chân của chồng.

462. Chồng một bên, vợ một bên
Con trâu đi trước ngó nghiêng cặp sừng
Phải trâu thấy chuyện lạ lùng
Đi cày cũng phải vợ chồng có đôi?
Nước non lửa bỏng trâu ơi!
Căm thù giặc Mỹ ai người ngồi yên.

463. Đàn ông xông xáo trận tiền
Đàn bà mọi việc đứng lên thay chồng
Nuôi con, sản xuất, cấy trồng
Việc nhà, việc xã, việc đồng đều hay
Học cày cho thạo đường cày
Để chồng nhập ngũ rảnh tay diệt thù.

464. Trồng trọt mà thiếu chăn nuôi
Như trầu nhạt thuốc thiếu vôi, hỡi chàng
Lúa kém phân, hạt vàng chẳng mẩy
Lợn chưa nhiều, thịt lấy đâu tăng?
Mình qua Đông Mỹ mà thăm
Dục Nội mình tới, Khuyến Lương mình về
Học thêm kinh nghiệm tay nghề
Lợn bột chăn giỏi, nái về nuôi hay
Dẫn tình lai giống quen tay
Chuồng trại phen này mở rộng thênh thang
Chăn nuôi nghề chính vững vàng
Như lá trầu vàng đủ thuốc đủ vôi.

465. Thủy lợi đi trước mở đàng
Trên đường cây mọc nối hàng xum xuê
Thuyền nan theo nước đi về
Dưới dòng cá lượn thỏa thuê vẫy vùng
Thủy lợi là gốc nghề nông
Chưa xong thủy lợi thì lòng chưa yên.

466. Từ ngày có điện về làng
Máy xay rộn rã, nhịp nhàng máy bơm.
Sao sa lấp lánh xóm thôn
Mỗi nhà một vị sao hôm sáng ngời.

467. Đã mừng làng có máy xay
Bỏ đi cối giãtừ nay rộng nhà.
Máy về, ngô thóc dôi ra
Cót cao nong rộng cảnh nhà chật thêm.

468. Lúa xếp ngang cột điện làng
Máy đập rộn ràng chạy suốt ngày đêm
Đội anh đổi kíp đội em
Chạy từ trăng khuyết qua đêm trăng tròn.
Ngoài đồng đãbiếc mạ non
Mà nghe tiếng máy vẫn giòn sân phơi.

469. Lên huyện học lớp máy bơm,
Cầm tay mẹ dặn: “Sớm hôm mau về”.
Hôm nay con đãthạo nghề
Ra đồng nổ máy, tiếng nghe vang giòn
Nước tràn mương lớn mương con
Lúa, rau vẫy lá xanh rờn màu tươi.
Tối nằm, chốc mẹ lại cười:
- Gớm sao quý hóa cái mùi dầu xăng.

470. Vào chuồng đánh trâu ra đồng
Mũi trâu còn đó mà thừng chạy đâu?
Kẻng làm giục giãtừ lâu
Để ông cuống quít sờ đầu gãi tai
Tìm trong rồi lại tìm ngoài
Hóa ra trâu đói trâu nhai... mất thừng!

471. Con trâu là con trâu riêng
Hơi sốt một tý đã kiêng chẳng dùng.
Con trâu là con trâu chung
Té re té tỏng vẫn dùng chẳng kiêng!
ới anh ơi! Cho anh mượn chục đồng tiền
Ra chợ sắm võng mà khiêng trâu về...!

472. Vắt vào rồi lại vắt ra
thúc như thúc tà, roi tựa mưa mau.
Máy còn lúc nghỉ, tra dầu,
Huống hồ da thịt thân trâu thế này.
Anh còn lợi điểm dăm ngày,
Không khéo hợp tác “lợi” ngay... bộ sừng!

473. Trâu này xấu bụng ỉa re
ỉa “phân lộn đất” kẻ chê người cười
Tin về trâu chẳng còn vui
Thâu đêm trâu đứng nhìn trời thở than
Bỗng nghe tiếng động trong chuồng
Thấy ông bà chủ đang tuôn đất vào!
“Ôi thôi! Tôi lạy ông nào
Lạy ông trăm lạy nỡ sao thế này?”
Xãviên đồn khắp đó đây
Thương trâu tốt bụng mấy ngày chịu oan!

474. Người thì bí tỉ thịt thà,
Bò thì khát nước cùng là đói rơm.
Ba hôm! Vâng, chỉ ba hôm!
Rơm bò không nuốt, thì rơm “nuốt” bò!

475. Phải vì nắng rám má hồng
Nên em ra mạ ngại ngần đôi tay
Cấy gì mà cấy đến hay
Lợn gì mà cấy đến hay
Lợn chui cũng lọt, ngỗng bay cũng vừa!
Phải vì ai hẹn ai chờ
Để em nóng ruột cấy thưa kịp về
Hay vì sương muối mờ che
Ban ngày cứ ngỡ đêm khuya cấy mò.
Vì em mà thóc vơi bồ
Ba lần tổng kết mất cờ cả ba!

476. Hai lần cày lỏi cày nông
Hai lần họp xã, hai lần bị phê
Những ngồi mà thẹn mà ê
Xãviên phê chín, vợ phê những mười.
Họp về ngẫm nghĩ từng lời:
- Vợ mình - thật rõ con người thẳng ngay.
Đêm nằm gối nhẹ đầu tay:
- Chịu “bà” chủ nhiệm hôm nay phê chồng!
Trở vai, bẹo cái má hồng,
Vợ cứ cười thầm: - “Đùa mãi! Ngủ đi!”.

477. Trên giường con khóc hết hơi,
Dưới bếp vợ mắc nấu nồi cơm, canh
Nhìn sang bàn nhỏ bên mành:
Ung dung bên ấm chè xanh, chồng ngồi!
Nhà bên cũng bấy nhiêu người
Mà chồng dỗ trẻ, vợ ngồi nấu ăn
Con đùa lại mẹ níu khăn,
Chồng cười: “Thôi dậy, để anh thay nào!”

478. Người ta hội họp đúng giờ
Như xe đủ khách, như lò đủ than
Người sao dở dở dang dang
Họp rồi mới đến, chưa tan đãvề!
Trách gì bè bạn không chê:
Khoai hà nửa củ, cơm khê nửa nồi.

479. Nhìn lên: máy bạc trời xanh,
Nhìn xuống dòng nước: thấy anh lõa lồ!
Ai cho tôi mượn cái bồ
Tôi úp anh lại bây giờ được không?
Kẻo đây cảnh đẹp người đông
Trông anh chán lắm thà trông cái bồ!
Anh ơi! Tôi gắng công chờ
Anh mặc xong quần lót, tôi mới mở cái bồ cho anh ra!

480. Hôm qua tôi đến chơi nhà
Thấy ông bươu trán, thấy bà mắt sưng.
Ông thì mặt đỏ bừng bừng
Tay lao cán thuổng, tay vung cán cào.
Bà thì mồm thét, miệng gào
Chân rãy đành đạch, tay cào áo ông.
ối chao! Rõ “đẹp” hay không?
Hỏi rằng tình nghĩa vợ chồng còn đâu?

481. Mẹ nằm mẹ dỗ tỉ tê:
- Năm gian nhà ngói đề huề đến vui!
Lắc đầu, con chép đôi môi:
- Một gian nhà nhỏ ngọt bùi vẫn hơn.
Mẹ nằm mẹ dỗ nỉ non:
- Gái hơn hai tuổi, đúng tròn câu ca!
Con nằm, con ngoảnh mặt ra:
- Như đôi đũa lệch, như là đàn em.
Mẹ nằm mẹ lại dỗ thêm:
- Bên ông bà ấy, đất nền thương dâu.
Con cười: - Con chẳng mắc câu
Lấy chồng nào phải lấy đâu nhà chồng!
Mẹ ơi, trả cốm trả hồng
Duyên con, con chọn, đẹp lòng con hơn.

482. Buổi nào vuốt mái tóc này
Những là: “Như dải lụa bay quanh người”
Bây giờ anh túm anh lôi
Lụa ơi là lụa tả tơi quanh đường!

Buổi nào nựng má anh thơm
Những là: “Ngọt lịm như hương bưởi đào”
Bây giờ anh tát anh cào
Còn đâu hương bưởi, ngọt ngào miệng thơm?

Buổi nào chín mến mười thương
Ngọn đèn ai tắt, đêm trường ai lay
Bây giờ dùi đục, cẳng tay
Mười thương thì chín đãbay đâu rồi?
Buổi nào đôi mắt sóng đôi
Như soi lòng nước giếng khơi giữa làng
Bây giờ mắt tím mắt vàng
Cho lòng giếng cạn, nước tràn lên mi!

Dở trang luật mới đãghi
Tình chồng nghĩa vợ là gì... hỡi anh?

483. Cầm bút viết thẳng dòng chì kẻ,
Như cấy đều từng giẻ mạ non.
Mạ kia thành thóc thành cơm,
Chữ này nên sáng nên khôn cho đời.
Đầu bàn gỗ - chồng ngồi làm toán,
Cuối bàn tre - vợ dạm bài thơ.
Nhìn nhau nhớ chuyện ngày xưa,
Ngón tay điểm chỉ đen tờ hôn thư.

484. Em mua cuốn sách về nhà,
Anh kêu lãng phí, để mà mua rau.
Đến đêm, dưới ngọn đèn dầu,
Em mang em đọc, anh chầu anh nghe.
Canh một anh chẳng nói chi,
Canh hai giật sách, cười khì: “Đưa đây!
Sao mà họ tả đến hay,
Y như tháng trước u mày giận tao!”
Hôm sau anh nói ngọt ngào,
Nhắn cô bán sách rẽ vào anh mua.

485. Nghe đồn phụ nữ Trung Văn
Bảo nhau “kế hoạch” về thăm xem nào.
ít con, sức mẹ dồi dào
Bốn mươi mà vẫn má đào hây hây.
Nhanh tay cấy, thạo tay cày
Việc nhà việc hội hăng say với người.
Nuôi con, con khỏe con chơi
Dạy con ngoan ngoãn, ai người cũng khen
Mình qua trạm xá mình xem
Cứ dầy thêm sổ chị em đặt vòng.
Ai đùa hát ghẹo gió đông:
- Em ơi đãhỏi ý chồng hay chưa?
- Chị hỏi thì em xin thưa:
Chồng em cứ giục “sao chưa đặt vòng”.
Bởi sung với vả như lòng
Lo ăn, lo mặc nên cùng giống nhau.
Muốn cho nước mạnh, dân giàu
Mình về, em nhắn đôi câu với mình:
Riêng chung trọn nghĩa, đẹp tình
Chỉ nên “kế hoạch” gia đình hai con...
Chia tay trong tiếng cười giòn,
Đường quê sáng bóng trăng non tiễn người.

486. Cả nhà trẩy hội bán hàng
Đôi gà trống thiến bà mang lệch sườn.
Cháu giành đeo bị đậu tương,
Ông bưng rổ trứng còng lưng lò dò.
Sau cùng là chú lợn to
Mẹ nhờ hàng xóm khiêng cho một đầu.
Tiền này chả lấy về đâu
Mua sách con học, mua dầu thắp đêm.
Hai trăm tiết kiệm gửi thêm
Ghi sổ chống Mỹ, có tên cả nhà.

487. ý xuân còn đượm hoa đào
Hồ Gươm biếc sóng dạt dào tin vui
Gió về đường 9 gió ơi
Hoa đưa hương gửi lời người lập công
Chỉ thêu ai nhuộm nên hồng
Cho khăn em đẹp tấm lòng hậu phương
Lá thư băm sáu phố phường
Mang lời hẹn với chiến trường thi đua
Làng Sen đỏ rực bóng cờ
Nâng cao năng suất từng giờ em theo
Máy bay thù rụng chân đèo
Vải thành suối bạc, thoi reo chào mừng
Bản Đông xe giặc cháy bùng
Ra lo thép sáng tưng bừng xưởng em
Khe Sanh chiến thắng vang rền
Lúa chen kín ruộng, rau lên chật đồng
Sóng Sê-pôn gọi sông Hồng
Công trường vào hội bên nòng pháo xanh
Vững vàng tay súng thay anh
Giặc vào, xác giặc tan tành ở đây
Niềm vui náo nức từng ngày
Chiến trường mình đánh thêm hai hỡi mình!
Nhờ mây chở nụ cười xinh
Tặng anh giải phóng chút tình Thủ đô.

488. Người hay nên đất hay tên
Hoa thơm cho bướm làm quen lượn vòng
Đãnghe Phù Đổng, Nam Hồng
Đường Lâm, Song Phương, Đại Đồng lại quen
Cũng là Yên Sở cùng tên
Mình bên sông Đáy, ta bên sông Hồng
Chung con đường lớn, chung lòng
Rau tươi, lúa tốt xanh vòng đai xanh
Qua mười một huyện ngoại thành
Niềm vui sao cứ long lanh mắt mình
Người nào cũng giống trúc xinh
Đất nào đất cũng nặng tình quê hương
Nghe sôi khúc hát lên đường
Quân đi chảy hội biên cương diệt thù
Đống Đa, Đầm Mực còn mồ
Sang đây gửi xác côn đồ lại đây
Pháo đài Hà Nội hôm nay
Vẫn mang khí thế rồng bay sẵn sàng!

489. Uốn cong một khúc Hồng Hà
Rẽ vào dòng thác sông Đà ở đây
Sóng xô ghềnh Bợ chưa say
Trung Hà đãgặp phà dầy sang sông
Phải đường Vật Lại đây không
Thăm đồi cây, Bác đãtrồng năm xưa
Ba Vì đang trắng cơn mưa
Có về núi Chẹ thuyền đưa mình về.
Hôm qua xanh sắc đồng quê
Nay thêm rừng biếc tôi về Thủ đô
Đãquen lướt sóng Tây Hồ
Đồng Mô, Đại Lải bây giờ buồm dong
Đãquen sông Đuống, sông Hồng
Lại vui Hà Nội tựa tưng sông Đà
Sông Cầu quan họ thiết tha
Cà Lồ - sông cả - mượt mà vắt ngang
Sông Tô, sông Nhuệ mơ màng
Mình qua sông Tích hay sang đập Phùng
Chào con sông Đáy thủy chung
Mấy lần thoát lũ đãtừng có nhau
Hôm qua nào có núi cao
Ba Vì non Tản nay vào Thủ đô
Mình lên núi Sóc ta chờ
Vó câu ông Gióng bây giờ còn bay...


490. Quê em đồng bãi Giang Biên
Có giống ngô tốt, anh khen hết lời.
Giờ ngô đất mới, em ơi
Bắp dài, hạt mẩy gấp đôi quê nhà
Vụ một thu hoạch vừa qua
Thiếu kho chứa bắp, thiếu nhà hong ngô
Ngô chen đầy bịch, đầy bồ
Ngô leo lên mái, ngô bỏ quanh hiên
Ai về nhắn với Giang Biên
Nam Ban nay đãnên miền ngô lai
Trồng ngô chẳng chịu thua ai
Thách người đồng bãi đua tài với anh.

491. Ngày xưa không đất cắm dùi
Tha phương cầu thực bằng đôi chân gầy
Bây giờ lên ngự máy bay
Cưỡi mây vài tiếng tới ngay lâm đồng
Đất hồng như bãi sông Hồng
Chả bao giờ đất phụ công của người
Đảng cho đôi cánh của đời
Ta bay đủ tám phương trời cũng bay.

492. Đồng em lạc béo, khoai thơm,
Cấy trồng lúa cũng vượt hơn mọi mùa.
Qua rồi những cảnh năm xưa
Nắng lên đãcạn, chớm mưa đãđầy.
Bây giờ ruộng đó người đây
Tay súng thêm mạnh, tay cày thêm chăm.
Phương Trù ai đãghé thăm,
Nay về Dục Tú chắc rằng cũng mê!

493. Canh muống nấu với tương gừng
Ai ơi ngon bữa xin đừng quên nhau.
Nắng mưa ruộng cạn đầm sâu
Một năm tám lứa trồng rau cho mình.

494. Tay cầm mấy mớ rau non
Nhớ công hợp tác chăm nom mấy lần
Dù em chả lấy chồng gần
Mẹ cha vẫn sẵn canh cần xãcho.

495. Ngày nào hai đứa bảo nhau
Trồng mươi cây mướp phía sau sân nhà.
Bây giờ mướp đãra hoa
Tay em thụ phấn quả ra trĩu giàn.
Ước gì cấy vãn anh sang
Chung mâm chung bát bữa cơm đầu mùa.
Mướp non em nấu canh cua
Để đền công bạn hôm xưa bắc giàn.

496. Cải nào bằng cải Đông Dư
Lá như lá cọ, bẹ như bẹ dừa
Nhà ai mua vại hay chưa
Để ta hong cải nén dưa hộ người
Vụng tay xin chớ vội cười
Chỉ e ăn một nhớ mười cải quê
Muốn về sơm sớm mà về
Muốn mau qua bến Bồ Đề cho mau
Vui chưa xe trước xe sau
Cải xanh mát cả nhịp cầu Long Biên.

497. Hẹn gì hẹn bẩy hẹn ba
Hết hẹn gốc bưởi hẹn qua gốc đào
Không ra e tiếng làm cao
Ra thì ăn nói làm sao cho vừa
Hẹn gì những cợt những đùa
Để nghi để ngại để ngờ lòng nhau
Lắm sương thì chả xanh trầu
Lỡ lầm một phút khổ đau suốt đời
Hẹn gì hẹn thế, chịu thôi
Gốc đào, gốc bưởi anh ngồi mình anh.

498. Năm canh đánh suốt năm canh
Lúa rau vẫn thắm màu xanh ruộng vườn
Làng hoa vẫn ngát hương thơm
ánh đèn vẫn sáng phố phường gần xa
Nửa đêm người thợ vào ca
Tinh sương vẫn tiếng rao quà thanh thanh.
Năm canh đánh suốt năm canh
Vẫn cô mậu dịch đẩy nhanh xe hàng
Lắng nghe tiếng máy nhịp nhàng
Leng keng tàu điện rộn ràng cửa ô
Hiu hiu rét ngọt trong mưa
Êm êm tiếng chổi nhẹ đưa mặt đường
Năm canh là một đêm trường
Bom rơi là thế, phố phường là đây
Tay ta xuyên chín tầng mây
Quật cho lũ “pháo đài bay” tan tành.

Năm canh đánh suốt năm canh
Quân thù bốc cháy đỏ thành Thăng Long
Mắt em buồn ngủ hay không
Chín đêm quan sát rõi trông bầu trời
Năm canh chỉ một đêm thôi
Mà vàng thử lửa rạng ngời bốn phương.
Khâm Thiên, Uy Nỗ, An Dương
Lòng dân như ngọc kim cương đất này
Giẫm chân lên “pháp đài bay”
Mà xem giặc Mỹ giơ tay, cúi đầu...
Bom rơi rơi suốt canh thâu
Vươn vai rũ bụi nhìn nhau lại cười
Tối nay vào trận thứ mười
Năm canh lại sáng dáng người Thủ đô.

499. Bước chân qua đoạn đường này
Gặp cô thợ điện thử dây bên đường
Hỏi đùa: “Cô gái công trường”.
- “Không, em chính ở quê hương đây mà...”.

500. Máy xay tôi ghé thăm qua
Gặp mấy ông già cũng lại công nhân
Hỏi ông, ông cũng phân trần:
“Xã viên mới học có phần chưa quen”.

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan

Edited by - tieuboingoan on 05/25/2006 22:25:45
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  22:19:12  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote

501. Mưa bay, gió lạnh, mưa bay
Con đường hút giữa đêm dày mênh mông
Con đường hút giữa cánh đồng
Con đường hút giữa phập phồng đèn xe
ễnh ương tìm gọi bạn bè
Ru đôi mi mắt nặng nề trong đêm
Bóng ai lặng lẽ bên thềm
Hạt mưa cứ bắn vào thêm với người...

Xe nào vội vã về xuôi
Vút qua gửi lại nụ cười bình yên
Xe nào ì ạch đang lên
Hàng chi phủ bạt kín trên thế này?
Những dòng số vội ghi ngay
Những câu hỏi thoáng một giây ùa vào.

Ai đi giữa trận mưa rào
Bọc gì nặng chĩu đeo sau lưng người
Đường đang trơn lắm em ơi!
Hon-đa chớ phóng đùa chơi tử thần
Dõi xa rồi lại trông gần
ánh đèn đã rọi mấy lần vòng quanh
Có con tàu ngược băng nhanh
Đung đưa Dốc Lã đêm lành lặng yên...

Tôi vừa qua phố Yên Viên
Về thăm trạm đặt giữa miền đồng quê
Ô-tô ngàn chiếc đi về
Mỗi ngày trăm việc bộn bề diễn ra
Phải nào kiểm soát xe qua
Tuần lưu đi suốt cả ba đoạn đường
Bên này cầu Đuống yêu thương
Đến nơi cuối đất Yên - Thường giáp ranh

Ngã ba lối rẽ chợ Nành
Lại ga đầu mối gian manh cũng nhiều.
Đã bao nắng sớm mưa chiều
Mặt đường đã thuộc, quán lều đã quen
Lái xe toàn tuyến nhớ tên
Dấu chân mười bốn anh em trải dài...

502. Niềm vui sóng vỗ sông Hồng
Soi nghiêng nhịp thép bềnh bồng mây đưa
Cầu phao bến đợi năm xưa
Ngô xanh đất bãi mái bờ xe lên.

Bàn tay ai vẫy dưới thuyền
Đỏ cờ ai múa mừng trên mặt cầu
Đôi bờ náo nức sang nhau
Sáu trăm ngày ấy hai đầu thi công

Đã từng nắng táp mưa dông
Cầu rung gió quật, trụ lồng lũ quây
Đã từng đinh tán tê tay
Búa chồn móng cọc, rầm bay ngang trời

Âm vang tiếng hát xây đời
Lửa hàn thắp sáng mặt người trong đêm
Sớm chiều nghẽn lối Long Biên
Càng thêm thôi thúc, càng thêm gọi chờ.

Diệt thù cướp giáo thành thơ
Bảy trăm năm trước bây giờ Chương Dương
Cầu ta tự lực tự cường
Thủ đô vào hội mở đường thông xe
Bốn phương rộng lối đi về
Phúc Tân nối với Bồ Đề từ nay.

Thăng Long đã đẹp rồng bay
Chương Dương vầng sáng sông này vui thêm.

503. Phất cờ đồng khởi thi đua
Thủ đô nổi trống vào mùa dựng xây.

Đất xưa chôn pháo đài bay
Đẹp tươi ngói đỏ từng ngày lên cao
Bàn tay ai xẻ chiến hào
Bây giờ đào móng cho bao ngôi nhà
Mười năm nổi lửa Hồng Hà
Nước non vang dội khúc ca anh hùng
Bây giờ xây cuộc đời chung
Bài ca lao động anh hùng lại vang.

Có sang Thủ Lệ mời sang
Mà xem vườn thú mở mang bốn bề
Sông Hồng ai đắp chân đê
Đường Trần Quang Khải đi về thênh thang
Quỳnh Lôi thoát cảnh nước dềnh
Ai khơi lòng cống cho mình mình ơi!

Thanh Nhàn bùn đọng bao đời
Xây vườn hoa mới mọi người gom tay
Đống Đa hồ cá là đây
Bàn tay tuổi trẻ bao ngày đào sâu
Có qua Tô Lịch cùng nhau
Dòng sông nạo vét mở đầu xuân nay.

Một lời xin hẹn cùng ai
Công trường góp sức đua tài đôi ta
Chung tay xây dựng quê nhà
Đất anh hùng nở thêm hoa anh hùng.


www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  22:29:31  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
B - Ngạn ngữ

1- Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến
2- Thứ nhất Thanh Trì, thứ nhì Thanh Oai
3- Thứ nhất Thanh Oai, thứ hai Thanh Trì
4- Thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Pháp
5- Thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Thăng Long, thứ ba Sùng Nghiêm.
6- Thứ nhất họ Hoa, thứ nhì họ Nguyễn, thứ ba họ Hoàng
7- Thứ nhất Ba Giai, thứ hai Tú Xuất
8- Nhất Kinh Kỳ, nhì Bợ Bạt
9- Nhất Mỗ, nhì La, thứ ba Canh, Cót
10- Mỗ, La, Canh, Cót - tứ danh hương
11- Thơ Mỗ, phú Cách, sách Vẽ
12- Nhất ếch, nhì Đa, tam La, tứ Bích
13- ếch tháng mười, người Hà Nội
14- Đất Ngọc Hà, hoa Hữu Tiệp
15- Tương Nhật Tảo, đào Nhật Tân, phân Cổ Nhuế
16- Trai Tam Đái, gái Từ Liêm
17- Trai Ngõ Trạm, gái Tạm Thương
18- Trai Đồn Thủy, gái Bình Lao
19- Bồi Đồn Thủy, đĩ Bình Lao
20- Đàn ông kẻ La, đàn bà kẻ Cót
21- Đất kẻ Giàn, quan kẻ Vẽ
22- Hồng xiêm làng Giàn, mũ nan làng Vẽ
23- Quan kẻ Mọc, thóc Mễ Trì
24- Lắm lúa kẻ Giàn, lắm quan kẻ Mọc, lắm thóc Mễ Trì
25- Tiền làng Mọc, thóc làng Khoang, khoai lang Triều Khúc, bánh đúc Đơ Bùi
26- Giành Cáo, gạo Vòng
27- Đinh Phú Gia, điền Phú Mỹ
28- Rau Ngô Đạo, gạo Cốc Lương
29- Mạ Đơ Bùi, mùi kẻ Láng
30- Lúa đồng Ngâu, trâu Yên Mỹ
31- Lợn Tó, gà Trò
32- Thợ Sốm, cốm Vòng
33- Thúng làng Sái, gái làng Hạ, mạ làng Nai, trai làng Gùn
34- Vải La, cà Đăm
35- Kẻ Kỳ gánh cân, kẻ Vân gánh nánh
36- Lắm thóc làng Đàng, lắm vàng làng Keo, lắm cheo Đình Tổ, lắm giỗ Gia Lâm, giàu ngầm Cổ Biện
37- Bánh cuốn Thanh Trì, bánh dì Quán Gánh
38- Bánh dày làng Kẻ, bánh tẻ kẻ So
39- Bánh đúc làng Kẻ, bánh tẻ làng Diễn
40- Giò Trèm, nem Vẽ, chuối Sù
41- Thóc Lại Yên, tiền kẻ Giá, cá kẻ Canh, bánh dày làng Kẻ, bánh tẻ kẻ So
42- Cháo Dương, tương Sủi, đậu Vụi, cà Hàn
43- Chè quán Dạo, cháo quán Tiên
44- Chè vối Cầu Tiên, bún sen Tứ Kỳ
45- Cơm Văn Giáp, táp Cầu Giền, chè quán Tiên, tiền Thanh Nghệ
46- Bùn Cống Trắng, nắng Khâm Thiên
47- Muỗi Khâm Thiên, tiền Hà Nội
48- Bạc Thổ Quan, gan Trung Tả
49- Lò vật Quỳnh Đô, giỏ cua Cổ Điển
50- Rượu kẻ Mơ, cờ Mộ Trạch
51- Rượu làng Mơ, cá rô đầm Sét
52- Rượu hũ làng Ngâu, bánh đúc trâu làng Tó
54- Nước mắm kẻ Đô, cá rô đầm Sét
55- Cá rô đầm Sét, cá chép đầm Đại
56- Cá rô đầm Sét, cá chép sông Đơ
57- Cá rô đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây
58- Cá kẻ Canh, hành kẻ Láng
59- Cá sông Đôi, xôi Kẻ Quánh
60- Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét.
61- Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm, cá rô đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây
62- ổi Định Công, nhãn lồng làng Quang, vàng làng Tó, kéo vó xóm Văn
63- ớt Định Công, nhãn lồng làng Quang, vàng làng Sét
64- Bằng vải, Bằng dưa, Lĩnh cua, Tứ bún
65- Rau cải làng Tiếu chấm nước điếu cũng ngon
66- Cam Canh, hồng Diễn, cốm Vòng
67- Cam Canh, bưởi Diễn
68- Bán mít chợ Đông, bán hồng chợ Tây, bán mây chợ Huyện, bán quyến chợ Đào.
69- Diêm quả đào, thuốc lào làng Nhót
70- Mực Cầu Cậy, giấy làng Hồ
71- Lĩnh Bưởi, lụa La, thêu hoa Ngũ Xã
72- Lĩnh Bưởi, lụa Nga, là Sốm
73- Lĩnh Sài, nhiễu Giấy
74- The La, lĩnh bưởi, cấp Mỗ, chồi Phùng
75- The La Cả, vải Đồng Lầm
76- Làng Mui thì bán củi đồng
77- Đất làng Tó chó chạy lòi đuôi
78- Khó Trung Màu, giàu thiên hạ
79- Bòn như Định Công bòn vàng
80- Gốm Bát Tràng, vàng Định Công, đồng Kẻ Sặt, sắt Nga Hoàng
81- Nhất xương, nhì da, thứ ba rạc lò
82- Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã
83- Khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ Chợ
84- Thơm tho hoa sói, hoa nhài, khôn khéo thợ thày Kẻ Chợ
85- Làng hình sống trâu, chỉ đãi dâu không đãi rể
86- Bến trúc Nghị Tàm, rừng bàng Yên Thái
87- Thành Cổ Loa, cây đa Dục Tú
88- Ghềnh Bạc, thác Sù.
89- Phật đá Cầu Đông, tượng đồng Trấn Vũ
90- Bánh dày nếp cái, con gái họ Ngô
91- Họ Ngô một bồ tiến sĩ
92- Dốt Đông Ngàn hơn người ngoan thiên hạ
93- Nợ như chúa Chổm
94- Sống canh cửa Tràng Tiền, chết bộ hạ Trung Hiền Kẻ Mơ
95- Sống làm con trai Bát Tràng, chết làm thần hoàng Kiêu Kỵ
96- Chơi với quan viên kẻ Vẽ, không có bát mẻ mà ăn
97- Chơi với kẻ Sổm, không ốm cũng què
98- Rét xuống Sét mà ở, xuống Sở mà đi, xuống âm ti mà nằm
99- Có mặt: ông Tây, vắng mặt: thày tăng
100- Có mặt: chú khách, vắng mặt: thằng Ngô

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  22:32:13  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
101- Bút làng Trèm, làng Trèm vẽ; giày làng Kẻ, làng Kẻ đi; việc gì đến Noi, Noi cáo.
102- Bỏ con bỏ cháu, không bỏ mồng sáu tháng giêng
103- Chết bỏ con cháu, sống không bỏ mồng sáu tháng giêng
104- Cha đánh mẹ treo cũng không bỏ chùa Keo ngày rằm
105. Râm râm hội Khám, u ám hội Dâu, vỡ đầu hội Gióng
106. Mồng bẩy hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu trở về hội Gióng
107. Hội Dâu đã tàn, hội Gióng đã tan, ai còn hồng nhan thì về hội Bưởi
108. Nắng ông Từa, mưa ông Gióng
109. Làng Mọc thờ đầu, làng Cầu thờ chân, Pháp Vân thờ khúc giữa
110. Làng Cầu chém lợn, làng Cự kéo co, làng Ngò chạy ngựa
111. Cỗ Dương Đanh, hành làng Nội, hội làng Lan, tàn làng Quán, hương án làng Đề
112. Cà Hàn, cải Táo, cháo Dương, tương Sủi
113. Trông Chè, mõ Then, kèn Táo, cháo Dương, tương Sủi, củi Đàng, vàng Keo, bèo Trỗ
114. Trống làng Then, kèn làng Táo, giáo mác làng Vụi, tài vật làng Dương, tương ngon làng Sủi
115. Chuông thôn Đống, trống Hạ Trì, mõ Tây Đam, tù và Thượng Cát
116. Nhất chuông kẻ Khổng, nhất trống kẻ Mơ
117. Vui xem hát, nhạt xem bơi, tả tơi xem hội, bối rối xem đám ma, bỏ cửa bỏ nhà đi xem giảng thập điều

118. Lục đục Thọ Cầu
Lau tau làng Tháp
Hay hát làng Hà
Nói xa làng Miễu
Nói khiếu làng Tăng
Nói nhăng Ao Dài
Nói dai kẻ Cót
Hay hót kẻ Mẩy
Hay sấy Hậu Thôn
Hay đồn Mai Dịch.

119. Động mây Độc Tôn, vác nồi rang thóc
Động gió núi Sóc, đổ thóc ra phơi.
120. Ngồi Cầu Đơ, nói mách Mọc
121. Quậy ủ Chủ tươi, Quậy cười Chủ khóc
122. Thứ nhất Vũ Giai, thứ hai Trần Hiền

123. Gớm đời ô mẹ Hót
Í éc lợn hàn Thân
Khốn khổ thơ hộ Bớt
Dày mặt kiện hương Xuân
Kềnh càng trâu phó Hội
Bơ vơ lọng cụ Tuần

124. Giàu thủ quê không bằng kéo lê Hà Nội
125. Đẹp người giăng há, đẹp mã ả đào
126. Vui cô đầu, rầu canh bạc, nát rượu ty, bi thuốc sái
127. Lấy quan, quan cách; lấy khách, khách về Tầu; lấy nhà giàu, nhà giàu hết của
128. Hoàng trùng đi, Vi trùng lại; gây tai gây hại chẳng kém gì nhau
129. Quý Đức làm sao, Đăng Bao làm vậy
130. Kiện Gia Lâm, lầm bầm Lệ Chi
131. Đất Sủi ai bì, Thượng thư một ngõ bốn vì hiển vinh
132. Giỗ Quỳnh Lôi, xôi làng Cát
133. Giã gạo thì ốm, giã cốm thì khỏe
134. Đầu mùa đồng trắng nước trong; cuối mùa rau dong, rau dừa.
135. Thóc kẻ Tiên, tiền Đức Hậu
136. Bảo Đại làm hại ăn mày
137. Trai kén vợ giữa chợ Đồng Xuân, gái kén chồng giữa phường Quần Ngựa


www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  22:41:09  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Phần Hai

Bảng tra cứu địa danh

Vhữ viết tắt:

h. huyện
L. làng
ph. phường
q. quận
t. tổng
th. thôn
x. xã
x. xem


Ái Mộ 1- th. thuộc x. Bồ Đề, h. Gia Lâm, bờ bắc cầu Long Biên. 2- th. thuộc x. Yên Viên, h. Gia Lâm.
An Dương khu lao động ngoài đê sông Hồng, bị bom B52 hủy diệt, 12-1972.
An Hòa Còn gọi Yên Hòa. 1- tên nôm l. Giấy ở cạnh Cầu Giấy, thuộc ph. Yên Hòa. 2- th. thuộc t. Yên Hòa (Hữu Nghiêm cũ), h. Thọ Xương. 3- tên: th. thuộc h. Thọ Xương.
An Nội Có 2 th. An Nội đều thuộc t. Thuận Mỹ, h. Thọ Xương. Còn gọi Yên Nội Cổ Vũ và Yên Nội Đông Thành (Hàng Da, Hàng Nón bây giờ).
An Phú làng của xã Nghĩa Đô, có nghề kẹo nha, nay thuộc ph. Nghĩa Đô, q. Cầu Giấy.
An Quang Còn gọi Yên Quang, th. thuộc t. Yên Thành, h. Vĩnh Thuận, do nhập 3 th. Quan Quang, Trấn Vũ. Tân Yên lại (nay là đầu phố Quán Thánh).
An Tập Còn gọi Yên Tập, th. thuộc t. Tiền Nghiêm (sau là Vĩnh Xương) h. Thọ Xương (nay là đầu phố Quán Sứ).
An Thái Còn gọi là Yên Thái. 1- th. thuộc t. Tiền Túc (sau là Thuận Mỹ) h. Thọ Xương, có đình Chợ Thêu (nay là ngõ Yên Thái - Tạm Thương) 2- ph. làm giấy thuộc Kẻ Bưởi, xưa thuộc t. Trung, h. Vĩnh Thuận, có rừng bàng đẹp (nay thuộc ph. Bưởi, q. Tây Hồ).
An Thuận Còn gọi Yên Thuận, th. thuộc t. Yên Thành. h. Vĩnh Thuận (nay là phố Hàng Than, đầu Nguyễn Trường Tộ).
An Trạch Còn gọi Yên Trạch, th. thuộc t. Yên Thành, h. Vĩnh Thuận (nay vào khoảng các phố Đoàn Thị Điểm - Đặng Trần Côn - Cát Linh).
Anh Trung Còn gọi Yên Trung, có 2 th. Thượng, Hạ thuộc t. Tiền Nghiêm, h. Thọ Xương (nay là Cửa Nam, Bông Lờ, cuối Phùng Hưng).
Ao Dài tức Vòng Ao Dài, tên nôm 1. Duệ Tú, nay là 1 xóm của th. Dịch Vọng Tiền, ph. Dịch Vọng, q. Cầu Giấy.
Ba Vì, núi, còn gọi núi Tản, Tản Viên (nay thuộc h. Ba Vì, tỉnh Hà Tây).
Bà Đanh Chùa cổ cạnh Hồ Tây, (chỗ trường Chu Văn An) nay không còn, tấm bia “Bà Đanh Tự” đem để ở chùa làng Thụe Khuê.
Bạc 1- Hàng Bạc, phố cổ làm nghề kim hoàn, xưa thuộc ph. Đông Các, h. Thọ Xương. 2- Quán Bạc, th. Đổng Viên, x. Phù Đổng, h. Gia Lâm, nơi diễn ra điệu múa cờ thứ nhất của Hội Gióng. 3- Ghềnh trên sông Hồng thuộc ph. Phú Thượng, q. Tây Hồ.
Bách Thú tức Bách Thảo, vờn do Pháp xây dựng năm 1890 trên đất ph. Khán Xuân. Cổng vào ở phố Ngọc Hà và Hoàng Hoa Thám.
Bạch Hạc: Ngã ba sông Hồng - sông Lô, quen gọi Ngã ba Hạc (nay là thị trấn Bạch Hạc, ngoại thị Việt Trì).
Bạch Mai: Trước có tên Hồng Mai, ph. thuộc t. Tả Nghiêm, h. Thọ Xương (nay là khu vực Ô Cầu Giền - Bạch Mai).
Bài Hàng Bài, phố trên đất th. Cựu Lâu, Vũ Thạch, Hàm Khánh, h. Thọ Xương. Xưa có nhiều hàng bán các loại bài lá, ở gần Hồ Gươm.
Bái Ân một ph. vùng Bưởi, có nghề làm giấy và dệt lĩnh thuộc x. Nghĩa Đô, (nay là ph. Nghĩa Đô, q. Cầu Giấy).
Bàn cờ một ngọn nmúi trong dãy núi chân Tam Đảo thuộc h. Sóc Sơn.
Báng Tên nôm của làng Đình Bảng, phủ Từ Sơn (nay là h. Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
Báo Lính tên khác của th. Trừng Thanh Trung Bè Hạ, còn gọi Trung Bảo Phiệt, thuộc t. Tả Túc, h. Thọ Xương (nay là đầu phố Hàng Thùng).
Bảo Khánh th. thuộc t. Thuận Mỹ, h. Thọ Xương, do nhập 2 thôn Báo Thiên Tự và Hữu Khánh Thụy (nay là phố Bảo Khánh, q. Hoàn Kiếm).
Báo Thiên tên chung của 3 thôn: Báo Thiên Tự, Báo Thiên Chùa Tháp, Báo Thiên Thị Vật, t. Tiền Túc, h. Thọ Xương: nơi có chùa và tháp Báo Thiên nổi tiếng, sau phá đi xây Nhà Thờ Lớn (nay là phố Nhà Thờ - cuối Hàng Trống).
Bát Hàng Bát, chỉ chung các phố Bát Sứ (Bát Ngô), Bát Đàn trước thuộc th. Đông Thành, Nhân Nội, t. Tiền Túc, h. Thọ Xương.
Bát Ngô, Bát Sứ: Phố cổ chuyên bán đồ sứ Trung Quốc, ở liền phố Bát Đàn bán đồ gốm nội địa. X. Bát.
Bát Tràng Làng gốm sứ lâu đời ở bờ bắc sông Hồng, nay là xã Bát Tràng, h. Gia Lâm.
Bắc Cầu th. thuộc x. Ngọc Thụy, h. Gia Lâm.
Bắc Hạ tức Cổ Vũ Bắc Hạ - Bắc Thượng Thôn, t. Tiền Nghiêm, h. Thọ Xương (nay là cuối phố Tràng Thi).
Bắc Hồng: x. thuộc h. Đông Anh.
Bắc Ninh tên tỉnh ở phía bắc Hà Nội, xưa thuộc trấn Kinh Bắc, có thời kỳ nhập với tỉnh Bắc Giang thành Hà Bắc, nay là tỉnh riêng.
Bắc Thượng X. Bắc Hạ
Bằng gọi tắt tên l. Bằng Liệt, có 2 xóm Bằng Thượng, Bằng Hạ (nay thuộc x. Hoằng Liệt, h. Thanh Trì).
Bần tức Bần Yên Nhân, l. thuộc h. Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, nay là thị trấn thuộc h. Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên. Có đặc sản tương ngon.
Bây, Cầu Bây th. thuộc x. Thạch Bàn, h. Gia Lâm.
Bẩy Mẫu hồ lớn thuộc l. Kim Liên, nay ở trong công viên V.I. Lênin.
Bè Hàng Bè, đất thôn Nam Hoa, t. Hữu Túc, h. Thọ Xương, giáp sông Hồng, có các lán bán tre nứa đưa từ bè lên mà thành tên.
Bến Cổ tên nôm của Cổ Tân, bến sông Hồng khoảng sau Nhà Hát Lớn.
Bích Lưu th. thuộc t. Tiền Nghiêm, h. Thọ Xương, tên cũ là Bích Du, gần Hỏa Lò.
Bình Lao tên cũ của phố Hàng Chĩnh, thời thuộc Pháp tập trung gái điếm thành xóm.
Bình Lõ tên cổ của l, Vệ Linh, nơi có núi Sóc và đền Sóc thờ ông Gióng (nay thuộc x. Phù Linh, h. Sóc Sơn).
Bình Vọng tên nôm làng Bằng, nay thuộc x. Hạ Hồi, h. Thường Tín, tỉnh Hà Tây, có nghề sơn ta.
Bỏi Tên nôm xã Hải Bối, h. Đông Anh.
Bồ Hàng Bồ xưa bán hàng nan tre, nứa, thuộc th. Xuân Hòa, Nhân Nội, t. Tiền Túc, h. Thọ Xương.
Bồ Đề tên khác của l. Phú Viên, xưa nghĩa quân Lam Sơn đóng trại vây thành Đông Quan ở đây, (nay thuộc x. Bồ Đề, h. Gia Lâm) khúc sông Hồng chảy qua đây cũng được gọi là sông Bồ Đề.
Bộc Am chùa Bộc ở l. Khương Thượng, Đống Đa, tương truyền có tượng thờ Quang Trung (nay ở phố Chùa Bộc, q. Đống Đa).
Bột Hàng Bột, phố cũ, tên nôm của th. Hương Miến, t. Hữu Nghiêm, h. Thọ Xương (nay là phố Tôn Đức Thắng, q. Đống Đa).
Bờ Sông Bờ, tên khác của sông Đà.
Bợ - Bạt: Bợ là x. Thành Công, h. Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ bây giờ. Bạt là x. Tòng Bạt, h. Ba Vì, nay thuộc tỉnh Hà Tây, Hai làng ở hai bên sông Đà.
Buồm Hàng Buồm, đất ph. Hà Khẩu cũ, ở cửa sông Tô nơi thông với sông Hồng, gọi là bến Giang Khẩu, có nhiều thuyền buồm đậu nên thành tên.
Bút 1- Hàng Bút, xưa có tên là phố Hàng Mụn, thuộc th. Đông Thành, t. Tiền Túc, h. Thọ Xương, 2- Tháp Bút trên núi Đào Tai trước cổng đền Ngọc Sơn, bên Hồ Gươm, do Nguyễn Văn Siêu xây năm 1864.
Bừa Hàng Bừa, tên cũ của phố Lò Rèn hiện nay, đất th. Tân Khai, t. Tiền Túc, h. Thọ Xương.
Bưởi 1- Tên chung cả một vùng gọi là Kẻ Bưởi, xưa thuộc t. Trung, h. Vĩnh Thuận, gồm: Bái Ân, Hồ Khẩu, Yên Thái, Trích Sài, Trung Nha, Vạn Long, An Phú, Đoài Môn, Tiên Thượng (nay là các phường Bưởi, Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy). 2- Làng Đại Bái, h. Thuận Thành, Bắc Ninh.
Cà Lồ Sông từ Phúc Yên chạy vòng làm ranh giới các h. Sóc Sơn, Mê Linh, Đông Anh đến xã Việt Long (Sóc Sơn) đổ vào sông Cầu ở ngã ba Sà. Còn gọi sông Phù Lỗ.
Cách Tên nôm làng Trúng Đích, xưa là x. Thượng Trì, nay thuộc x. Hạ Mỗ, h. Đan Phượng, tỉnh Hà Tây.
Cái Sông Cái, x. Hồng.
Cảm Hội Tên do sát nhập 2 thôn Cảm ứng và Yên Hội, t. Thanh Nhàn, h. Thọ Xương (nay vào đầu phố Nguyễn Công Trứ – Lò Đúc có phố Cảm Hội)
Canh Tên nôm chỉ 2 l. Phương Canh (x. Xuân Phương, h. Từ Liêm) và Vân Canh (xa. Vân Canh, h. Hoài Đức, tỉnh Hà Tây) ở liền nhau, cùng có giống cam ngon.
Cao Tung Núi trong dãy núi ở h. Sóc Sơn.
Cáo Tên gọi tắt 1. Cáo Đỉnh, còn gọi Kẻ Giàn, nay là 1 thôn. thuộc x. Xuân Đỉnh, h. Từ Liêm, nơi có nhiều thế đất quý.
Cau Hàng Cau, tên nôm của th. Nam Phố, t. Hữu Túc, h. Thọ Xương, nay là đoạn đầu phố Hàng Bè, xưa có nhiều hàng cau khô.
Cát Làng Cát Nhị, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa, dân ra trú ở Quỳnh Lôi.
Cấm chỉ Tên cũ của ngõ Hàng Bông gần Cửa Nam.
Cầu 1- Chợ Cầu, tức chợ Cầu Đông (nay là Đồng Xuân) xưa có Phật đá trắng tạc thời Lê Trung Hưng ở đầu cầu qua sông Tô. 2- Lủ Cầu, têm môm l. Kim Giang, x.Đại Kim, h. Thanh Trì. 3- Thạch Cầu, nay thuộc x. Thạch Bàn, h. Gia Lâm, có tục chém lợn tế thần ngày hội làng 11 tháng 2 lịch âm.
Cầu Giền bắc qua sông Kim Ngưu ở đầu phố Bạch Mai, Ngã tư Bạch Mai - Phố Huế - Trần Khát Chân - Đại Cồ Việt gọi là Ô Cầu Giền, vốn là cửa ô Thịnh Yên cũ.
Cầu Gỗ Cầu bắc qua con ngòi nối hồ Thái Cực (Hàng Đào) với Hồ Gươm xưa, sau lấp đi làm phố mang tên này.
Cầu Nôm Tên nôm l. Đại Đồng, chuyên đi mua đồng nát, nay thuộc Hưng Yên.
Cây Thị Dốc trên phố Bà Triệu, gần ngã năm Nguyễn Du.
Chanh Ngã ba Chanh, chưa rõ ở đâu.
Cha Nghi l. Nghi Tàm, nay thuộc ph. Quảng An, q. Tây Hồ.
Chân Cầm Tên phố ở trên đất 2 th. Chân Tiên và Minh Cầm, h. Thọ Xương.
Châu Cầu Châu, chưa rõ ở đâu. Theo Hoàng Đạo Thúy, chùa Châu Long xây trên gò Hòn Châu, xưa Hồ Tây thông với sông, ở đây có bến Châu (Châu Chử), có thể có cầu chăng?
Châu An Còn gọi Châu Yên, th. Thuộc tổng Yên Thành, h. Vĩnh Thuận, do nhập 2 th. Châu Long và Yên Diên mà thành tên.
Chè Tên nôm l. Giao Tự (nay thuộc x. Kim Sơn, h. Gia Lâm).
Chẹ Tên núi ở h. Ba Vì, tỉnh Hà Tây.
Chèm X. Trèm.
Chiếu Hàng Chiếu, đất thôn Thanh Hà, t. Hậu Túc, h. Thọ Xương, thời Pháp thuộc còn gọi Phố Mới, có Ô Quan Chưởng, tức Đông Hà Môn, một cửa ô cổ còn lại của thành Thăng Long.
Chợ Đuổi tên dân gian của phố Tuệ Tĩnh bây giờ, nơi họp chợ tạm sau khi hết giờ mở chợ Hôm.
Chủ Kẻ Chủ, tên nôm của l. Cổ Loa, nơi có Thành ốc và đền An Dương Vương, h. Đông Anh.
Chùa Hồ Sen ở khu vực hồ Bẩy Mẫu trước đây.
Chum Tên gọi khác của phố Hàng Chĩnh, xưa bán hàng Sành, chum, vại, vò, chĩnh, tiểu sành.
Chuông Tên nôm của x. Yên Quyết, có 2 thôn: Thượng Yên Quyết (l. Giấy), Hạ Yên Quyết (l. Cót) có nghề làm giấy bản, giấy quạt, nhuộm giấy màu, vàng thoi. Xưa có cầu Tây Dương nổi tiếng, nay không còn ở chỗ Cầu Giấy (nay là ph. Yên Hòa, q. Cầu Giấy) Cót là một trong 4 l. của huyện Từ Liêm cũ có nhiều người đỗ đạt.
Công Đình Thôn thuộc xã Đình Xuyên, h. Gia Lâm.
Cố Ngự Đập ngăn 2 hồ Hồ Tây và Trúc Bạch, thường gọi chệch là Cổ Ngư, (nay là đường Thanh Niên).
Cống An Còn gọi Cống Yên, một trại thuộc “Thập tam trại”, t. Nội, h. Vĩnh Thuận (nay thuộc Vĩnh Phúc, q. Ba Đình).
Cống Trắng Tên cái cống ở giữa phố Khâm Thiên, q. Đống Đa.
Cốc Lương Thôn thuộc xa. Tân Hưng, h. Sóc Sơn.
Cống Vị Một trại thuộc “Thập tam trại” xưa t. Nội, h. Vĩnh Thuận (nay là q. Ba Đình).
Cổ Bi Xã cạnh đường 5, h. Gia Lâm, nơi có di tích phủ Kim Thành, hành cung của chúa Trịnh, xây dở dang năm 1727.
Cổ Điển th. Thuộc x. Tứ Hiệp, h. Thanh Trì, vùng đồng trũng, nhiều cua.
Cổ Biện Tên cũ của l. Cổ Giang, x. Lệ Chi, h. Gia Lâm.
Cổ Loa Kinh đô nhà nước Âu Lạc, quê hương truyện Mị Châu – Trọng Thủy, có thành ốc do vua Thục xây. Còn gọi Kẻ Chủ. Năm 939, Ngô Quyền xưng vương cũng đóng đô ở đây. Hội đền vào ngày 6 tháng giêng lịch âm. (Nay thuộc x. Cổ Loa, h. Đông Anh).
Cổ Lương th. thuộc t. Hậu Túc (sau là t. Đồng Xuân), h. Thọ Xương, có đình cổ xưa học trò thường đến trọ (nay ở số 28 Nguyễn Văn Siêu).
Cổ Nhuế Tên nôm là Kẻ Noi, có nghề hót phân bón ruộng, nay thuộc h. Từ Liêm.
Cổ Pháp Tên cổ của l. Đình Bảng, nơi có lăng 8 đời vua Lý (nay thuộc h. Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc).
Cổ Tân X. Bến Cổ
Cổ Vũ h. Thọ Xương có 5 th. Cổ Vũ: Cổ Vũ Bắc Thượng – Bắc Hạ thôn, (X. Bắc Hạ), Cổ Vũ Hạ, Thượng, Trung và Yên Nội cùng thuộc t. Tiền Túc (nay là khu vực Hàng Da).
Cơ Xá Làng bãi do sáp nhập 6 thôn Thủy cơ cùng bãi ven sông Hồng (nay là đường Bạch Đằng – Phúc Tân).
Cuốc Hàng Cuốc, một phố cũ có nhiều nhà bán cuốc, trên đất th. Tân Khai, l. Tiền Túc, h. Thọ Xương (nay là đoạn cuối phố Hàng Vải).
Cự Tên tắt l. Cự Linh – Ngọc Trì, nay thuộc xã Thạch Bàn, h. Gia Lâm, có Hội kéo co ngày 11 – 12 tháng 2 âm lịch.
Cửa Đông Cửa Đông thành cổ (nay ở cuối phố Cửa Nam, giáp phố Phùng Hưng).
Cửa Nam Cửa Nam thành cổ (Nay là khu vực phố và chợ Cửa Nam).
Cựu Lâu Th. thuộc t. Đông Thọ, h. Thọ Xương, do sáp nhập các thôn Hậu Bỉ, Hậu Lâu, Kho súng (nay là giữa phố Lý Thái Tổ, Ngô Quyền).

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 05/25/2006 :  22:42:19  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Da Hàng Da, đất thôn Cổ Vũ Yên Nội, xưa có bán các loại da trâu bò thuộc.
Dài Núi Dài, dãy núi có nhiều ngọn như Bàn Cờ, Trảm Tướng, Cao Tung, Mũi Cày, Đụn Rạ ở phía tây h. Sóc Sơn, chân núi Tam Đảo.
Dạo Quán Dạo, nay thuộc x. Đức Giang (Trôi), h. Hoài Đức, tỉnh Hà Tây.
Dâu 1- Tên sông ở x. Xuân Canh, h. Đông Anh, nợi hợp lưu sông Đuống và sông Hồng, bến Dâu là bến Xuân Canh. 2- Tên nôm làng Khương Tự, h. Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, hội Chùa Dâu vào ngày 8 tháng 4 lich âm.
Dịch Vọng x. thuộc h. Từ Liêm, gồm 3 th.: Tiền, Trung, Hậu (nay là ph. Quan Hoa và ph. Dịch Vọng, q. Cầu Giấy.
Diễn Vùng Kẻ Diễn gồm các l. Phú Diễn, Đức Diễn, Đình Quán, Kiều Mai, Ngọc Long, Nguyên Xá, Văn Trì nay thuộc xã phú Diễn và Minh Khai, h. Từ Liêm. Thị trấn Cầu Diễn mới lập cũng trên đất này.
Dinh Chợ Dinh, có thể là chợ ở gần dinh Phủ Doãn xưa (nay là phố Phủ Doãn – Ngõ Huyện).
Dục Nội th. thuộc x. Việt Hùng, h. Đông Anh.
Dục Tú Xã tiếp giáp thành Cổ Loa, thường có sự tranh chấp đất đai với nhau, cùng thuộc h. Đông Anh.
Dũng Thọ th. thuộc t. Đông Thọ, h. Thọ Xương (nay là Hàng Bạch - Tạ Hiện).
Duyên Hà x. vùng bãi sông Hồng, h. Thanh Trì.
Duyên Hưng còn gọi Diêm Hưng, một phường thuộc l. Hữu Túc (sau là Đông Thọ), h. Thọ Xương (nay là Hàng Ngang).
Dưa Chợ Dừa, Ô Chợ Dừa ở vào ngã năm Khâm Thiên - La Thành - Tôn Đức Thắng - Nguyễn Lương Bằng, q. Đống Đa, nơi xưa có cửa ô Thinh Quang sau đổi là ô Thinh Hào, cửa ra Thượng đạo đi về phương Nam.
Dựa Tên nôm làng Nam Dư gồm 2 thôn Thượng Hạ; thôn Thượng nay thuộc x. Lĩnh Nam, thôn Hạ thuộc x. Trần Phú, h. Thanh Trì.
Dương Tức l. Dương Đình, nay thuộc x. Dương Xá, huyện Gia Lâm, có đền Bà Tấm và nghề nấu cháo bán khắp nơi. Hội đền Bà Tấm vào ngày 20 tháng 2 lịch âm.
Dương Đanh X. Dương
Đa Lộc Làng trước thuộc h. Yên Lãng, nay là hai th. Cổ Nhuế và Thiên Biêu (Bầu) của x. Kim Chung, h. Đông Anh.
Đá 1 Chùa Bà Đá ở th. Báo Thiên (nay là phố Nhà Thờ). 2- th. Dương Đá, x. Dương.
Đại Tức làng Đại Từ, x. Đại Kim, h. Thanh Trì. Đầm lớn ở bên làng gọi là đầm Đại, còn gọi đầm Linh đàm hoặc Linh Đường.
Đại Độ th. thuộc x. Võng La, h. Đông Anh.
Đại Đồng tên th. thuộc x. Đại Mạch, h. Đông Anh.
Đại Lời Tức Đại Lợi, tên của ph. Hàng Đào, còn gọi là ph. Thái Cực, t. Tiên Túc, h. Thọ Xương. Xưa có nghề nhuộm điều.
Đại Từ X. Đại
Đại Yên Còn gọi Đại An, một trong “Thập Tam trại”, có nghề trồng cây thuốc.
Đam Tên nôm l. Văn Uyên (nay thuộc x. Duyên Hà), h. Thanh Trì.
Đàn Hàng Đàn, tên cũ của nửa phía tây phố Hàng Quạt ngày nay, xưa bán các nhạc cụ dân tộc, sau nhập vào Hàng Quạt.
Đàng Tên nôm làng Sen Hồ, còn gọi là làng Sen, Liên Đường hoặc l. Tiếu (nay là l. th. của x. Lệ Chi, h. Gia Lâm).
Đào Hàng Đào, x. Đại Lời.
Đào Thục, Đào Xá Các tên gọi khác của l. Dền, có nghề múa rối nước cổ truyền (nay là l. th. thuộc x. Thụy Lâm, h. Đông Anh).
Đăm Tên nôm l. Tây Tựu, h. Từ Liêm, làng rau quả nổi tiếng và có Hội bơi chải vào ngày 9 tháng 3 lịch âm.
Đầm 1- Một xóm của l. Khán Xuân, phía nam Bách Thảo, xưa có loại rau ngổ trắng thơm mát. 2- Tên gọi khác của l. Đại Từ vì có đầm Đại lớn, (nay là khu vực Linh Đàm).
Đậu Hàng Đậu, xưa bán các loại đỗ, đậu hạt, thuộc đất th. Phúc Lâm, t. Tả Túc và th. Nghĩa Lập, t. Hữu Túc, h. Thọ Xương. Tiến sĩ Lê Đình Duyên mở trường Cúc Hiên ở đây.
Đê Gọi tắt l. Đê Trụ, nay thuộc x. Dương Quang, h. Gia Lâm.
Điếu Hàng Điếu, đất th. Yên Nội, t. Tiền Túc, h. Thọ Xương, xưa bán các loại điếu hút thuốc lào.
Đình Dù x. Thuộc huyện Văn Lâm, Hưng Yên, còn là tên ga xe lửa Hà Nội - Hải Phòng.
Đình Gừng tên nôm làng Khương Hạ. x. Khương Đình, h. Thanh Trì (nay thuộc ph. Khương Đình, q. Thanh Xuân).
Đình Tổ Một làng thuộc h. Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nơi có chùa Bút Tháp nổi tiếng.
Định Công xã gồm 2 thôn: Định Công Hạ xưa có nghề đan gối mây và trồng ớt và Định Công Thượng, còn gọi Định Công kim hoàn có nghề làm đồ vàng bạc nổi tiếng. (Nay thuộc huyện Thanh Trì).
Đoài 1- Phía Tây, chỉ xứ Đoài (Sơn Tây). Từ Liêm cũ thuộc phủ Hoài Đức, trấn Sơn Tây. 2- Một th. thuộc l. Yên Thái (Bưởi).
Đoài Môn l. nhỏ chạy dài ven bờ đông sông Tô, trước thuộc x. Nghĩa Đô, h. Tf Liêm (nay là ph. Nghĩa Đô, q. Cầu Giấy).
Đoan Nha thương chính của Pháp trước đây (nay là Viện bảo tàng Cách mạng).
Đô 1- Kẻ Đô, tức l. Quỳnh Đô, đất vật lâu đời (nay thuộc x. Vĩnh Quỳnh, h. Thanh Trì).
2-Đền Đô còn gọi đền Lý Bát Đế ở hương Cổ Pháp xưa, nay là xã Đình Bảng.
Độc Tôn Tên ngọn núi phía đông dãy Tam Đảo.
Đôi Sông Đôi, chưa rõ ở đâu.
Đồn Thủy Còn gọi Thủy Đồn, nơi quân Pháp đặt doanh trại đầu tiên sau khi chiếm Hà Nội năm 1875 (nay là khu bực Bảo tàng Lịch sử, Viện quân y 108, Bệnh viện Việt - Xô).
Đông 1- Cầu Đông (xem Cầu), 2- l. Đông, tên gọi tắt của Đông Xã, một xóm của l. Yên Thái (nay thuộc ph. Bưởi, q Tây Hồ).
Đông An Còn gọi Đông Yên, th. thuộc t. Hữu Túc, h. Thọ Xương (nay là cuối phố Hàng Thùng).
Đông Anh H. ngoại thành. Do tách ra từ đất 2 h. Đông Ngàn và Kim Anh, trước có tên là Đông Khê, năm 1903, x. thêm: Đông Ngàn.
Đông Hà 1- Đông Hà phương Hương Bài thôn thuộc t. Hậu Túc (sau là Đồng Xuân có cửa ô Đông Hà, tức Ô Quan Chưởng (Hàng Chiếu). 2- phường Đông Hà, t. Tiền Túc (sau là Thuận Mỹ) cùng h. Thọ Xương (nay là đầu Hàng Gai).
Đông Dư. x. Thuộc h. Gia Lâm.
Đông Đồ Một làng có 3 xóm: Đoài, Đìa, Vệ, xưa là vùng đất nghèo (nay thuộc x. Nam Hồng, h. Đông Anh).
Đông Môn Còn gọi Hữu Đông Môn, th. thuộc t. Tiền Túc, h. Thọ Xương (nay là đầu Hàng Cân).
Đông Mỹ 1- Thôn thuộc t. Vĩnh Xương, h. Thọ Xương, do nhập 2 tho. Anh Mỹ và Thương Đông (nay là đầu phố Thợ Nhuộm). 2- Xã thuộc h. Thanh Trì, do ghép 2 thôn Đông Phù và Mỹ á mà thành.
Đông Ngàn Huyện cũ thuộc phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc. Năm 1901 cắt 1 phần thành h. Đông Khê, sau nhập với 1 phần h. Kim Anh thành h. Đông Anh. Đất Đông Ngàn xưa có nhiều người đỗ đạt.
Đông Phù Tên nôm là l. Nhót, có nghề bán thuốc lào và làm hàng sơn (nay là 1 th. của x. Đông Mỹ, h. Thanh Trì).
Đông Tác có tới 4 thôn Đông Tác: Đông Tác Trung Tự, Cửa Nam, Nhiễm Trung, Nhiễm Thượng. Đông Tác Trung Tự sau gọi là Trung Tự, t. Kim Kiên. Đông Tác Cửa Nam, t. Tiền Nghiêm sau là Nam Ngư. Đông Tác Nhiễm Trung thuộc t. Hậu Túc. Đông Tác Nhiễm Thượng thuộc t. Hữu Túc (nay là giữa phố Cầu Gỗ).
Đông Tân Một ph. thuộc t. Kim Kiên, do nhập 2 thôn Đông Hạ và Sài Tân (nay là giữa phố Triệu Việt Vương - Mai Hắc Đế).
Đông Thái Phố cổ gần Chợ Gạo, Mã Mây, xưa ở gần cửa sông Tô, còn có lúc gọi là ngõ Hàng Trứng.
Đông Thành một th. thuộc t. Tiền Túc, h. Thọ Xương (nay là Hàng Bát Sứ, Hàng Vải, Hàng Nón).
Đông Thọ Một th. thuộc t. Hữu Túc (sau là Đông Thọ), có tên cũ là ph. Đông Các (nay là Hàng Bạc).
Đông Trạch Thôn thuộc x. Ngũ Hiệp, h. Thanh Trì.
Đồng Hàng Đồng, phố cổ, thuộc đất thôn Yên Phú, t. Tiền Túc, h. Thọ Xương có nhiều nhà bán đồ đồng là dân l. Cầu Nôm đến ở.
Đồng Cổ 1- Đền Đồng Cổ ph. Bưởi, q. Tây Hồ. 2- Hội Đồng Cổ x. Minh Khai, Từ Liêm.
Đồng Khánh tên cũ của phố Hàng Bài thời Pháp thuộc.
Đồng Lạc Một ph. thuộc t. Tiền Túc, h. Thọ Xương (nay là chỗ giáp Hàng Đào - Hàng Ngang).
Đồng Lầm Tên nôm l. Kim Liên, trước còn gọi ph. Kim Hoa, t. Tả Nghiêm, h. Thọ Xương, có nghề nhuộm nâu. Cửa ô Kim Kiên còn gọi Ô Đồng Lầm.
Đồng Nhân 1- Vốn là tên một làng ven sông Hồng, sau đất lở dần dời vào l. Hoa Viên (sau là Hương Viên). t. Hậu Nghiêm (sau là Thanh Nhàn) nơi có đền thờ Hai Bà Trưng dời đến, quen gọi là đền Đồng Nhân, hội vào ngày 6 tháng 2 lịch âm.
2-Đồng Nhân, x. Hải Bối, h. Đông Anh, thờ các tướng của Hai Bà Trưng cũng mở hội Đồng Nhân.
Đồng Thuận Thôn thuộc t. Hậu Túc, h. Thọ Xương (nay là Hàng Cá).
Đồng Xuân Chợ to nhất Hà Nội, cũng là tên ph. thuộc tổng Hậu Túc (sau là Đồng Xuân) h. Thọ Xương.
Đống Gọi tắt l. Đống Ba, nay thuộc xã Thượng Cát, h. Từ Liêm.
Đống Cao Còn gọi Giang Cao, một thôn của x. Bát Tràng, h. Gia Lâm.
Đống Đa Vùng đất có nhiều gò đống trên có nhiều đa ở phía bắc l. Khương Thượng, nơi võ trường thời Hậu Lê. Quân Thanh sang chiếm Thăng Long, dựng doanh trại trên phía tây ở đây và bị quân Tây Sơn đánh tan sáng ngày 5 Tết Kỷ Dậu 1789.
Đổng Viên Tên nôm là l. Gióng Mốt, nay thuộc x. Phù Đổng, h. Gia Lâm, nơi có đền Hạ, còn gọi đền Mẫu thờ bà mẹ ông Gióng.
Đổng Xuyên Thôn thuộc x. Đặng Xá, h. Gia Lâm, bên bờ nam sông Đuống, nhưng trước thuộc t. Phù Đổng, nên cũng là thành viên tổ chức Hội Gióng vào ngày 9 tháng 4 lịch âm hàng năm.
Đỏ Tức Kẻ Đơ, vùng đất có làng Hà Cầu (tên nôm là l. Đơ) có chợ Đơ, cầu Đơ (nay là thị xã Hà Đông) còn làng Đơ Thao là l. Triều Khúc, l. Đơ Bùi là Yên Xá (nay là 2 thôn thuộc x. Tân Triều, h. Thanh Trì).
Đỏ Bùi, Đơ Thao X. Đơ, Đơ Thao có nghề dệt thao và thổ cẩm nổi tiếng.
Đụn Rạ một ngọn núi thuộc dãy Sóc Sơn.
Đuống Còn gọi sông Luống, tên chữ là sông Nguyệt Đức hoặc Thiên Đức, Chiêm Đức, chảy qua giữa huyện Gia Lâm, x. Thêm: Nguyệt.
Đức Sông Đức tức Thiên Đức, X. Đuống.
Đức Hậu Th. thuộc x. Đức Hòa, h. Sóc Sơn.
Ga “La ga” phiên âm tiếng Pháp là nhà ga, đây là ga Hàng Cỏ.
Gà Hàng Gà, Hà Nội có 2 Hàng Gà: Phố Hàng Gà Cửa Đông, thời Pháp thuộc có tên là phố Tiên Sinh và Hàng Gà chợ Hôm ở gần Chợ Hôm có cái dốc là Dốc Hàng Gà.
Gạ Tên nôm l. Phú Gia, h. Từ Liêm cũ (nay thuộc ph. Phú Thượng, q. Tây Hồ).
Gạch 1- Ngõ Gạch, nằm trên dòng sông Tô cũ đã lấp năm 1897, có nhiều nhà bán vôi, gạch ngói. 2- Dốc Gạch, đầu cầu phía Bắc Cầu Long Biên, thuộc th. ái Mộ (nay là Thị trấn Gia Lâm).
Gai Hàng Gai, phố cổ, xưa bán các loại dây đay, gai, thừng, võng... sau còn có nhiều nhà in sách Hán Nôm, bán giấy bút. Đất ph. Đông Hà và Cổ Vũ, t. Tiền Túc, h. Thọ Xương.
Gánh Quán Gánh tức l. Văn Giáp, h. Thường Tín, tỉnh Hà Tây, ở cạnh quốc lộ 1 có bán bánh dày (bánh dì) ngon có tiếng.
Gạo Hàng Gạo, tên khác của phố Đồng Xuân, nơi có nhiều hàng gạo.
Gia Lâm 1- Vùng đất cổ h. Long Biên xưa, sau thuộc tỉnh Bắc Ninh, trấn Kinh Bắc, năm 1961 thành huyện ngoại thành. 2- Một th. thuộc x. Lệ Chi, h. Gia Lâm, có tục Giỗ trận ngày 28 tháng 11 âm lịch do nhiều nhà có người chết trong 1 trận càn của Pháp, tên nôm là Làng Lầm.
Gia Ngư Tên chữ của th. Hàng Cá, thuộc t. Hữu Túc (sau là Đông Thọ), h. Thọ Xương (nay là phố Gia Ngư).
Già Tên làng, chưa rõ ở đâu.
Giá Tên nôm l. Yên Sở, h. Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, có Quán Giá thờ Lý Phục Man, hằng năm mở hội rước rất to, vào ngày 10 tháng 3 lịch âm.
Giả Kẻ Giả, tên gọi chung 3 làng: ích Vịnh (Giả Viềng), Quỳnh Đô (Giả Quỳnh) và Vĩnh Ninh (Giả Vĩnh) nay thuộc x. Vĩnh Quỳnh, h. Thanh Trì.
Giai Cảnh ph. thuộc t. Thượng, h. Vĩnh Thuận, có tên cũ là Hòe Nhai (nay là giữa Hàng Than).
Giàn 1- Tên nôm l. Trung Kính Hạ, giỏi thâm canh lúa và có nghề làm hương (nay thuộc ph. Trung Hòa, q. Cầu Giấy). 2- Kẻ Giàn tức làng Kiêu, Cáo Đỉnh, X. Cáo.
Giám Tên gọi chung các th. Hậu Giám, Hữu Biên Giám, Tả Biên Giám, Hữu Giám Thị, t. Hữu Nghiêm, h. Thọ Xương (nay là khu vực Văn Miếu, đầu Hàng Bột, Thanh Miến).
Giang Biên X. bên sông Đuống, h. Gia Lâm.
Giang Cao Làng bên bờ bắc sông Hồng, giáp l. Bát Tràng (nay là 1 th. của x. Bát Tràng, h. Gia Lâm).
Giảng Vũ Còn gọi Giảng Võ, một trong “thập tam Trại”, t. Nội, h. Vĩnh Thuận, xưa có trường dạy võ, huấn luyện quân sĩ (nay còn làng ở giữa phố Giảng Võ, đình thờ Bà Chúa Kho Nàng Châu).
Giao Tự Tên nôm là l. Chè, ở cạnh sông Đuống (nay là 1 th. của x. Kim Sơn, h. Gia Lâm).
Giáo Phường Thôn thuộc t. Tả Nghiêm, h. Thọ Xương có phường hát ca trù cư ngụ (nay là giữa phố Huế).
Giáp Nhị Th. thuộc x. Thinh Liệt, h. Thanh Trì.
Giày 1- Hàng Giày, phố ngắn bên bờ sông Tô xưa, còn gọi Hài Tượng, có nhiều hàng đóng giày dép da do người l. Chắm (Tứ Kỳ, Hải Dương) đến hành nghề. 2- Tên nôm l. Hạ Trì (nay thuộc x. Liên Trung, h. Đan Phượng, tỉnh Hà Tây).
Giâm Tên nôm một th. thuộc x. Thụy Lâm, h. Đông Anh.
Giấy 1- Hàng Giấy, phố trên đất ph. Đồng Xuân, t. Hậu Túc (sau là Đồng Xuân) thời Pháp thuộc có nhiều nhà hát ả đào, xa xưa bán các loại giấy bản, giấy sắc, giấy lệnh do các làng giấy Bưởi, Cót làm ra. 2- X. Cót.
Giò Xưa có phố Hàng Giò, chỉ một đoạn phía bắc phố Bà Triệu. Còn Quán Giờ bên sông Tô chưa rõ ở đâu.
Gióng Tên nôm l. Phù Đổng, bên bờ bắc sông Đuống, quê hương ông Gióng, có đền thờ lớn và mở Hội trận vào ngày 9 tháng 4 lịch âm hằng năm (nay thuộc h. Gia Lâm).
Gô-Đa Cửa hàng lớn bán bách hóa của tư bản Pháp, ở góc phố Tràng Tiền - Hàng Bài - Hai Bà Trưng (nay là Cty Thương mại Hà Nội).
Gối Kẻ Gối, gọi chung các x. Tân Hội, Tân Lập, h. Đan Phượng, tỉnh Hà Tây.
Gùn Tên nôm l. Siêu Quần (nay thuộc x. Tả Thanh Oai, h. Thanh Trì).
Gươm Hồ Gươm, còn gọi hồ Hoàn Gươm, Hoàn Kiếm, Trả Gươm, Kiếm Hồ, hồ Lục Thủy, tên cũ là hồ Tả Vọng, do tích vua Lê Lợi đi chơi thuyền trên hồ gặp Rùa thần nổi lên đòi gươm mà có tên này. Thắng cảnh của Hà Nội với đền Ngọc Sơn, Tháp Rùa, Tháp Bút, Đài Nghiên, cầu Thê Húc.

Hà 1- Thành Hà tức Hà Nội. 2- Hà, gọi tắt của Hà Đông. 2- Phường Hà, là Hà Khẩu (hàng Buồm). 4- Làng Hà, tức Bối Hà (nay thuộc thôn Dịch Vọng Trung, ph. Dịch Vọng, q. Cầu Giấy) nơi có chùa Hà.
Hà Đông tỉnh Thị xã ở giáp Hà Nội về phía đông và nam, còn gọi tỉnh Cầu Dơ (nay nhập với Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây).
Hà Nội Tên tỉnh do nhà Nguyễn đặt năm 1831 thay thế tên Thăng Long. Tỉnh Hà Nội gồm 15 huyện thuộc 4 phủ: Hoài đức (Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm). ứng Hòa, Lý Nhân, Thường Tín: năm 1888 thành thành phố thuộc Pháp.
Hà Thiết Chỉ 2 l. Hà Khê và Thiết úng, vùng đồng trũng, h. Đông Ngàn (nay thuộc x. Vân Hà, h. Đông Anh).
Hà Trung Phố xưa có trạm chuyển công văn, thuộc đất th. Yên Trung Hạ, còn gọi Ngõ Trạm cũ để khỏi lẫn với Ngõ Trạm mới, x. Trạm.
Hạ 1- Tổng thuộc h. Vĩnh Thuận, gồm 7 phường trại từ Thành Công, Nam Đồng qua Thịnh Hào. Thịnh Quang, Yên Lãng. 2- Kẻ Hạ, tên nôm làng Thượng Phúc, x. Tả Thanh Oai, h. Thanh Trì.
Hạ Hà Thôn thuộc t. Hữu Túc, H. Thọ Xương (nay là đầu phố Tông Đản - Lê Lai).
Hạ Thái Làng thuộc h. Thường Tín, tỉnh Hà Tây, sau nhập với Duyên Trường thành x. Duyên Thái, có nghề sơn ta.
Hạ Trì X. Giày, mục 2.
Hài Hàng Hài, tên cũ của một đoạn phố Hàng Bông, từ ngã tư Phủ Doãn đến ngã tư Hàng Trống, còn gọi phố Hàng Bông Hài, xưa bán giày, hài.
Hải Bối X. thuộc h. Đông Anh, ở bờ bắc cầu Thăng Long.
Hàm Tức Hàm Long, nguyên là đất th. Hàm Châu (sau là Hàm Khánh) t. Hậu Nghiêm, h. Thọ Xương, có ngôi chùa Hàm Long từ đời Lý, nay không còn.
Hàm Khánh X. Hàm.
Hàn Gọi tắt tên l. Hàn Lạc, bên bờ nam sông Đuống, nay thuộc x. Phú Thị, h. Gia Lâm.
Hành Hàng Hành, phố cũ bán hành tỏi, thuộc thôn Tả Khánh Thụy, t. Tiền Túc, h. Thọ Xương.
Hào Nam Một trại thuộc t. Nội, h. Vĩnh Thuận (nay là khu Hào Nam, q. Đống Đa).
Hằng Núi Hằng tức Nguyệt Hằng Sơn hoặc Nguyệt Thường Sơn, tên nôm là núi Chè ở h. Tiên Du cũ (nay là h. Tiên Du tỉnh Bắc Ninh).
Hậu Thôn Tức Dịch Vọng Hậu, tên nôm là Vòng, nơi làm cốn nổi tiếng (nay thuộc ph. Dịch Vọng, q. Cầu Giấy).
Hiến Phố Hiến, đô thị sầm uất thế kỷ 17 (nay là thị xã Hưng Yên).
Hòa Mã thôn thuộc t. Tả Nghiêm, h. Thọ Xương, còn gọi th. Đổi Mã, xưa có cung Đổi Mã, nơi nhà vua thay xiêm áo vào tế đàn Nam Giao.
Họa Tên nôm làng Mỹ ả (nay thuộc x. Đông Mỹ, h. Thanh Trì).
Hoài, Hoài Đức tên phủ, năm 1831 bao gồm cả phủ Phụng Thiên cũ và h. Từ Liêm, đến năm 1838 tách Từ Liêm ra chỉ còn 2 huyện Thọ Xương (8 tổng, 116 phường, thôn) Vĩnh Thuận (5 tổng, 27 phường, thôn).
Hoàn Gươm, Hoàn Kiếm X. Gươm.
Hoàng Liệt X. thuộc Thanh Trì.
Hoàng Mai làng thuộc vùng Kẻ Mơ, có tên nôm là Mơ Rượu, X. thêm: Mơ.
Hòe Thị Làng thuộc x. Xuân Phương, h. Từ Liêm, có nghề rèn.
Hòm Hàng Hòm, phố cổ trên đất th. Cổ Vũ Thượng, l. Tiền Túc, h. Thọ Xương, bán các loại hòm, tráp bằng gỗ sơn then.
Hồ Bờ Hồ tức Hồ Gươm, x. Gươm.
Hồ Đình Đảo nhỏ trên Văn Hồ ở trước Văn Miếu, xưa có cái đình trên đó.
Hồ Khẩu Làng làm giấy nổi tiếng vùng Kẻ Bưởi, xưa thuộc t. Trung, h. Vĩnh Thuận (nay thuộc ph. Bưởi, q. Tây Hồ).
Hồi Gọi tắt tên l. Ngọc Hồi (nay thuộc h. Thanh Trì).
Hồi Mỹ thôn thuộc t. Kim Liên, do nhập 2 thôn cũ là Hồi Thuần và Thuần Mỹ (nay là cuối Hàm Long, Bùi Thị Xuân).
Hội Vũ Phố ở đất th. Chiêu Hội và Cổ Vũ mà thành tên, thông ra 3 phố Hàng Bông, Quán Sứ, Tràng Thi.
Hội, Hội xá Làng bên bờ nam sông Đuống, h. Gia Lâm, có phường múa hát ải Lao, còn gọi phường Tùng Choặc gồm 20 người, tham gia hội Gióng.
Hồng Sông lớn chảy qua Hà Nội, còn gọi Hồng Hà. Nhị Hà, sông Nhị, Nhĩ Hà, sông Cái, đoạn chảy cạnh xã Bồ Đề còn gọi sông Bồ Đề.
Huyền Thiên Thôn thuộc t. Hậu Túc (nay là Đồng Xuân), h. Thọ Xương, do có đền Huyền Thiên mà thành tên (nay là Hàng Khoai).
Huỳnh Cung Thôn thuộc x. Tam Hiệp, h. Thanh Trì, nơi xưa Chu Văn An mở trường.
Hương Bài Thôn thuộc ph. Đồng Hà (gần Ô Quan Chưởng).
Hương Dính Còn gọi Hương Mính, tên nôm là Hàng Chè, t. Đông Thọ, h. Thọ Xương (nay là cuối Cầu Gỗ, đầu Đinh Tiên Hoàng).
Hương Nghĩa Thôn thuộc t. Phúc Lâm, do nhập 2 th. Hương Bài, Kiên Nghĩa (nay là Chợ Gạo, Đào Duy Từ).
Hương Viên Thôn thuộc t. Thanh Nhàn, h. Thọ Xương (nay là Lò Đúc, Hàng Chuối, Đồng Nhân).
Hữu Gọi tắt l. Hữu Thanh Oai cũ, gồm các th. Hữu Châu, Hữu Từ, Hữu Lê, Hữu Trung (nay thuộc xa. Hữu Hòa, h. Thanh Trì).
Hữu Hưng Tên trước đây của x. Tây Mỗ, h. Từ Liêm.
Hữu Thị Chưa rõ ở đâu, gần bến Tây Luông.
Hữu Tiệp Trại Hàng hoa ở sát Ngọc Hà, cũng thuộc “Thập tam trại”, t. Nội, h. Vĩnh Thuận.
Kẻ Vùng Kẻ gồm các l. Thượng Cát, Đại Cát, Đống Ba, h. Từ Liêm (nay Thượng Cát, Đống Ba thuộc x. Thượng Cát; Đại Cát thuộc x. Liên Mạc).
Kẻ Chợ Tên chung chỉ đô thị, ở đây là kinh thành Thăng Long và Hà Nội, bản đồ của phương tây in vào thế kỷ 16 - 17 đều ghi Thăng Long là Kẻ Chợ.
Keo Tên nôm của l. Giao Tất, có chợ Keo, chùa Keo xây thời Lý và nghề làm vàng hồ (Nay thuộc x. Kim Sơn, h. Gia Lâm).
Khám Chùa Long Khám, thuộc x. Ngọc Khám, h. Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mở hội Khám vào ngày 7 tháng 4 lịch âm.
Khán Núi đất ở trong thành cổ, nay không còn.
Khánh Thụy Thôn thuộc t. Tiền Túc (sau là Thuận Mỹ) h. Thọ Xương (nay là Hàng Hành).
Khán Xuân Phường Cổ, do nhập 2 thôn. Hậu Khán Sơn và Xuân Sơn, nơi sinh và có Cổ Nguyệt Đường của nữ sĩ Hồ Xuân Hương (nay là Bách Thảo).
Khay Hàng Khay xưa gồm cả đoạn cuối phố Tràng Tiền, trên đất các th. Thị Vật, Tô Mộc và một phần Cựu Lâu, t. Tiền Túc, nơi dân làng Chuôn, h. Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây đến cư ngụ làm nghề đồ gỗ khảm xà cừ như khay, hộp tráp, tủ chè, sập bàn, bàn ghế, nên còn gọi là phố Thợ Khảm.
K.T. Đọc Ka Tê, viết tắt phố cô đầu Khâm Thiên. Khâm Thiên phố nội thành bị bom B52 rải thảm hủy diệt đêm 26-12-1972.
Khoai Hàng Hoai, giáp chợ Đồng Xuân, xưa bán các loại khoai sắn, thuộc đất th. Huyền Thiên.
Khoang Gọi tắt tên Phùng Khoang, làng giáp Hà Đông (nay thuộc x. Trung Văn, h. Từ Liêm).
Khốn Sông chạy bên phía đông núi Vệ Linh, còn gọi sông Công, h. Sóc Sơn.
Khổng Kẻ Khổng, chưa rõ ở đâu.
Khương Đình X. Đình Gừng (nay là phương thuộc q.Thanh Xuân).
Khương Thường Làng, chưa rõ ở đâu.
Khương Thượng trại thuộc t. Hạ, h. Vĩnh thuận, nơi diễn ra trận Đống Đa lịch sử.
Kiếm Hồ X. Gươm.
Kiêu Kỵ Tên nôm là Câùy Cậy, có nghề dát vàng quỳ và làm mực nho, vốn là thái ấp cũ của Nguyễn Chế Nghĩa (nay thuộc x. Kiêu Kỵ, h. Gia Lâm).
Kiều Mai Làng ở vùng Diễn (nay thuộc x. Phú Diễn, h. Từ Liêm).
Kim Chung X. thuộc h. Đông Anh, bờ bắc cầu Thăng Long.
Kim Cổ Phường do sáp nhập 3 thôn: Kim Bát, Cổ Vũ Hạ, Cổ Vũ Trung mà thành tên (nay là khu vực giữa Hàng Bông, Đường Thành, Hàng Da)
Kim Liêm 1- Chùa Kim Liên, danh thắng ở thôn Nghi Tàm, bên Hồ Tây. 2- Làng Kim Liên, x. Đồng Lầm. 3- Tên đổi lại vào thế kỷ 19 của t. Tả Nghiêm.
Kim Lũ Tên nôm là l. Lủ, có th. Lủ Trung làm nghề kẹo bột, chè lam, bỏng cốm lâu đời, quê mẹ Chúa Chổm, con vua Lê Chiêu Tông, nhân vật sinh ra ngõ Cấm Chỉ (nay thuộc x. Đại Kim, h. Thanh Trì).
Kim Ngưu Một nhánh của sông Tô, xưa thông với Hồ Tây, theo truyền thuyết là đường chạy của Trâu vàng, bị lấp bồi nhiều đoạn, nay chỉ còn từ Láng qua Nam Đồng, Phương Liệt, sang Đầm Sét qua Yên Sở, Đông Mỹ, h. Thanh Trì rồi đổ vào sông Nhuệ.
Kinh Kỳ Chỉ kinh đô, kinh thành Thăng Long.
Kỳ Gọi tắt tên l. Tứ Kỳ, x. Hoằng Liệt, h. Thanh Trì.
Kỳ Lân Tức l. Lân, có tên nữa là Thịnh Liên (nay là th. thuộc x. Trung Màu, h. Gia Lâm).

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page
Page: of 2 Previous Topic Topic   
Next Page
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam © cadaotucngu.com Go To Top Of Page
This page was generated in 1.02 seconds. Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.05