Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Quê Ta
 Miền Bắc
 Cây Chè Ở Việt Nam
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Previous Topic Topic Next Topic  

cadao
Administrator

USA
253 Posts

Posted - 06/16/2006 :  20:35:11  Show Profile  Reply with Quote
Trích từ http://free.hostdepartment.com/l/lvcgroup/tra.htm

Về nguồn gốc cây Chè Việt Nam

Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng :cây chè vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía bắc.

Lê Quý Đôn trong sách " Vân Đài loại ngữ " (1773) có ghi trong mục IX, Phẩm vật như sau:

" ... Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên..."

Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã khảo sát về sản xuất và buôn bán chè giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ Hà Nội ngược lên cao nguyên Mộc Châu, qua Lai Châu; đến tận Ipang, vùng Xípxoongpảnnả (Vân Nam), nơi có những cây chè đại cổ thụ.
" Hàng ngày những đoàn thồ lớn 100-200 con lừa, chất đầy muối và gạo khi đi và nặng chĩu chè khi về. Ipang nổi tiếng về chất lượng chè đạt mức ngự trà cống nộp .cho Hoàng đế Trung Hoa. Loại chè cao cấp này không bán ngoài thị trường..; và ai cũng cố giấu lại một phần nhỏ, mặc dù có nguy cơ bị trừng trị nặng nề. Tôi đã trông thấy một nắm chè loại này màu trắng ngà, bao gồm những cánh chè rất nhỏ và rất xoăn. Vùng đất đai của Đèo Văn Trị ở Lai Châu, là hàng xóm láng giềng gần gũi của Ipang, vùng Xíp xoongpảnnả "

Sau những chuyến khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang Việt Nam (1923), và tây nam Trung Quốc (1926), các nhà khoa học Pháp và Hà Lan, đã viết "...những rừng chè, bao giờ cũng mọc bên bờ các con sông lớn, như sông Dương Tử, sông Tsi Kiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và Bắc Kỳ (Việt Nam), sông Mê Kông ở Vân Nam, Thái Lan và Đông Dương, sông Salouen và Irrawađi ở Vân Nam và Mianma, sông Bramapoutrơ ở Assam. "

Năm 1976, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau những nghiên cứu về tiến hoá của cây chè, bằng phân tích chất catésin trong chè mọc hoang dại, ở các vùng chè Tứ Xuyên, Vân Nam Trung Quốc, và các vùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An...), đã viết :

… Cây chè cổ Việt Nam, tổng hợp các catêchin đơn giản nhiều hơn cây chè Vân Nam…. Từ đó có sơ đồ tiến hoá cây chè thế giới sau đây " Camellia → Chè Việt Nam → Chè Vân Nam lá to → Chè Trung Quốc → Chè Assam (ấn Độ)"

Tóm lại, đến nay các nhà khoa học thế giới đã xác nhận : Đại thể cây chè phát nguyên từ một vùng sinh thái hình cái quạt, giữa các ngọn đồi Naga, Manipuri và Lushai, dọc theo đường biên giới giữa Assam và Mianma ở phía Tây, ngang qua Trung Quốc ở phía Đông, và theo hướng Nam chạy qua các ngọn đồi của Mianma và Thái Lan vào Việt Nam, trục Tây Đông từ kinh độ 95o đến 120o Đông, trục Bắc Nam từ vĩ đ 29o đến 11o Bắc.


--------------------------------------------------------------------------------

Tác dụng của chè đối với con người.

Trên thế giới Trung Quốc là nước đầu tiên uống trà, trong thư tịch cổ của các triều đại Trung Quốc và các sách y học đều có ghi chép về phương pháp dùng chè chữa bệnh.

- Trà chống ung thư và tia phóng xạ: Trà 6 gam pha với nước sôi, uống ngày 2 đến 3 lần. Các chất như Vitamin C, chất Polyphenol và một số chất có tác dụng chống ô xy hoá có trong trà có các tác dụng ức chế các tế bào ung thư phát triển và có thể ngăn cản sự hợp thành chất Nitrosamine trong cơ thể, do đó mà hạ thấp tỷ lệ phát sinh bệnh ung thư. Các loại trà chống ung thư còn có tác dụng chống sự tổn thương của các tia (bức xạ) và tăng cao bạch cầu trong cơ thể cho nên những người bị ung thư cần phải chữa trị bằng những tia phóng xạ thì cần uống nhiều nước trà. Hoặc như hàng ngày chúng ta xem vô tuyến truyền hình, cũng như những người tiếp xúc nhiều với tia phóng xạ như sử dụng máy vi tính, máy p_o, các máy điện quang… đều cần uống nhiều nước trà (nhất là trà tươi) vì rất hữu ích trong việc phòng chữa các bệnh do các tia phóng xạ, các tia tĩnh điện gây nên.

- Trà chống chứng đau bụng khi hành kinh của phụ nữ: Trà 3 gam, gừng tươi 2 lát, đường đỏ 10 gam. Đem pha nước sau 15 phút uống. Nên uống sau bữa ăn một giờ trở đi.

- Chữa đau bụng do giun đũa và đau răng: Pha 3 gam trà với nước sôi, để 5 phút sau, rót ra pha với 3 gam giấm, khuấy đều uống, ngày 3 lần.

- Chữa cảm nhiễm ở hệ tiết niệu: Trà có tác dụng lợi tiểu, ức chế khuẩn, đồng thời có thể tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, cho nên dùng trà với lượng vừa phải sẽ hỗ trợ việc chữa trị bệnh cảm nhiễm ở hệ tiết niệu. Nếu có thể thì nên phối hợp dùng với Kim tiền thảo hoặc Hải kim sa (các vị thuốc đông y), mỗi lần 6 gam là những vị thuốc có tác dụng làm cho đường nước trong cơ thể được thông lợi, làm hết đái giắt, đái buốt, pha nước sôi uống, hiệu quả càng tốt hơn.

- Chữa trị viêm gan dạng hoàng đảm cấp tính: Trà một nhúm pha nước sôi uống ngày 2 đến 3 lần hoặc nhiều lần. Vì trà có tác dụng lợi tiểu trừ thấp, nên uống nhiều vào sẽ có tác dụng hạn chế cơ chế sinh chứng thấp nhiệt nội thịnh khi viêm gan, có thể nhanh chóng tiêu trừ hoàng đảm.

- Chữa chứng cao cholesterol trong máu: Trà một nhúm con pha nước sôi uống, ngày 2 đến 3 lần. Nhiều chất có trong trà tươi như vitamin C, Tannic axit và cafein… có trong trà có tác dụng hạ thấp cholesterol trong máu.

- Chữa chứng béo phì: Trà 3 gam, Quyết minh tử 10 gam, pha với nước sôi uống. Hiệu quả giảm.

- Chữa chứng hư suyễn (khó thở do hư, có dặc trưng thở gấp gáp, hễ cử động là khó thở tăng lên, mạch nhỏ, yếu): Có thể dùng ngân nhĩ (mộc nhĩ trắng), 3 gam thịt quả hạnh đào mười gam, đường phèn 30 gam, cho nước vào đun nước cho chín nhừ ngân nhĩ xong cho 3 gam trà vào, uống hết một lần. cứ uống như thế 7 – 10 ngày là được.

- Chữa tiêu chảy: Bị tiêu chảy kéo dài có thể dụng 6 gam trà, 2 quả ô mai, 15 gam đường đỏ pha nước để trong 10 phút uống. Mỗi ngày 2 đến 3 lần, liên tục trong 3 ngày.

- Chữa kiết lị: Sau khi bị kiết lị, có thể dùng 3 gam trà, hai quả ô mai đem pha vào ấm pha trà, để 5 phút, đổ 3 gam giấm vào, uống hết một lần. Ngày uống 3 lần như vậy.

- Chữa thực tích (ăn không tiêu): Trà mười gam, bột sơn tra sao 10 gam, đường đỏ 15 gam, pha nước sôi để 10 phút uống. Có thể chữa ăn không tiêu, bụng chướng đau, ngán không muốn không muốn ăn.

- Chữa phong nhiệt đau đầu: Đau đầu và chướng tức đến mức muốn vỡ nứt ra, mặt đỏ bừng, mắt đỏ ngàu, miệng khát nước tiểu vàng có thể pha 6 gam trà, 10 gam hoa cúc với nước sôi uống, ngày từ 2 đến 3 lần.

- Dùng cho người đang trị bệnh lao uống suốt trong thời gian uống thuốc chống lao cũng có tác dụng hỗ trợ thuốc chữa bệnh: Trà 3 – 5 gam uống hết một lần. Ngày uống 2 lần như vậy.

- Chữa cảm mạo: Pha 3 gam trà, 1 gam muối với nước sôi uống, ngày từ 4 đến 6 lần. Thích hợp với người bị cảm mạo sốt, ho, đờm vàng, đau họng. Nếu lại sợ lạnh, ho đờm trắng, có thể dùng 3 gam trà, 3 lát gừng thêm vào rồi pha nước sôi như pha trà để uống.

http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
  Previous Topic Topic Next Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam © cadaotucngu.com Go To Top Of Page
This page was generated in 3.97 seconds. Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.05