Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Nguồn Gốc
 Trang chuyên về Nguồn Gốc Dân Tộc Việt
 QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Previous Topic Topic Next Topic  

cadao
Administrator

USA
253 Posts

Posted - 04/23/2007 :  21:09:30  Show Profile  Reply with Quote

QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

MÙA GIỖ TỔ ĐINH HỢI 2007
VIỆT LỊCH 4886


“Giở trang ..
Quốc sử trước đèn
Truyền kỳ lịch sử ..
bao phen thăng trầm”
Đại Việt …
Thi sử Diễn ngâm ..
Rồng Tiên huyền thoại…
toả trầm kỳ hương ..!

SỬ THI ĐẠI VIỆT NAM
QUỐC VIỆT


“ CÂY CÓ CỘI ..
NƯỚC CÓ NGUỒN
CHIM CÓ TỔ ..
NGƯỜI CÓ NHÀ
CÓ TỔ CÓ TÔN ..
CÓ TÔN CÓ TỔ
TỔ TỔ TÔN TÔN ..
TÔN TÔN TỔ TỔ ..
MỚI LÀ NGƯỜI !

“ CÂY CÓ GỐC ..
MỚI NỞ NHÀNH XANH NGỌN

NƯỚC CÓ NGUỒN ..
MỚI BỂ RỘNG SÔNG SÂU

NGƯỜI TA ..
NGUỒN GỐC Ở ĐÂU ?

CÓ TỔ TIÊN TRƯỚC ..
RỒI SAU CÓ MÌNH !”

“ CÓ TỔ CÓ TÔNG ..
TỔ TỔ TÔNG TÔNG ..
TÔNG TỔ CŨ
CÒN NON CÒN NƯỚC ..
NON NON NƯỚC ..
NƯỚC NON NHÀ”

TẢN ĐÀ

“ THÁC THỦY KHAI CƠ ..
TỨ CỐ SƠN HÀ ..
QUI BẢN TỊCH ĐĂNG CAO VỌNG VIỄN ,
QUẦN PHONG LA LIỆT .. TỰ NHI TÔN ”.

“ Mở lối đắp nền ..
Bốn hướng non sông ..
Qui một mối
Lên cao nhìn rộng ..
Nghìn trùng sông núi ..
tựa đàn con ! ”

CÂU ĐỐI Ở ĐỀN HÙNG


NAM QUỐC SƠN HÀ

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư ..
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư ..?


Sông núi trời Nam của nước Nam
Sách trời định rõ tự muôn ngàn ..
Cuồng ngông giặc dữ vào xâm luợc,
Chuốc lấy bại vong lấy nhục tàn ..!

PHẠM TRẦN ANH
(Cẩn dịch)

* Nhục xin hiểu vừa là nỗi nhục vừa là xương thịt.

Tổ Hùng ..
là vị cha chung
Trăm con ở khắp ..
mường trong mường ngoài
Dù ai ..
đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ ..
mồng mười tháng ba.

CA DAO VIỆT

QUỐC TỔ

Cúi đầu ..
tưởng nhớ vua Hùng,
Nghìn trùng sông núi ..
chập chùng uy linh ..
Giang sơn ..
gấm vóc hữu tình,
Hùng Vương Quốc Tổ ..
văn minh Tiên Rồng ..!

PHẠM TRẦN ANH


ĐỒNG BÀO


NHỚ XƯA ..
QUỐC TỔ MỞ NỀN
TRUYỀN THỐNG VĂN HIẾN ..
SỬ THIÊN VIỆT HÙNG
BỌC ĐIỀU ..
TRĂM HỌ THAI CHUNG
ĐỒNG BÀO TIẾNG GỌI ..
VÔ CÙNG VIỆT NAM !

PHẠM TRẦN ANH



THÔNG ĐIỆP ..
MUÔN NGÀN !

Hoa văn hiến ..
sáu ngàn năm lịch sử
Tiếng trống đồng ..
vang dội khắp trời Nam ..
Huyền thoại Rồng Tiên ..
thông điệp muôn ngàn
Văn minh Việt ..
mở đầu trang sử mới!

Phùng Nguyên, Đông Sơn ..
trống đồng Ngọc Lũ
Hoa văn xưa ..
in dấu mãi ngày nay
Bao nhiêu năm ..
mới có được ngày này
Dòng giống Việt ..
vươn mình như Phù Đổng ..

PHẠM TRẦN ANH



LỄ HỘI ĐỀN HÙNG 10-3 ÂM LỊCH


GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
PHẠM TRẦN ANH

Hàng năm cứ vào ngày mồng mười tháng ba Aâm lịch nhân dân cả nước nô nức kéo về đền Hùng để dự lễ giỗ Tổ Hùng Vương, người khai mở nước Xích Qui, Văn Lang xa xưa của Việt tộc. Truyền thống uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây đã đi vào tâm thức Việt như một nguồn suối tâm linh làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người Việt. N_ tự thuở xa xưa, người Việt cổ đã có một đời sống tâm linh siêu vượt. Người Việt cổ đã sớm nhận thức được cuộc sống thường nhật để tìm ra lẽ sống của cả một đời người, một nhân sing quan hiện thực nên người Việt cổ không chỉ tin vào thần thánh mà còn tin vào chính con người. Chính vì vậy, từ xa xưa người Việt ngoài việc thờ cúng thần linh che chở cho cuộc sống còn thờ cả nhân thần là những người khi còn sống đã giúp dân giúp nước, giúp ich cho địa phương. Đặc biệt người Việt có truyền thống thờ cúng Tổ tiên, ông bà cha mẹ là những người trực tiếp sinh đẻ ra mình, nuôi dưỡng mình thành người. N_ cả ông Trời, đối với người Việt là cư dân sống bằng nghề nông nên tôn thờ ông trời đã ban cho những giọt nước mưa tưới xuống đất để hạt giống nảy mầm, cây cối đâm chồi nảy lộc. Ông trời được dân gian Việt kêu cầu đến “Trời ơi” mỗi khi gặp sự đau buồn, dân gian còn nhân cách hoá ông trời thân thương từ chân trời, lưng trời đến mặt trời và nếu cần thì sẵn sàng bắc thang lên hỏi ông trời .. chứ không thần thánh hoá kiểu Hán tộc là có một ông Ngọc Hoàng Thượng đế toàn quyền ban phát, toàn quyền sinh sát trên thượng giới và cả ở dưới trần gian nữa.

Một nhà Việt Nam học người Pháp Léopold Cadìere đã nhận định về tín ngưỡng và thực hành tôn giáo của người Việt Nam như sau: “Với người Việt, Trời không phải là một vị thần, ít nhất là trong quan niệm dân gian. Đó là ông Trời, đấng hình như thuộc về thế giới siêu việt. Hoàng đế tế trời một cách trọng thể còn dân gian thì cầu trời, kêu trời hàng ngày bằng ngôn ngữ thông thường. Ý niệm trời thấm sâu vào tâm tư người Việt và được biểu lộ thường xuyên mỗi ngày qua ngôn ngữ một cách minh nhiên đến nỗi ta không thể thấy rằng ý niệm trời chính là một nguyên lý cơ bản và cao cả nhất đối với đời sống tín ngưỡng của người Việt. Trong khi phương Tây với nền văn minh hết duy thần, duy linh, duy tâm rồi duy vật để con người hết nô lệ cho thần thánh, rồi lại lệ thuộc vào vật chất trở thành một động vật cao cấp vô hồn với lý thuyết duy vật của Karl Marx. Nền văn minh vật chất thái quá khiến con người tình cảm lạnh lùng chạy theo cuộc sống rồi đến một lúc nào đó, thất vọng chán chường cảm thấy bất an nên thường đặt ra những vấn nạn như chúng ta từ đâu đến rồi chết sẽ đi về đâu? Một khi tuổi đã xế chiều, người phương Tây thường hoang mang trước những câu hỏi muôn đời không giải đáp, hoảng hốt trước cái chết nên con người trở nên vô thần hoặc phải tìm đến tôn giao chấp nhận một cách vô thường.

Với niềm tin đơn giản chân chất của người Việt cổ thì Tổ Tiên, ông bà cha mẹ đã sinh ra mình chứ không phải do một thần linh nào từ trên trời. Chính vì thế phải biết ơn cha mẹ đã sinh thành dưỡng dục mình nên người. Bổn phận con người là phải hiếu thảo với cha mẹ, anh chị em thương yêu đùm bọc lẫn nhau vì cùng một mẹ mà ra. Huyền thoại Rồng Tiên với Bố Lạc mẹ Aâu của Việt tộc, chúng ta cùng một bào thai mẹ Aâu, trăm họ cũng cùng từ một gốc Bố Rồng mẹ Tiên mà ra cả. Trên thế giới duy nhất chỉ có dân tộc ta mới có hai chữ “ Đồng bào” nên đối với tha nhân chúng ta cũng dùng tình thân mà đối xử, mới gọi nhau là bà con cô bác như trong một nhà vậy. Khi sống phải biết tri ân thờ cúng ông bà cha mẹ để mai này khi ta có chết đi thì cũng về với ông bà cha mẹ mà thôi.

Người Việt có một đời sống tinh thần tâm linh sâu thẳm, thể hiện tình cảm thiêng liêng cao cả mà không một dân tộc nào có được. Từ ý thức tôn thờ Quốc tổ Hùng Vương và các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá đến ông bà tiên tổ đã tập đại thành ý thức cao độ về lòng yêu nước thương nòi, tạo cho mỗi con dân đất Việt niềm tự hào về dòng dõi con Rồng cháu Tiên của Việt tộc. Hiện nay ở Việt Nam vẫn còn tôn thờ nhân thần và đạo thờ cúng ông bà vẫn còn trân trọng bảo lưu, đó chính là bản sắc văn hoá đặc trưng của dân tộc và cũng là đạo lý làm người của Việt tộc. Truyền thống cao đẹp này trải qua hơn sáu ngàn năm lịch sử vẫn thấm đậm trong lòng dân tộc với bao thăng trầm biến đổi của dòng vận động lịch sử. Cho tới nay và mãi mãi về sau, hàng hàng lớp lớp thế hệ trẻ Việt Nam vẫn tưởng nhớ về cội nguồn dân tộc với tất cả lòng hãnh diện tự hào Việt Nam. Tự xa xưa, tiền nhân ta đã chọn n_ mồng mười tháng ba là ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Tháng ba là tháng Thìn, tháng của bố Rồng và ngày mười là ngày của mẹ Tiên vì giỗ quốc mẫu Aâu Cơ vào ngày mồng 5 tháng 5 hàng năm.


Đền Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh còn có tên là núi cả, núi cao nhất 175 mét trong quần thể 100 ngọn núi ở Vĩnh Phú. Theo Hùng triều Ngọc phả, Thần phả xã Tiên Lát huyện Việt Trì tỉnh Hà Bắc thì đến đời Hùng Vương thứ 16 là Hùng Tạo Vương huý Đức Quân Lang mới dời đô xuống Việt Trì, Phong Châu. Hùng Tạo Vương trị vì từ năm Tân Dậu 660 TDL đến năm Nhâm Thìn 569 TDL ngang với thời Chu Linh Vương đời Đông Chu. Sử quan triều Thanh là Tiền Hi Tộ đã nhân sự kiện này sửa đổi kéo lùi niên đại lập quốc của Văn Lang trong Đại Việt Sử Lược để xoá nhoà dấu tích về nước Văn Lang Việt cổ xưa như sau: “ Đến đời Trang Vương nhà Chu(696-682TCN), ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối thắt nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương”. (*)

Theo học giả Trần Quốc Vượng thì Việt Trì và vùng xung quanh Vĩnh Phú là đỉnh cao nhất của tam giác châu sông Hồng. Sông Hồng là tên gọi muộn màng ở cuối thế kỷ thứ XIX do màu nước của sông này. Sách Thuỷ Kinh chú ở thế kỷ thứ VI gọi nó là Tây Đạo, cái “tên chữ” Hán Việt này là sự phiên âm từ một tên Tày cổ “Nậm Tao” mà tên Việt hiện nay còn giữ được ở Việt Trì là sông Thao. Tam giác châu sông Hồng được giới hạn bởi dải núi Tam Đảo ở rìa Đông Bắc và dải núi Tản Viên ở rìa Tây Nam. Nói theo ngôn ngữ Phong thủy cận địa lý học thì đất tổ với trung tâm điểm Việt Trì ở ngã ba Bạch Hạc ngoảnh mặt hướng biển hậu chấm xa là dải Hoàng Liên Sơn chất ngất trời Nam, tay“Long” là dải Tam Đảo với dưới chân nó là sông Cà Lồ. Tay “ Hổ” là dãy Tản Viên với dưới chân nó là sông Tích, sông Đáy. Trước mặt là sự “ Tụ thuỷ” rồi “ Tụ nhân” trên đôi bờ nhị thuỷ với các đầm lớn trũng lầy như đầm Vạc Vĩnh Yên, ao Vua, suối Hai Sơ Tây … Thế đất đó bảo đảm một viễn cảnh phát triển ngàn năm, hơn bốn ngàn năn nếu tính từ người Việt cổ Phùng Nguyên đến ngày nay. Bao quanh điểm Việt Trì là những núi đồi lô nhô như bát cơm mà tư duy vũ trụ luận dân gian hình dung thành bầy voi trăm con mà tới 99 con chầu về đất tổ.

Đền Hùng gồm Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng và Lăng vua Hùng. Từ dưới đi lên qua cổng Đền cao 8m1, nóc cổng hình dáng tám mái, hai bên là phù điêu hình 2 võ sĩ cầm đao và chuỳ bảo vệ đền. Bước lên 225 bậc đá lên đến đền Hạ. Tương truyền nơi đây mẹ Aâu đã sinh ra bọc trăm trứng sau nở thành trăm người con trai. Bước thêm 168 bậc thang đá là đến Đền Trung toạ lạc ngang sườn núi Nghĩa Lĩnh, theo tương truyền thì đây là nơi Lang Liêu đã gói bánh dày bánh chưng dâng vua cha để cúng tiên tổ nhân ngày Tết. Chính tại nơi đây, vua Hùng thường hội các Lạc Hầu Lạc Tướng để bàn việc nước.

Đền Trung thờ phượng các vua Hùng và dòng dõi, có cả bệ thờ công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa. N_ ở gian giữa đền Trung treo bức đại tự “ Hùng Vương Tổ miếu” nghĩa là miếu thờ Tổ Hùng Vương, gian bên phải treo một bức đại tự “ Triệu Tổ Nam bang” nghĩa là Tổ muôn đời của nước Nam, gian bên trái treo bức “ Hùng Vương Linh tích” nghĩa là Huyền tích linh thiêng của vua Hùng. Bước thêm 132 bậc thang đá nữa là tới đền Thượng. Đền Thượng có 4 nếp nhà : Nhà chuông trống, nhà Đại Bái, nhà Tiền Tế, Cung thờ. Trên vòm cung cửa chính ra vào được trang trí phù điêu hình 2 vệ sĩ phương phi làm nổi bật bức hoành phi 4 chữ “ Nam Việt Triệu Tổ” nghĩa là Tổ muôn đời của nước Việt Nam. Trong nhà Đại bái có câu đối bất hủ :

Thác thuỷ khai cơ, Tứ cố sơn hà qui bản tịch ..
Đăng cao vọng viễn, quần phong la liệt tự nhi tôn ..!”

Mở lối đắp nền bốn hướng non sông về một mối
Lên cao nhìn rộng, nghìn trùng đồi núi tựa đàn con ..”

Trong nhà Tiền tế đặt một Hương án trên để tráp thờ bên trong đặt một triện gỗ hình vuông có khắc 4 chữ “ Hùng Vương tứ phúc”. Đặc biệt có treo một bức hoành phi trong đó có câu : “Quyết sơ dân sinh” nghĩa là cuộc sống của nhân dân là điều quyết định đầu tiên của người lãnh đạo. N_ từ thời vua Hùng đã lấy dân làm gốc “Tất cả vì dân, do dân và của nhân dân” còn giá trị mãi đến muôn đời. Bên phải đền Thượng là cột đá thề của An Dương Vương, bên trái đền Thượng là Lăng vua Hùng nhìn về hướng Đông Nam, kiến trúc theo hình khối vuông, trên có cổ diêm 8 mái, đỉnh chóp đắp hình rồng uốn lượn nổi lên 3 chữ khắc chìm “Hùng Vương Lăng”. Trên mỗi mặt tường đều đắp mặt hổ phù, thành bậc đắp kỳ lân, cửa chính của Lăng nổi lên 2 câu đối tri ân Quốc Tổ Hùng Vương :

“ Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản sông Đà, non nước vẫn quay về đất Tổ …
Văn minh đương buổi mới, con Hồng cháu Lạc, giống nòi còn biết nhớ mồ ông ..!”

Hàng năm vào ngày mồng tám tháng ba là ngày lễ hội Hùng Vương được xem như Quốc lễ của cả một dân tộc. Thời xưa đích thân nhà vua đứng chủ tế với đủ nghi thức tế lễ long trọng. Lễ vật gọi là lễ “Tam sinh” gồm nguyên một con heo, một con bò và một con dê. Bánh chưng và bánh dày là lễ vật không thể thiếu được cũng như khi cử hành tế lễ phải có đầy đủ bộ nhạc cụ đặc biệt là chiếc trống đồng độc đáo của Việt tộc.

Sau phần tế lễ là phần lễ hội với “cuộc rước bánh dày bánh chưng và rước cỗ chay”, “ Rước voi” và cuối cùng là lễ “ Rước kiệu bay” truyền thống của dân gian các làng xung quanh vùng đất Tổ. Mỗi làng đều đem theo kiệu riêng của làng mình từ các làng do vị bô lão dẫn đầu rồi đến thanh niên trai trẻ mặc võ phục thuở xưa tay cầm đủ loại cờ quạt sắc màu rực rỡ. Tất cả tề tựu dưới chân đền chờ cử hành tế lễ tạo nên một rừng người, rừng cờ hoa với đủ sắc màu. Mọi người nô nức dự lễ hội, già trẻ rộn rã tiếng cười nhưng khi tiếng chiêng tiếng trống khai lễ thì không khí trang nghiêm u mặc bao trùm cả một vùng đất Tổ.

Sau phần tế lễ rước kiệu là phần hội hè với đủ mọi trò vui chơi cho nam thanh nữ tú tham dự thưởng ngoạn. Mở đầu là cuộc thi đua thuyền truyền thống của các đội thuyền Rồng của các làng trong hồ Đá Vao n_ cạnh chân núi. Dọc bờ hồ vòng quanh ven chân núi đủ các trò vui chơi nào là những rạp tuồng chèo, những cây đu tiên, những trò chơi dân gian như đánh cờ người, trò “tung còn” giữa thanh niên thiếu nữ ngày xuân, những phường “hát Xoan” của các nơi về tụ hội tổ chức hát Xoan với những làn điệu dân ca truyền thống mỗi độ xuân về.

Việt tộc là cư dân nông nghiệp nên thường tổ chức lễ tết hội hè quanh năm suốt tháng nhưng lễ hội đền Hùng mang một ý nghĩa hết sức cao đẹp. Dự lễ hội đền Hùng chính là cuộc hành hương trở về nguồn cội dân tộc trong tâm thức mỗi con dân đất Việt. Lễ hội đền Hùng không đơn thuần là cuộc chơi xuân với những hội hè đình đám mà để chúng ta hướng vọng về Quốc tổ Hùng Vương, người truyền thừa sự sống và khai mở đất nước Văn Lang cho tất cả chúng ta. Trên thế giới ngày nay, có lẽ chỉ có dân tộc Việt Nam có Quốc tổ để tôn thờ và có một huyền thoại Rồng Tiên đẹp như áng sử thi để chúng ta có quyền tự hào gọi nhau là đồng bào, là anh em ruột thịt cùng một mẹ sinh ra :

“ Nhớ xưa Quốc Tổ dựng nền,
Truyền thống văn hiến sử thiên Việt hùng ..
Bọc điều trăm họ thai chung,
Đồng bào tiếng gọi vô cùng Việt Nam”


Chúng ta hãy lắng nghe lời của Hoàng Đế Quang Trung, vị anh hùng tài ba lỗi lạc, một vị vua anh minh tài đức nhất trong lịch sử Việt nói với thế hệ hệ cháu con chúng ta về “Nguồn gốc tộc Việt” của chúng ta như sau:


Chúng ta đều do Tổ Tiên sinh ra, không cớ là trai gái, già trẻ, không cứ là chi tộc nào, dòng họ nào .. Mọi người đều là “ CON RỒNG CHÁU TIÊN”, đều từ một bào thai của Mẹ Aâu nên tất cả từ một họ sinh ra các ngành các chi mà thôi .

Cành cây lớn muôn lá, gốc vốn ở rễ. Nước có nghìn dòng sông, muôn ngọn suối, vốn có gốc từ một ngọn nguồn. Cảnh vật còn như vậy, huống chi là con người chúng ta. Con người sinh ra đời, đời đời nối tiếp về sau, đều do các người đời trước nuôi nấng dìu dắt vậy .

Ngưỡng mộ và tưởng nhớ tổ tiên, Chúng ta hãy lấy việc siêng năng mà bồi đắp cho gốc rễ. Lấy sự cần kiệm làm răn .. Rồi tu nhân tích đức, giàu lòng thương người hơn là chê bai ghen ghét người .

Là con cháu thì chúng ta phải nối tiếp truyền thống của Tổ tiên, chứ lẽ nào con cháu mà lại không suy nghĩ về ý nghĩa thâm trầm cao đẹp nói trên hay sao ?

HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG
Nói chuyện với các bô lão làng Vân Nội
(BÁCH VIỆT TỪ ĐƯỜNG TỘC PHẢ)
Thuyết minh của La Sơn Phu Tử


CHÚ THÍCH:

(Theo Lê Xuân Diệm trong LSVN tập 2 trích dẫn Lê Tư Lành “ Văn học đề vịnh Đền Hùng”, Khảo cổ học Hà Nội 1969 số 34 tr177).

* Nguyên bộ sử có tên là Đại Việt sử lược của một tác giả vô danh đời Trần. Bộ sử đã bị quân Minh tịch thu và tiêu hủy. Bản duy nhất còn lưu giữ trong Tứ Khố Toàn Thư của Triều Thanh sau khi đã bị Tiền Hy Tộ sữa chữa lại và đổi tên là Việt sử lược. Đặc biệt nói về sự thành lập quốc gia Văn Lang, ngoài việc kéo lùi thời gian thành lập để xoá nhoà nguồn cội gốc tích Việt. Tiền Hy Tộ còn xuyên tạc ý nghĩa của sự hợp nhất 15 bộ để chống Hán tộc xâm lăng là do một người lạ dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc rồi tự xưng là Hùng Vương? Tiền Hi Tộ còn chép Hai Bà Trưng là nổi loạn, xuyên tạc ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa của Hai Bà … Thế mà một số người lại nhân danh khoa học lịch sử hiện đại đã bác bỏ niên đại 2879 TDL mở đầu và nhất loạt cho rằng “niên đại mở đầu của thời sơ sử ở Việt Nam được xác định là cách ngày nay khoảng từ 2.600 năm đến 2.500 năm” để phù hợp với sự sửa đổi Việt sử lược của Tiền Hy Tộ. Sử quan đóng khung trên đã phủ nhận cội nguồn và đi ngược lại quyền lợi của dân tộc, phản bội dân tộc.

* Tính từ năm 2879TDL( Trước Dương lịch) là năm Kinh Dương Vương lên ngôi cho đến ngày nay 2.007 thì lịch sử lập quốc của Việt tộc là 4.886 năm. Chính vì vậy chúng ta có quyền tự hào là có gần năm ngàn năm văn hiến.

* Các nhà Khảo Tiền sử đã đo chỉ số sọ của người Việt cổ rồi xác định niên đại bằng phương pháp phóng xạ Carbon C14 ít nhất là 6 ngàn năm. Chính vì vậy có thể nói dân tộc Việt Nam có hơn 6 ngàn năm lịch sử.

http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net

cadao
Administrator

USA
253 Posts

Posted - 04/23/2007 :  21:22:32  Show Profile  Reply with Quote
II. HUYỀN THOẠI RỒNG TIÊN
TỪ TRUYỀN THUYẾT TỚI HIỆN THỰC LỊCH SỬ


PHẠM TRẦN ANH

Mỗi dân tộc đều có những truyền kỳ lịch sử được thần thoại hoá thể hiện lòng tự hào dân tộc mang tính sử thi của dân tộc đó. Nữ sĩ Blaga Dimitrova cũng như nhiều học giả ngoại quốc khác đã hết sức ngạc nhiên xen lẫn thán phục khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, một dân tộc mà huyền thoại và hiện thực đan quyện hoà lẫn với nhau đến độ khó có thể phân biệt đâu là huyền thoại đâu là hiện thực nữa. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về cội nguồn huyết thống Việt tuy đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại tràn đầy tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn của truyền thống nhân đạo Việt Nam.

Là người Việt Nam, từ em bé thơ ngây đến cụ già trăm tuổi, từ bậc thức giả đến bác nông dân chân lấm tay bùn, không ai không một lần nghe truyện cổ tích họ Hồng Bàng. Chúng ta tự hào là con Rồng cháu Tiên của Bố Lạc Mẹ Aâu với thiên tình sử đẹp như một áng sử thi mở đầu thời kỳ dựng nước của dòng giống Việt. Truyện họ Hồng Bàng về khởi nguyên dân tộc, lần đầu tiên được Hồ Tông Thốc chép trong tác phẩm “ Việt Nam thế chí” vào thế kỷ XIV đời Trần nhưng sách đã bị quân Minh tịch thu tiêu huỷ nên không còn nữa. Đầu thế kỷ XIV, Trần Thế Pháp và Lý Tế Xuyên đời Trần đã chép lại những truyền thuyết dân gian vào bộ sách “LĨNH NAM TRÍCH QUÁI” và “VIỆT ĐIỆN U LINH”(1) để truyền lưu nguồn gốc giống dòng Việt cho đời sau. Trần Thế Pháp tác giả Lĩnh Nam Trích Quái viết :“Từ thời Xuân Thu Chiến Quốc chưa có quốc sử để ghi chép cho nên nhiều truyện bị mất đi, may còn truyện nào không bị thất lạc được dân gian truyền miệng thì đó là SỬ ở trong truyện chăng? Than ôi, Lĩnh Nam Liệt truyện sao không khắc vào đá, viết vào tre mà chỉ truyền tụng ở ngoài bia miệng !? Từ đứa trẻ đầu xanh đến cụ già tóc bạc đều truyền tụng và yêu dấu, lấy đó làm răn, rất quan hệ đến cương thường, phong hoá. Oâi ! Há đâu phải là điều lợi nhỏ ???”.

Năm 1329, Lý Tế Xuyên viết Việt Điện U Linh cũng ấp ủ hoài bão bảo lưu truyền thuyết về nguồn cội dân tộc nên ông cho rằng:“Xem truyện họ HỒNG BÀNG thì hiểu lai do việc khai sáng nước HOÀNG VIỆT. Trời đã sai chim huyền điểu giáng thế sinh ra vua Thương thì hẳn có việc trăm trứng nở thành trăm con trai chia trị Nam quốc. Truyện họ Hồng Bàng không thể mất được …”. Học giả Lê Quí Đôn trong “ Kiến văn Tiểu lục” viết năm 1777 đã nhận định : “ Hồi đầu niên hiệu Khai Hựu ( 1329-1341) nhà Trần, Lý Tế Xuyên phụng mệnh chép Việt Điện U Linh tập, ghi đền miếu thờ các vị thần, có trình bày hạo khí linh tích 8 vị Đế vương Lịch đại và 12 vị nhân thần. Sách này lời văn trang nghiêm, sự việc xác thực, cũng tỏ ra tài nhà sử học lành nghề. Trong sách có dẫn Giao Châu ký của Tăng Cổn, Sử ký của Đỗ Thiện và truyện Báo cực. Những sách này đều không còn thấy lưu truyền ..!”.

Mãi đến đời Lê, sử gia Ngô Sĩ Liên mới chính thức đưa thời đại Hùng Vương vào bộ ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ. Quan niệm của ông khi viết sử là để “Xét rõ nguồn gốc xưa nay của trị loạn để bạo biếm khen chê răn đời…”. Ngô Sĩ Liên mới ghi thời đại HùngVương trong phần ngoại kỷ, mà chưa chính thức ghi vào chính sử cốt ý để cho thế hệ đời sau soi sáng cội nguồn qua các công trình nghiên cứu để minh nhiên lý giải nguồn gốc dân tộc. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: “Nước ĐẠI VIỆT ta ở về phía Nam Ngũ Lĩnh, thế là Trời đã chia bờ cõi Nam Bắc hẳn hòi. Thủy tổ của ta là con cháu Thần Nông. Trời đã sinh ra vị chân chúa vì thế mới cùng Bắc triều đều làm chúa Tể một phương ….”.

Đại Việt Sử ký Toàn thư chép về họ Hồng Bàng như sau : “: Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, Rồi sau Đế Minh đi tuần phương Nam, đến dãy Ngũ Lĩnh gặp Vụ Tiên nữ sinh ra Vương (Lộc Tục). Vương là bậc Thánh trí thông minh. Đế Minh yêu quí lạ, muốn cho nối ngôi. Vương cố nhường cho anh mình, không dám vâng mệnh. Đế Minh vì thế lập Đế Nghi là con trưởng nối dòng trị phương Bắc. Lại phong cho vua là Kinh Dương Vương, trị phương Nam, đặt tên nước là Xích Quỉ. Vương lấy con gái Chúa Động Đình tên là Thần Long, sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân huý là Sùng Lãm, nhà vua lấy con gái của Đế Lai là nàng Aâu Cơ, sinh ra trăm trai. Tục truyền là sinh ra trăm trứng), ấy là Tổ của Bách Việt (Trăm giống Việt). Một hôm vua bảo Aâu Cơ rằng : “ Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thuỷ hoả khắc nhau, sum hợp thật khó”. Bèn cùng nàng từ biệt nhau, chia năm chục con theo mẹ về núi, năm chục con theo cha về miền Nam. Có sách chép là về biển Nam. Phong người con cả là Hùng Vương nối ngôi vua”.(2) Lê Tung viết trong “ Việt sử Thông giám Tổng luận” năm 1514 có lời bàn như sau : “ Hùng Vương nối nghiệp Lạc Long Quân .. con cháu nối dòng đều được gọi là Hùng Vương, phúc gồm 18 đời, năm trải hơn hai ngàn ..”.

Tác giả Lĩnh Nam Trích Quái liệt truyện căn cứ vào những truyện truyền khẩu trong dân gian và một số truyện chép theo những sách cổ của thư tịch Trung Quốc như “ Tài Quỉ ký” của Trương Quân Phòng đời Tống, “Nam Hải Cổ tích ký” của Ngô Lai đời Nguyên. “Lĩnh Nam Trích Quái Liệt truyện chép về khởi nguyên của dân tộc ta với huyền thoại RỒNG TIÊN như sau :

“… Cháu ba đời của VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG là ĐẾ MINH, Đế Minh sinh ra Đế Nghi rồi đi tuần du phương Nam tới miền Ngũ Lĩnh gặp con gái bà VỤ TIÊN đem lòng yêu thích lấy về sinh ra LỘC TỤC. Lộc Tục dung mạo đoan chính, sớm tỏ ra thông minh lanh lợi hơn người. Đế Minh thấy thế làm lạ cho nối ngôi vua nhưng Lộc Tục từ chối nhường ngôi cho anh là Đế Nghi, không dám vâng mệnh. Đế Minh thấy vậy bèn lập Đế Nghi thay mình cai trị đất Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục lên ngôi lấy hiệu là KINH DƯƠNG VƯƠNG, đặt tên nước XÍCH QUỈ”. Bờ cõi nước Nam ta lúc bấy giờ, Bắc giáp hồ Động Đình tỉnh Hồ Nam Trung Quốc bây giờ, phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành) phía Đông giáp bể Nam Hải, phía Tây tới Ba Thục Tứ Xuyên. Kinh Dương Vương có tài bơi lặn xuống thủy phủ lấy con gái Vua hồ Động Đình là LONG NỮ sinh ra SÙNG LÃM chính là LẠC LONG QUÂN sau thay vua cha trị nước, còn Kinh Dương Vương không biết đi đâu.

Đế Nghi ở Phương Bắc truyền ngôi cho con là Đế Lai. Nhân khi trong nước vô sự, nhớ tới chuyện ông mình là Đế Minh đi tuần thú phương Nam gặp được tiên nữ. Đế Lai bèn bảo bề tôi thay mình giữ nước rồi đi tuần du nước Xích Qủi ở phương Nam. Đến nới Đế Lai thấy Lạc Long Quân đã về Thủy phủ, trong nước vô chủ bèn để cho ái nữ ÂU CƠ và những kẻ hầu hạ ở lại nơi hành tại còn mình đi dạo chơi trong thiên hạ, xem các nơi hình thắng, thấy những kỳ hoa dị thảo, trân cầm dị thú như tê tượng, đồi mồi, vàng bạc châu báu, tiêu quế nhũ hương, trầm đàn các vị cùng sơn hào hải vật không thiếu thứ nào. Phương Nam bốn mùa khí hậu không lạnh không nóng. Đế Lai đem lòng yêu thích quên cả chuyện về. Nhân dân nước Nam khổ vì cảnh phiều nhiễu, không được sống yên lành như trước nên ngày đêm mong Lạc Long Quân trở về, bèn cùng nhau cất tiếng gọi: “Bố ơi, bố ở nơi nào hãy mau về cứu chúng con …” Long Quân thoắt nhiên trở về thấy Âu Cơ dung mạo tuyệt mỹ đang ở một mình, Long Quân lấy làm yêu thích bèn hoá thành một chàng trai hình dáng xinh đẹp, tả hữu trước sau có kẻ hầu người hạ, tiếng ca tiếng nhạc vang lừng đến tận nơi hành tại. Âu Cơ trông thấy Long Quân lòng cũng xiêu xiêu. Long Quân đón về ở động Long Trang. Khi Đế Lai trở về không thấy Âu Cơ bèn sai quầân thần đi tìm khắp thiên hạ. Long Quân có phép thần thông, biến hoá ra trăm hình ngàn vẻ, nào yêu tinh quỉ ma, nào rồng rắn hổ voi làm cho kẻ đi tìm sợ hãi không dám lục lạo. Đế Lai đành trở về phương Bắc. Đế Lai truyền ngôi cho Đế Du Võng. Du Võng đánh nhau với Hoàng đế ở Phản Tuyền không thắng được mà chết. Họ Thần nông phương Bắc đến đây là hết.

Lạc Long Quân và Âu Cơ sống với nhau chừng 1 năm thì sinh được một cái bọc cho là điềm không lành nên đem bỏ ở ngoài đồng. Qua 7 ngày, cái bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một người con trai, Long Quân liền đón về nuôi không cần bú mớm. Các con to lớn, người nào cũng trí dũng song toàn. Ai trông thấy cũng đều kính phục cho là đám anh em phi thường. Long Quân ở mãi nơi thủy phủ, làm cho mẹ con Âu Cơ phải sống lẻ loi muốn đi về đất Bắc, khi tới biên giới Hoàng đế nghe tin lấy làm lo sợ chia quan ngăn giữ cửa ải. Mẹ con Âu Cơ không về đất Bắc được nên đêm ngày kêu gọi Long Quân rằng: “Bố ơi, bố ơi ở nơi nào làm cho mẹ con tôi phải buồn đau”. Long Quân nghe thấy trở về gặp Âu Cơ ở Tương Dã. Âu Cơ vừa khóc vừa nói rằng:“Thiếp nguyên là người đất Bắc cùng chàng ăn ở với nhau, sinh được trăm đứa con trai, không biết dựa vào đâu mà nuôi nấng. Vậy xin theo chàng, xin chàng đừng ruồng bỏ làm cho mẹ con thiếp là kẻ không chồng, không cha, chỉ riêng mình đau khổ mà thôi. Long Quân buồn rầu nói: “Ta là giống RỒNG đứng đầu thủy phủ, nàng là giống TIÊN người ở trên đất vốn không đoàn tụ được với nhau. Tuy khí ÂM DƯƠNG hợp lại mà sinh con nhưng giống dòng tương khắc như nước với lửa, khó bề ở với nhau dài lâu được. Nay phải chia ly, ta mang 50 con trai về thủy phủ chia trị các nơi, còn 50 con theo nàng ở trên đất, có việc cùng gắn bó đừng bỏ rơi nhau… Trăm người con trai cúi đầu lặng lẽ nghe lời Bố rồi cùng nhau từ biệt mà đi…”.

Thoạt nghe có vẻ hoang đường huyền hoặc thế nhưng vấn đề là chúng ta phải đặt mình vào thuở ban sơ cách đây mấy ngàn năm mới thấy rõ Tổ tiên ta đã sống ra sao và suy nghĩ thế nào ở thời cổ đại? Từ đó mới có thể hiểu được những gì mà Tổ tiên ta đã gửi gấm cho chúng ta qua bức thông điệp lịch sử đó. Làm sao có chuyện trứng nở ra người? Chi Âu Việt của người Việt cổ chọn vật linh biểu trưng là chim nên mẹ Aâu đẻ ra trăm trứng là như thế. Chim Phượng Hoàng của người Việt tung cánh bay theo hướng mặt trời, vừa diễn tả ý niệm người Việt thiên cư dần về hướng Đông xuống miền bể, mặt khác chim bay lên trời gắn liền với hình tượng Tiên của mẹ Âu Cơ.

Mỗi dân tộc đều có những truyền thuyết độc đáo mang sắc thái đặc thù biểu trưng riêng của dân tộc đó. Vì thế n_ cả những dân tộc mà ngày nay được xem là văn minh cũng đều có một con vật biểu trưng cho dòng giống như Ấn Độ là voi, Tàu là con cọp, Pháp là con gà trống Gaulois, Anh là con sư tử, Mỹ là con chim Ưng (đại bàng) nên Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ lấy chim đại bàng và Pháp lấy con gà làm quốc huy cho cả nước.

Theo cơ cấu luận thì Sử ký là sử hàng ngang ghi chép các biến cố, các sự kiện cụ thể với những con người cụ thể theo năm tháng, còn Huyền sử được gọi là Sử hàng dọc mang tính tâm linh, xoay quanh những tác động lý tưởng biểu thị bằng những sơ nguyên tượng giàu phổ biến tính. Thật vậy, cái biểu tượng uyên nguyên đó có thật như một lý tưởng nhưng chưa hiện thực được. Đó là những nguyên lý được kết tinh và tiềm ẩn trong đời sống tâm linh của một dân tộc như trong huyền sử Rồng Tiên thì Âu Cơ chỉ là hình tượng nguyên sơ.(3) Mẹ Âu Cơ là chi tộc thờ chim của Việt tộc nên việc mẹ đẻ ra một cái bọc trăm trứng là chuyện bình thường cũng như cái bọc không chỉ nói về cái bọc mà nó biểu tượng cho ý niệm công thể, ý nghĩa của 2 chữ đồng bào cùng chung một bào thai của mẹ Âu Cơ. Cũng thế trăm con không nhất thiết phải là một trăm mà hàm ý số nhiều và quan trọng nhất là thư tịch cổ Trung Hoa chép về cộng đồng Bách Việt, đã chứng minh sự thật lịch sử của huyền thoại mà ta cứ tưởng là huyền hoặc hoang đường.

Theo triết gia Kim Định thì huyền sử nói mà không nói, thật mà không hiện thực là thế đó. Ngày nay không ai phủ nhận được giá trị của huyền thoại và truyền thuyết được coi như lịch sử dân gian mà đôi khi nó có giá trị trung thực hơn cái gọi là “chính sử” của các chế độ độc tài xưa và nay. Beaudelaire một thi sĩ nổi tiếng đã nhìn nhận sức mạnh của truyền thuyết huyền thoại vì đó là “Sử cô đọng của các dân tộc”. Đại văn hào Pháp Victor Hugo khi viết “ Truyện kỳ các thời đại” ông đã tìm về nguồn cội, khai thác các truyền thuyết thần thoại xa xưa vì theo ông, đó là “Lịch sử được lắng nghe ở ngưỡng cửa của truyền thuyết. Truyền kỳ có phần nào hư cấu nhưng tuyệt đối không có ngụy tạo”.

Thật vậy, truyền thuyết tự thân nó không phải là lịch sử biên niên nhưng truyền thuyết là có thật, nó phản ảnh những ý nghĩa có thật của một thời lịch sử ban sơ mà người xưa ký thác vào đó dưới lớp vỏ hư cấu huyền hoặc để truyền lưu gửi gấm cho những thế hệ sau. Một triết gia nói: “Tất cả nền minh triết cũng như trí khôn loài người đều ẩn tàng trong các huyền thoại, truyền kỳ lịch sử dân gian”. Vấn đề là phải làm sao hiểu được những lý tưởng uyên nguyên, những tâm linh sâu thẳm hàm tàng ẩn chứa qua những hình tượng nguyên sơ trong đó. “ Tất cả đã được nói rồi trong các thần thoại, vấn đề chúng ta là chỉ còn phải tìm hiểu” như P.Ricoeur đã viết. Nói theo Jung, một triết gia thời đại thì: “Truyền thuyết huyền thoại hàm chứa những ý nghĩa lịch sử trung thực nhất, vì nhân vật thần thoại là sản phẩm đúc kết biết bao suy tư của một thời đại tạo dựng độc sáng nhưng nó phải chờ thế hệ sau diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lý giải…”(4)

Ngày nay không ai phủ nhận được giá trị của huyền thoại và truyền thuyết được coi là lịch sử dân gian có giá trị trung thực hơn cái gọi là “chính sử” tại một số nước độc tài hiện nay. Nói cách khác như Jung, một triết gia thời đại thì “Huyền thoại là đạo sống của một dân tộc” mà theo Wallace Cliff thì “ Nếu dân tộc nào để mất đi huyền thoại là đánh mất mạch nối vào nguồn cội quá khứ của tổ tiên và cũng sẽ mất luôn căn bản cho việc xây dựng tiền đồ của dân tộc đó”. Thật vậy Laurens va de Post đã xem huyền thoại là di sản thiêng liêng nhất vì nó diễn tả tinh thần dân tộc ở mức độ cao nhất. Micia Eliado cũng cho rằng “Huyền thoại là gia sản quí báu nhất vì tính chất thiêng liêng điển hình và mang lại ý nghĩa sống cho cả một dân tộc”.

Lịch sử đã chứng minh lời của Karl Jung là “Dân tộc nào quên đi huyền thoại thì dân tộc đó dù là những dân tộc văn minh nhất sớm muộn cũng sẽ tiêu vong…”. Trong lịch sử loài người, nhiều cộng đồng người đã không tồn tại được với thời gian vì không có truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc. Huyền thoại là di sản thiêng liêng nhất, quí báu nhất mà tiền nhân đã để lại cho hậu thế. Huyền thoại là mạch sống nối cội nguồn quá khứ với thế hệ hiện tại và mai sau, là gia sản cao quí vô giá ghi nhận những cảm nghiệm nội tâm của người xưa đã thực chứng suốt dòng vận động của lịch sử. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên đã thấm đậm trong lòng mỗi người chúng ta để trở thành đạo sống của dân tộc Việt.

Với phương pháp nghiên cứu huyền thoại, chúng ta nghiên cứu huyền sử, tìm về nguồn cội dòng giống qua những gửi gấm của người xưa là một việc làm hết sức đúng đắn và cần thiết. Vấn đề đặt ra là với một thái độ nghiêm túc, một phương pháp khoa học, nhưng không có quyền áp đặt những suy nghĩ của nhân loại thế kỷ 20 lên những tư duy, trí tưởng tượng của người xưa mà chúng ta phải đặt mình hoàn cảnh lịch sử thời đó để có thể hiểu được cái gọi là “ lịch sử sống động của dân gian”. Một mặt, phải gạt bỏ những yếu tố thần thoại, loại ra những chi tiết hư cấu. Mặt khác, đặt mình vào hoàn cảnh xã hội đời sống tâm linh của người xưa, mới thấy được cái tinh tuý cốt lõi tiềm tàng trong truyền thuyết, sau khi phân tích, đối chiếu và xác minh bởi lịch sử minh thị với những chứng cứ Khảo cổ, Ngôn ngữ, Dân tộc học và Chủng tộc học.



http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page

cadao
Administrator

USA
253 Posts

Posted - 04/23/2007 :  21:23:34  Show Profile  Reply with Quote
III. HUYỀN THOẠI RỒNG TIÊN
BỨC THÔNG ĐIỆP SÁU NGÀN NĂM LỊCH SỬ

Phạm Trần Anh

Cũng như nhiều học giả ngoại quốc khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, nữ sĩ Blaga Dimitrova đã hết sức ngạc nhiên xen lẫn thán phục dân tộc Việt Nam, một dân tộc mà huyền thoại và hiện thực đan quyện hoà lẫn với nhau đến nỗi khó có thể phân biệt đâu là huyền thoại đâu là hiện thực nữa. Mỗi dân tộc đều có những truyền kỳ lịch sử được thần thoại hoá thể hiện lòng tự hào dân tộc mang tính sử thi của mình. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về ngọn nguồn huyết thống Việt tuy đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại tràn đầy tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn của truyền thống nhân đạo Việt Nam. Huyền sử con Rồng cháu Tiên là niềm tự hào của nòi giống Việt. Đã là người Việt Nam thì từ em bé thơ ngây đến cụ già trăm tuổi, từ bậc thức giả uyên bác đến bác nông dân suốt đời chân lấm tay bùn, không ai không một lần nghe truyện cổ tích Họ Hồng Bàng. Thật vậy, ai trong chúng ta mà không biết về nguồn cội Rồng Tiên với thiên tình sử của “Bố Lạc Mẹ Âu” mở đầu thời kỳ dựng nước của dòng giống Việt.

Kể từ khi Ngô Sĩ Liên dẫn truyện họ Hồng Bàng trong “Lĩnh Nam Trích Quái” để chép kỷ Hồng Bàng trong bộ Đại Việt sử ký Toàn Thư, thì lần đầu tiên huyền thoại Rồng Tiên, nguồn gốc của dân tộc Việt được ghi trong chính sử nước ta. Gần đây, công trình nghiên cứu về “Lục Độ Tập Kinh” của học giả Lê Mạnh Thát cho chúng ta biết thêm là chính Khương Tăng Hội thông qua Lục Độ Tập Kinh là người đầu tiên bảo lưu truyền thuyết “trăm trứng” của dân tộc ta. Năm 251 Khương Tăng Hội dịch Lục Độ tập Kinh sang chữ Hán có truyện trăm trứng mà nguyên bản chữ Phạn là “trăm cục thịt” của truyền thống Phạn Văn mà bản dịch tiếng Trung Quốc đã lưu hành khắp Trung Nguyên. Lục Độ Tập kinh đã bảo lưu cho thế hệ Việt Nam chúng ta, về nguồn gốc dân tộc qua câu chuyện trăm trứng trong kinh Phật mãi tới ngày nay.

Truyền thuyết Việt Nam không mang tính huyền thoại hoang đường của chủ nghĩa duy thần cuồng tín hoặc duy nhân thái quá, đề cao con người thái quá khiến con người bị nhấc bổng lên trên không, để từ đó sinh ra tự mãn cho rằng chỉ có con người làm nên tất cả, chỉ có cái ta duy lý đó dẫn tới quan niệm độc tôn, độc đoán, độc tài … của phương Tây. Truyền thuyết Việt Nam không mang tính huyền thoại ly kỳ như truyền thuyết về tình yêu của những anh hùng không thực và giai nhân tuyệt sắc của Ấn Độ.

Truyền thuyết Việt Nam cũng không thiên về sức mạnh của vật chất, của bắp thịt siêu nhiên kiểu Samson, Hercule, Héraclès. Truyền thuyết Việt Nam cũng không tôn thờ những thần thánh “thế tục hơn cả thế tục” kiểu thần Ouranos loạn luân vô đạo, thần tửu sắc Baccus, nữ thần sắc đẹp Vénus dâm dục, thần quan thầy thương mại Mercure tay cầm túi tiền, tay cầm dùi đục như thần thoại La Hy phương Tây và những nước cận Đông khác.

Truyền thuyết Việt Nam nói đúng hơn đó là truyền kỳ lịch sử Việt Nam được hư cấu dưới lớp vỏ huyền thoại nhưng thực chất lại đề cao con người với ý nghĩa nhân bản truyền thống. Truyền thuyết Việt Nam biểu trưng một triết lý văn hoá cao đẹp không những thấm đậm tính nhân đạo, chan chứa vẻ nhân văn, tràn đầy tình đồng bào, nghĩa ruột thịt qua hình tượng “ Bọc điều trăm trứng nở trăm con”. Từ ý niệm đồng bào dẫn đến lòng yêu nước, thương nòi, yêu quê cha đất tổ, tất cả đã trở thành giá trị đạo lý truyền thống của nền văn minh đạo đức Việt Nam.

Gạt sang một bên những hư cấu hoang đường quen thuộc của huyền thoại để cố gắng tìm hiểu những ẩn ý sâu xa hàm tàng trong truyền thuyết, đã gợi cho chúng ta chìa khoá để giải mã bức thông điệp Rồng Tiên từ ngàn xưa gửi cho cháu con đời sau. Tự thân huyền thoại Rồng Tiên đã chiếu giải trung thực ý nghĩa của những sự kiện lịch sử sau:

. VIỆT TỘC LÀ HẬU DUỆ CHÍNH THỐNG CỦA ĐẾ THẦN NÔNG:

Truyền thuyết đã được xác nhận bởi nguồn tịch cổ là dòng Thần Nông phương Bắc định cư ở Bắc lưu vực Hoàng Hà, truyền đến đời Du Võng tràn xuống phương Nam giao chiến với Li Vưu (Xuy Vưu) cuối cùng bị Hoàng Đế đánh đuổi và chết ở Lạc Ấp. Dòng Thần Nông phương Nam do Kinh Dương Vương, thủ lĩnh của liên minh bộ lạc ở Châu Kinh và Châu Dương ở vùng lưu vực sông Dương Tử hình thành nhà nước Xích Qui(5) ban sơ của Việt tộc.

Truyền thuyết cho ta biết là các chi tộc Việt vẫn chung sống hài hoà, điều này được thể hiện qua việc Lạc Long Quân con của Kinh Dương Vương, dòng Thần Nông phương Nam lấy công chúa Âu Cơ con của Đế Lai dòng Thần Nông phương Bắc. Lịch sử lại hợp nhất 2 dòng Thần Nông Bắc và Nam lưu vực Hoàng Hà để truyền lưu mãi tới ngày nay. Đây chính là cốt lõi của vấn đề chứ không như một số người hẹp hòi đặt vấn đề theo cách nhìn thiển cận của họ là Lạc Long Quân lấy cháu họ Âu Cơ. Xin lưu ý một điều là thời đó là chế độ mẫu hệ nên vì thế không đặt thành vấn đề “loạn luân” theo quan điểm chúng ta ngày nay. Mặt khác, ý nghĩa cao cả của việc Lạc Long Quân lấy Âu Cơ chính là để nói lên sự hợp nhất của 2 dòng Thần Nông Bắc và Nam mà người xưa muốn nhắn gửi cho đời sau mà thôi.

Truyện cổ tích họ Hồng Bàng kể lại rằng:“Lạc Long Quân thay cha trị nước, dạy dân cày cấy, ăn mặc. Trong nước từ đấy mới có thứ tự quần thần, tôn ti trật tự, xã hội mới có luân thường đạo lý giữa cha con, vợ chồng”. Thư tịch cổ cũng ghi rõ: “ Lạc Long Quân giáo dân canh giá y thực, thủy hữu quần thần, tôn ti chi tự, phụ tử, phu phụ chi luân. Việt nhân hô phụ viết bố, hô quân viết vương” có nghĩa là Bố Lạc dạy dân cách cày cấy ăn mặc, vua tôi vợ chồng có luân thường đạo lý. Người Việt gọi phụ (cha) là Bố, gọi vương (vua) là Quân. Thực tế này chứng tỏ Việt tộc n_ từ thời đó đó có một nền văn minh đạo đức góp phần hình thành truyền thống văn hiến Việt.

Truyền thuyết cũng cho biết rằng Việt tộc là hậu duệ của Viêm đế Thần Nông mà hình tượng là Totem phức thể “Đầu người, thân trâu” là ông Tổ của nghề nông. Truyền thuyết kể lại rằng Thần Nông uốn gỗ làm “lỗi” đẽo gỗ làm “trĩ”, những dụng cụ này dùng sức kéo để vạch thành luống đất, dạy dân cày cấy. Theo“Bách Việt Ngọc phả Truyền thư” thì chỉ có nhị hoàng chứ không có tam hoàng như sách sử Trung Quốc chép thêm Nữ Oa từ trước đến giờ. Phục Hi còn gọi là Đế Thiên (2698-2599 TDL), họ Hiên Viên có tên thụy là Thái Hạo thờ rồng. Truyền thuyết dân gian kể rằng bà Hoa Lư đạp nhân khi đi qua đầm Lôi Trạch, dẫm lên vết chân khổng lồ của Lôi Thần, vị thần Rồng cảm ứng mà sinh ra Phục Hi. Đây chính là thụ thai theo lối “dã hợp”, bản sắc riêng biệt của người Việt cổ.

Là con của Thần Rồng nên Phục Hi mang hình tượng đầu và mình là người, phần dưới là thân Rồng. Em gái song sinh của Phục Hi là Nữ Oa cũng nửa người nửa Rồng. Giới khảo cổ đã tìm được một bức phù điêu chạm nổi hình hai anh em, đuôi quấn lấy nhau, tay Phục Hi cầm tượng mặt trời, tay Nữ Oa cầm tượng mặt trăng. Phục Hi truyền ngôi cho con là Thần Nông tức Đế Thần, họ Khương tên thuỵ là Thiếu Hạo thờ chim. Sách “Đế vương Thế kỷ” chép về Thần Nông như sau:“ Đế Viêm Thần Nông họ Khương, mẹ là Nhiệm Tợ con gái của họ Hữu Kiều tên là Nữ Đang, làm chánh phi cho Thiếu Diễm. Nhân dịp đi chơi phía Nam Hoa Sơn gặp Thần Long, cảm Nữ Đang ở Thương Dương mà sinh Đế Viêm. Đế Viêm “đầu người thân trâu”, lớn lên ở sông Khương nên lấy họ Khương. Đế Viêm đóng đô ở Trần thuộc tỉnh Hà Nam, Đế Viêm chế ra đàn cầm 5 dây, bắt đầu dạy thiên hạ trồng lúa nên dân gian gọi là Thần Nông. Thần Nông vốn nổi lên từ Liệt Sơn nên còn gọi họ là Liệt Sơn, còn một họ nữa là Đẩu Khôi ấy là Nông Hoàng. Dân gian truyền tụng rằng vào thời Đế Viêm, chư hầu họ Túc Sa làm phản, không chịu vâng lời. Cơ Văn can gián bị Túc Sa giết chết. Đế Viêm rút về Tu Đức. Dân Túc Sa nổi giận giết vua rồi về theo Đế Viêm. Đế Viêm từ nước Trần dòi đô về Khúc Phụ ở Lỗ, lập lại số 8 quẻ tức 8 lần 8 là 64 quẻ, ở ngôi 120 năm mới băng hà, mộ táng ở Trường Sa. Đế Viêm lấy con gái họ Bôn Thuỷ tên là Thính Yểu, sinh ra Đế Lâm, Đế Lâm sinh Đế Khôi, Đế Khôi sinh Đế Thừa .. Đế Minh, Đế Trực, Đế Ly, Đế Du Võng phàm 8 đời trị vì 530 năm”.(6)

Lưu An trong tác phẩm “Hoài Nam tử” chép lại thời thái bình thịnh trị của Thần Nông như sau:“Xưa khi Thần Nông trị thiên hạ, tinh thần không xuôi ngược trong lòng, trí óc không rong ruổi ngoài 4 cõi. Người ta mang lòng nhân, mưa ngọt tuôn rơi, ngũ cốc tốt tươi. Xuân sinh, Hạ lớn, Thu gặt, Đông cất. Tháng rảnh ngày thơi, cuối năm dâng cúng, đúng thời thường khoản, cùng ở “Minh Đường”. Chế độ “Minh Đường” tuy có mà không. Bốn phương mưa gió thuận hoà, thời tiết ấm áp ôn hoà. Thần Nông nuôi dân lấy công bằng là chính, dân tình chất phác n_ thẳng, không tranh đua giành giật mà dư của ăn của để, không nhọc nhằn thân xác mà vẫn xong việc, cùng sống hoà đồng nên được trời đất giúp đỡ. Do thế, có uy mà không giết, ra hình mà không dùng, pháp luật bớt đi không phiền ai cả. Vì vậy sự cải hoá của “ Người” giống như thần. Đất của Người, Nam tới Giao Chỉ không ai là không nghe vậy. Vào thời ấy, luật ít hình nhẹ, lao tù trống trơn mà thiên hạ một tục, chẳng ai mang lòng gian trá …”.(7)

Truyền thuyết cho chúng ta biết rằng Việt tộc là hậu duệ của Đế Viêm Thần Nông mà từ xưa đến nay chúng ta cứ cho là của Hán tộc. Truyền thuyết cũng nói tới dòng Thần Nông phương Bắc, dòng Thần Nông phương Nam nên một số người nghĩ rằng Tàu là dòng Thần Nông phương Bắc, ta là dòng Thần Nông phương Nam nên cho rằng ta với Tàu là cùng một gốc. Thậm chí một tiến sĩ sử học còn ngộ nhận cho ta là từ người Tàu mà ra. Đó là điều đáng buồn đáng hổ thẹn cho dòng giống con Rồng cháu tiên của chúng ta.Thế nên việc tìm hiểu về cội nguồn dân tộc từ truyền thuyết, từ những mảnh vụn của lịch sử để phục hồi sự thật, tìm về cội nguồn dân tộc. Chân lý khách quan của lịch sử sẽ sáng tỏ, trả lại những gì sự thật lịch sử cho lịch sử chính là ước vọng ngàn đời của tất cả chúng ta, những con dân đất Việt hôm nay. Vấn đề đặt ra là tại sao truyền thuyết lại bắt đầu từ Đế Minh, cháu 3 đời của Đế Viêm Thần Nông chứ không phải từ Thần Nông? Làm sáng tỏ vấn nan này chính là để khẳng định Đế Viêm chính là ông Tổ của Việt tộc, đồng thời minh xác Việt tộc là hậu duệ chính thống của Phục Hi, Thần Nông kế thừa Aâm dương Dịch biến luận, tinh hoa của triết thuyết phương Đông. Tư Mã Thiên, tác giả bộ Sử ký nổi tiếng được xem là đại biểu cho sử quan chính thống của Hán tộc đã viết Hoàng Đế, thủ lĩnh của liên minh bộ lạc trung nguyên là người mở đầu lịch sử Trung Quốc mà không hề nhắc gì tới Phục Hi, Thần Nông.

Ngày nay, các nhà Trung Hoa học đều thống nhất quan điểm là trước khi Hán tộc tràn xuống chiếm lĩnh trung nguyên thì tộc người mà cổ sử Trung Quốc gọi là“Di Việt” đã làm chủ trung nguyên từ xa xưa. Lịch sử Trung Quốc chỉ thực sự bắt đầu từ triều Thương, Chu mà thôi. N_ các học giả uyên bác của Trung Quốc như V.K.Tinh, Wang Kwo Vu đều xác định là tất cả huyền thoại về các vị vua cổ xưa đều không thấy ghi chép gì trong “ Giáp cốt” đời Thương. Nếu Hoàng Đế là người khai mở lịch sử TQ thì chắc chắn phải ghi rõ trong giáp cốt nên không cần phải bàn cãi nhiều về nhân vật này. Sự tích tên tuổi của các nhân vật huyền sử Phục Hi, Thần Nông mới được nhắc tới trong sách vở vào thời Xuân thu Chiến quốc là thời kỳ nở rộ của Bách Việt. Nhóm Tân học“Nghi cổ phái” do nhà văn Quách Mạt Nhược chủ xướng đã chính thức bãi bỏ thời Tam Hoàng, Ngũ Đế là của Trung Quốc. Chính Lương Khải Siêu, nhà chính trị nổi tiếng một thời của Hán tộc cũng phải thừa nhận là lịch sử Trung Quốc mới chỉ có khoảng 4 ngàn năm nay mà thôi.

Thời Xuân Thu là thời kỳ phục hưng của Việt tộc với sự trổi dậy của các quốc gia Bách Việt, hết Ngô đến Việt xưng “Bá” rồi tới Sở lãnh đạo liên minh 6 nước trung nguyên chống Tần giành quyền thống lĩnh trung nguyên. Chính vì vậy, thời kỳ này mới xuất hiện các nhân vật huyền sử Việt từ Phục Hi, Nữ Oa, Thần Nông, Đế Hoàng (Hoàng Đế) tới Nghiêu Thuấn, Vũ nhà Hạ của Việt tộc. Chính Khổng Tử, người được xem là“Vạn thế Sư biểu” của Trung quốc cũng biết rõ điều này nên chưa hề nhắc tới nhân vật Hoàng Đế mặc dù Khổng Tử đã xác nhận rõ là theo triều Chu “ Ngô tòng Chu ..!”.

Trong tác phẩm “Cổ sử Khảo” của Tiều Chu (199-270),“Tam ngũ lịch” của Từ Chỉnh (200-260),“Đông kỷ” của Vỹ Chiếu (204-273),“Đế vương Thế kỷ” của Hoàng Phủ Mật (215-282) thì tất cả các sử gia Trung Quốc này đều khẳng định rằng Thần Nông có liên quan huyết thống với Việt tộc. Nói cách khác, Việt tộc là hậu duệ của Thần Nông. Cổ thư Trung quốc chép lại sự kiện là đời Nghiêu Thuấn đánh dẹp họ Cộng Công (của Hán tộc) vì đã tranh ngôi với Chúc Dung (2690TDL) là hậu duệ của Đế Viêm Thần Nông. Vua các nước Trịnh và hoàng tộc một số nước ở bán đảo Sơn Đông như Tề, Lỗ, Trần đều nhận họ là con cháu Thần Thái Sơn và lấy họ Khương là họ của Thần Nông. Gần đây, học giả Eberhard một nhà Trung Hoa học nổi tiếng đã công bố một sự thật là vào khoảng năm 450 TDL, một người viết sử đã đưa Hoàng Đế nguyên là một vị thần nhỏ trong địa phận Sơn Đông lên làm vị vua đầu tiên của Hán tộc. Sơn Đông là địa bàn cư trú của Lạc bộ Trĩ của Việt tộc mà cổ sử TQ gọi là rợ Đông Di nên vị thần Đế Hoàng chính là người Việt cổ nhưng Hán tộc nhận là thuỷ tổ nên viết lại là Hoàng Đế theo cú pháp Hán tự của họ. Nếu Hoàng Đế là một nhân vật có thật thì Đế Hoàng phải là người Việt cổ, hậu duệ của Thần Nông nhưng thuộc dòng Thần Nông phương Bắc. Cổ sử ghi lại là năm thứ sáu đời Chu Thành Vương 1100 TDL, Việt Thường cử sứ giả đến triều Chu biếu một con chim Bạch Trĩ, quan Trủng Tể Chu Công Đán nhớ lời Hoàng Đế có lời thề rằng “ Giao Chỉ ở ngoài phương xa, không được xâm phạm ..”. Nguồn sử liệu trên cũng hé mở cho chúng ta thấy là Hoàng Đế có liên hệ huyết thống với Việt tộc.

Theo Từ Hải thì Hoàng Đế, Li Vưu đều là những thị tộc trưởng nên sở dĩ có chiến tranh là để giành ngôi vị thủ lĩnh mà thôi. Truyền thuyết xưa cũng kể rằng Thần Nông và Hoàng Đế có cùng một ông Tổ là Thiếu Điển. (8) Tất cả các chứng cứ trên đã góp phần làm sáng tỏ sự thật lịch sử, phục hồi chân lý khách quan của lịch sử đó là nhân vật Đế Hoàng là người Việt cổ chứ không phải thuỷ tổ của Hán tộc như Tư Mã Thiên đã viết. Như vậy, thời đại “Tam Hoàng, Ngũ Đế” của họ chính là của Việt tộc. Tam Hoàng gồm Toại Nhân được xem là thuỷ tổ của loài người, kế đến là Phục Hy họ Thái Hạo thờ Rồng và Thần Nông họ Thiếu Hạo thờ chim.

Một vấn đề khác cũng phải đặt ra là sau thời đại Tam Hoàng là tới Ngũ Đế gồm Đế Hoàng, Đế Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu và Đế Thuấn đều là người Việt cổ. Công trình nghiên cứu của Nguyễn Nguyên về Hán ngữ và các phương ngữ Bách Việt ở Trung nguyên đã nhận xét chỉ có người Hakka (Hẹ) là Lạc bộ Trĩ ở vùng sông Bộc và bán đảo Sơn Đông có phát âm tương tự với Hán Việt và tiếng nôm của Việt tộc [Ngieu] còn Quan thoại và các phương ngữ khác đọc khác. Sự kiện này chứng tỏ thêm rõ là Đế Nghiêu là người Việt cổ.(9) Cổ sử Trung quốc cũng cho biết họ Đào Đường tức Đế Nghiêu đóng đô ở Bình Dương thuộc Sơn Tây. Đế Nghiêu truyền ngôi cho Đế Thuấn đóng đô ở Bồ Bản cũng thuộc Sơn Tây. Thuấn truyền ngôi cho Vũ lập ra nhà Hạ. Mạnh Tử xác nhận vua Thuấn là người Đông Di và từ điển Từ Hải cũng xác định là tổ tiên và con cháu Thuấn đều được phong ở đất Đông Di. Thế mà Tư Mã Thiên, sử quan chính thống Đại Hán lại bao biện cho rằng Thuấn bị xem là người Đông Di vì thói quen hồi đó gọi là như thế. Luận điệu này không có tính cách thuyết phục nếu không muốn nói là khôi hài. Tại sao lại có thói quen gọi một người đồng chủng nhất là một vị vua là rợ Đông Di? Chính bản thân Tư Mã Thiên chỉ vì là bạn Lý Lăng mà đã bị tội phải “cung hình”, cắt bỏ bộ phận sinh dục huống chi gọi vua là man di mọi rợ, chắc chắn phải bị tru di cửu tộc chứ không phải là tam tộc nữa!

Trong khi chính cổ thư Trung quốc chép là vua Thuấn lấy vợ Việt và về ở ở rể tại nhà vợ. Sách Lễ Ký viết rõ hơn:“ Đế Thuấn là một nông dân Việt ở Lôi Trạch đã phát minh ra đàn huyền 5 dây để ca bài Nam Phong và ông Qui chế ra nhạc để thưởng chư hầu”. Theo Mã Đoan Lâm trong sách “Văn hiến Thông khảo” thì lúc đầu Tam Miêu không chịu phục nên vua Thuấn đã sai Vũ đi đánh cũng không được nên Thuấn chế ra đàn huyền 5 dây để hát bài Nam Phong. Cổ thư chép là cả Vua Thuấn và ông Vũ đều mặc áo “lông chim” rồi cầm khiên múa điệu vũ Li Vưu. Sau 3 năm là con số linh của Việt tộc thì Tam Miêu mới chịu phục vì nhận ra Thuấn, Vũ có cùng một nền văn hoá, cùng một chủng tộc. Theo Đổng Trọng Thư thì Li Vưu là cổ thiên tử, là vua phương Nam trước là viên quan xem thiên văn có cánh mà không bay được hàm ý chỉ người thuộc chi Aâu Việt thờ chim. Tương truyền Li Vưu được thần thoại hoá là rồng vàng cao cả, là người có 4 mắt, 6 tay với 2 phụ tá là thần gió và thần mưa. Công trình nghiên cứu của Kim Định cho biết Li Vưu cũng là tên một bài múa gồm nhiều vũ nhân nhất 9.9=81. Li Vưu cũng chỉ lá cờ hay xuất hiện trên bầu trời như hình sao chổi đuôi cong, nền cờ màu đỏ ở giữa có hình tròn màu vàng mà sau này Hoàng Đế Quang Trung cũng chọn lá cờ của thánh tổ Li Vưu thời cổ đại.(10)

Theo nhà nghiên cứu Vũ Bình người Trung quốc thì khi giải mã chữ “Vũ” cổ đã cho rằng đó là dáng múa của cư dân nông nghiệp khi cầu mưa. Vũ nhạc có quan hệ mật thiết với lễ dâng hương của truyền thống thờ cúng thần mặt trời, thờ cúng tổ tiên của cư dân nông nghiệp. Vấn đề gốc tích vua Vũ lại sáng tỏ khi cổ sử Trung quốc còn ghi rõ là năm Quí Tỵ (2.198 TDL), vua Đại Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê thuộc U Việt. Năm Quí Mão 2.085 TDL, vua Thiếu Khang nhà Hạ phong cho con thứ là Vô Dư ở đất Việt. Cổ thư chép vua Vũ được ban cho “Cửu Trù” cũng là “ Cửu Đỉnh” nên chia nước ra 9 châu. Kim Định trích dẫn Danses kể lại truyền thuyết về vua Vũ khi đi trị thuỷ, đào sâu xuống lòng sông thì gặp mả của Phục Hi, khi mở ra thấy Phục Hy đang quấn đuôi Nữ Oa. Vua Đại Vũ được ban cho sách “Lạc thư” cũng trên dòng sông Lạc. Miền Trung và Hạ lưu sông Hoàng Hà có 2 con sông cùng có tên là sông Lạc. Một ở ngã ba Tam Giang Bắc của người Việt cổ chi Lạc bộ Chuy ở vùng Thiểm Tây, Sơn Tây và một ở Bắc tỉnh Hà Nam cũng gọi là sông Lạc nhưng viết với bộ Thuỷ. Hai thuỷ danh gắn liền với tộc danh đã chứng tỏ vua Đại Vũ là người Việt vì chỉ có ông Vũ mới được thiên duyên là rùa thần nổi lên trên sông Lạc, đội quyển sách “Lạc thư” có ghi 9 điều khoản để trị nước.

Nói cách khác, huyền sử cho chúng ta thấy rằng quyển sách đó là tinh hoa Việt bao gồm “Hồng phạm Cửu trù” với Lạc thư để vua Vũ lập ra nhà Hạ của Việt tộc. Sử sách còn ghi lại là vua Thuấn tuần du phương Nam rồi chết ở núi Thương Ngô. Núi Thương Ngô trước tên là núi Cửu Nghi ở miền Bắc tỉnh Hồ Nam là địa bàn cư trú của Bách Việt. Hai bà vợ đi theo buồn đau than khóc rồi chết bên bờ sông Tương nên dân gian lập đền thờ hai bà gọi là “Tương phi”. Sông Tương bắt nguồn từ Long Uyên chảy vào hồ Động Đình và ăn lên tới vùng Ba Thục là đất Bách Việt (Bai-Yue). Dân gian còn lập đền thờ Sương Quân là con gái vua Nghiêu n_ bên hồ Động Đình.

Cổ thư Trung Hoa chép lại rằng vua các nước Ngô Việt đều tự hào là con cháu Hoàng Đế và vua Đại Vũ nhà Hạ. Chính Tư Mã Thiên trong “Sử ký” cũng tự mâu thuẫn khi chép rằng tổ tiên của Câu Tiễn, vua nước Việt thời Xuân Thu là dòng dõi vua Vũ. Hiện ở núi Cối Kê tỉnh Triết Giang Trung quốc bây giờ vẫn còn đền thờ vua Vũ, nơi mà ngày xưa vua Vũ đã đến hội chư hầu tại đây. “Sử Ký” cũng chép rằng vua nước Sở nhận rằng là hậu duệ của Hoàng đế Hiên Viên. Hùng Dịch người được triều Chu phong cho ở đất Sở là cháu vua Kinh Man là Chuyên Húc (còn gọi là Xuyên Húc) ông tổ của nhà Hạ. Cổ thư ghi rõ Chuyên Húc thuộc dòng họ Cao Tân Cao Dương của Việt tộc còn lưu lại dấu ấn trong sự tích trầu cau. Đế Cốc kế tiếp Đế Chuyên Húc lại là cháu của vua Thiếu Hạo, dòng Thần Nông thờ chim là vật biểu chính là chi Aâu Việt (Bái điểu tộc) của Việt tộc. Đế Nghiêu họ Đào Đường là con thứ của Đế Cốc, em Đế Chí nhưng vì Đế Chí nhu nhược nên chư hầu tôn Nghiêu lên làm vua lấy hiệu là Đường Nghiêu. Sự thật lịch sử này sẽ làm đảo lộn tất cả những sử sách kinh điển của Hán tộc viết theo lý của kẻ mạnh để “Lộng giả thành chân” khiến mọi người tin theo bao đời nay.
Phạm Trần Anh


http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page

cadao
Administrator

USA
253 Posts

Posted - 04/23/2007 :  21:25:47  Show Profile  Reply with Quote
IV. VIỆT TỘC, NGƯỜI KẾ THỪA SỞ ĐẮC TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG
Phạm Trần Anh


Tư Mã Thiên đại biểu cho sử quan chính thống của Hán tộc xem Hoàng Đế là thủ lĩnh cộng chủ của liên minh các bộ lạc là ông Tổ của Hán tộc. Tư Mã Thiên đã để Hoàng Đế đứng đầu ngũ đế gồm Hoàng Đế, Đế Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu và Đế Thuấn. Theo “Sử ký” thì Hoàng Đế (2700-2600 TDL) là tổ tiên lỗi lạc của Hán tộc ở lưu vực Hoàng Hà. Sau khi đánh thắng bộ lạc Viêm Đế ở phía Tây và Xi Vưu ở phía Nam trở thành thủ lĩnh của liên minh bộ lạc ở Trung Nguyên. Từ đó, các sử gia Hán cho rằng Hoàng Đế là Hiên Viên Hoàng Đế, để từ cơ sở này mặc nhiên tự cho là hậu duệ của Viêm Đế Thần Nông và Hán tộc là người kế thừa triết lý Âm Dương. Thật ra đây là một sự cố ý mạo nhận theo lý của kẻ mạnh mà thôi.

Gần đây, các công trình nghiên cứu của các nhà Trung Hoa học đã phục hồi sự thật lịch sử bị chôn vùi suốt mấy ngàn năm. Sự thật lịch sử được chứng minh rằng Hoàng Đế không phải là người khai mở lịch sử Trung quốc và lịch sử Trung Quốc chỉ mới bắt đầu từ triều Thương Chu mà thôi. Như vậy, từ lâu Hán tộc vẫn cho rằng họ là chủ nhân của triết lý âm dương nhưng đó chỉ là sự cố ý mạo nhận của kẻ mạnh không có tính thuyết phục. Trái lại tự thân triết thuyết Rồng Tiên Bàng qua lời trần tình của Bố Lạc với Mẹ Âu Cơ, 50 con theo Mẹ (Âm) lên núi, 50 con theo Cha (Dương) xuống miền biển đã thể hiện lý tương sinh-tương khắc, tinh tuý cốt lõi của triết lý Đông Phương, minh nhiên khẳng định Việt tộc là người thừa kế triết thuyết âm dương Dịch biến luận khởi từ Phục Hy tới Thần Nông.

Như vậy n_ từ thiên niên kỷ thứ 3 TDL, lời nói của bố Lạc một lần nữa đã chứng minh Việt tộc là người kế thừa sở đắc triết lý Âm Dương. Sự kiện bố Lạc phân chia bọc trăm trứng ra 2 bộ Sơn Tinh và Thuỷ Tinh, 2 bộ Âm Dương vừa tương sinh vừa tương khắc, tuy 2 mà lại là một. Lạc Long Quân (Dương) là Rồng ở dưới nước nên dẫn 50 con về về miền sông nước (bộ Thuỷ tinh: Âm) còn Âu Cơ là Tiên (Âm) lại dẫn 50 con lên miền cao rừng núi (bộ Sơn Tinh : Dương) theo đúng nguyên lý Dịch là trong âm có dương, trong dương có âm, thể hiện “lý tương sinh tương khắc” tinh tuý cốt lõi của triết lý Đông phương. Con số 100 trứng chính là tổng độ số của Lạc Thư 45 và Hà Đồ 55 của Việt tộc. Mặt khác, việc vua Hùng phân chia nước Văn Lang ra thành 15 bộ không phải là sự tình cờ. Đây chính là “ Lạc Thư Cửu cung” của Việt tộc. Lạc thư có 9 ô, độ số là 45 mà tổng số các ô dọc ngang, chéo đều là 15. Đối với chúng ta ngày nay thì đây là một dạng toán học cao cấp mà người xưa gọi là “Ma phương Lạc thư”. Không những truyền thuyết Rồng Tiên mà Thần thoại Việt với truyện thần đực thần cái, về sau từ Hán Việt gọi là Nữ Oa Tử Tượng vì chữ “Nữ” tượng hình âm vật và chữ “Tử” tượng hình dương vật. Theo nhà nghiên cứu Bùi văn Nguyên dẫn Bách Việt Ngọc phả Truyền thư thì Hoàng Đế họ Phục Hy, còn gọi là Đế Thiên có công khai sáng nước ta từ buổi đầu cách nay 7 ngàn năm. Tương truyền thuở xa xưa, Phục Hi quan sát nào bầu trời, nào mặt đất để qui ra tám quẻ đơn của Dịch. Phục Hi dùng thanh tre, thanh nứa để ghép các quẻ đơn từ Khôn quay vòng đến Kiền theo 2 hướng đến quẻ Kiền (càn), đúng một vòng gọi là tám quẻ đơn. Mỗi quẻ có 3 hào, theo hào âm một vạch đứt [ - -] tượng hình âm vật hoặc một vạch liền [-] tượng hình dương vật. Đồ hình tám quẻ đó về sau ký hiệu bằng chữ Hán gọi là đồ hình “Bát quải”, quải là quẻ rất đơn giản là như vậy. Theo tự điển Khang Hy đời Thanh thì chữ quải là quẻ, thuộc bộ “bốc” là bói chỉ có 2 âm theo lối phiên thiết (nói lái) là “Cổ mại” đọc là quải, hoặc là “ Cổ hoạch” đọc là quạch, không có âm quái (dấu sắc). Chắc hẳn chữ bốc là bói mu rùa, cũng chỉ phiên âm theo tiếng Việt từ chữ bói cũng như chữ quải” phiên âm từ chữ “quẻ” của chữ Việt mà ra. Aáy thế mà sách“Từ Nguyên” đời Dân Quốc lợi dụng ý sửa chữ cổ nói lái thành cố, do đó quải nói lái thành quái có nghĩa là lạ lùng quái quỉ để tiện cho Chu văn Vương sửa chữa Kinh dịch của Phục Hi. Thật ra là tiện cho việc bênh vực triều Chu sủa chữa đảo điên Kinh Dịch cái kiểu lấy “râu ông nọ cắm cầm bà kia” một cách lạ lùng: Từ tám quẻ bình thường trở thành tám quẻ “ quái quỉ”. (11)

Sự thực trên đã minh nhiên khẳng định Việt tộc là người thừa kế triết thuyết Âm Dương Dịch biến luận khởi từ Phục Hi tới Thần Nông tức Đế Thần của Việt tộc. Sự thật lịch sử này được thừa nhận bởi chính lịch sử Trung Hoa cổ đại. “Kinh Thư” trong phần mở đầu chỉ đề cập đến Nhị Hoàng là Phục Hi, Thần Nông và Ngũ Đế là Đế Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Chí, Đế Nghiêu, Đế Thuấn. Hiện nay thư tịch Trung Quốc chỉ lưu giữ quyển Kinh Thư chép 2 chương là Đế Nghiêu và Đế Thuấn mà phần còn lại họ nói là đã thất lạc??? (12)

Theo các nhà nghiên cứu Kinh Dịch thì xét tất cả 64 quẻ dịch thì chỉ có 2 quẻ được dành riêng cho 2 con vật quí là quẻ Kiền (Càn) và quẻ Tiệm. Kiền là quẻ con Rồng và Tiệm là quẻ con chim Hồng. Cả 2 con vật này được xem như vật tổ biểu trưng có tính linh thiêng của Việt tộc. Nghiên cứu cả 6 hào của quẻ Tiệm là một tiến trình đi lên không ngừng nghỉ, ngày càng lên cao của con chim Hồng là vật tổ biểu trưng của chi Âu Việt. Theo Kinh Dịch thì hào 1 chỉ chim Hồng tiến tới bờ nước, hào 2 chỉ chim Hồng tiến lên phiến đá cao, hào 3 chỉ chim Hồng tiến tới vùng đất bằng, hào 4 chỉ chim Hồng nhảy lên cây mong tìm cành thẳng để đậu, hào 5 chỉ chim Hồng lên gò cao, hào 6 chỉ chim Hồng bay bổng đường mây. Theo Nguyễn Hiến Lê thì trong 64 quẻ không có quẻ nào cho ta cảm tưởng nhẹ nhàng phơi phới cùng cánh chim Hồng bay bổng tuyệt vời khoan khoái như quẻ này. Bao trùm lên tất cả phần Đại tượng truyện của Kinh Dịch cho ta thấy rằng quẻ Tiệm này nói về con người. Người quân tử nên theo tượng quẻ này mà tu thân, tiến dần thành người hiền rồi thành bậc thánh để cải thiện phong hoá cho dân.

Việc Kinh Dịch chọn 2 quẻ dành cho 2 con vật Rồng chim (Tiên) linh thiêng, vật tổ biểu trưng của Việt tộc đã minh nhiên xác định nguồn gốc xuất xứ của Kinh Dịch. Đến đời Chu, Chu văn Vương tiếp thu ảnh hưởng của văn hoá Việt rồi biến cải thành Chu Dịch thiên về bói toán chứ không phải là tinh hoa triết lý Âm Dương Dịch biến luận thể hiện nhân sinh vũ trụ quan của Việt tộc.


http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page

cadao
Administrator

USA
253 Posts

Posted - 04/24/2007 :  05:15:33  Show Profile  Reply with Quote
V. CỘNG ĐỒNG BÁCH VIỆT
HIỆN THỰC LỊCH SỬ CỦA TRUYỀN THUYẾT “TRĂM TRỨNG NỞ TRĂM CON”.

Phạm Trần Anh

Chúng ta đang sống trước thềm của thiên niên kỷ thứ ba nên mỗi khi nghĩ về huyền thoại Rồng Tiên thì thoạt đầu, ai trong chúng ta cũng nghĩ rằng là truyện huyền hoặc, hoang đường. Dù có tự hào là con Rồng cháu Tiên nhưng với ý nghĩ đơn giản của đời thường, chúng ta vẫn hoài nghi vì trên đời làm gì có truyện người đẻ ra trứng, rồi trứng nở ra người?

Với tất cả tấm lòng và thái độ trân trọng nghiêm túc và với phương pháp nghiên cứu huyền thoại để tự đặt mình vào hoàn cảnh lịch sử thời cổ đại thì những ẩn ý hàm tàng trong huyền thoại sẽ gợi mở sáng tỏ, minh nhiên lý giải những vấn nan khúc mắc tự ngàn xưa. Có một thực tế mà chúng ta phải hiểu rõ đó là tất cả các dân tộc thời cổ đại đều tin tưởng thần linh chở che trong mọi sinh hoạt cuộc sống. Thật vậy, khi con người vừa bước ra khỏi thời kỳ ăn lông ở lỗ của thuở hồng hoang để bước vào hình thái xã hội ban sơ, con người cảm thấy nhỏ nhoi trước sức mạnh kỳ bí của thiên nhiên nên yếu tố thần linh ngự trị trong mọi sinh hoạt của họ. N_ cuối thiên niên kỷ thứ hai, một số dân tộc tuy có một nền văn minh cao nhưng vẫn còn tôn thờ những vật tổ linh thiêng của họ như dân Ấn vẫn còn thờ bò… chúng ta không thể cứ dựa trên những tập tục cổ của một dân tộc mà đánh giá một cách sai lầm là xã hội đó kém văn minh, mê tín, hoang đường… Đó là cách nhìn theo giáo sư viện sĩ Jean Poirier là tiến hoá luận đơn tuyến hay còn gọi là quan điểm giả tiến hoá. Trái lại sự hiện hữu tục thờ vật tổ Totem của một số dân tộc chứng tỏ tính phong phú đa dạng của nền văn hoá truyền thống của mỗi dân tộc. Thế nên, việc Mẹ Tiên (Âu Cơ) sinh ra trăm trứng nở ra trăm người con trai trên bình diện tâm linh là bình thường không có gì đáng ngạc nhiên cả. Vấn đề là phải tìm hiểu phần tinh tuý, cốt lõi của nhân vật hình tượng Mẹ Tiên như Jung nói: “ sự đúc kết biết bao suy tư của thời đại tạo dựng độc sáng… phải chờ thế hệ sau diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lý luận”.

Thật vậy, đã là Tiên thì Mẹ Âu Cơ có thể làm bất cứ điều gì mà người phàm không làm được … đó là đẻ ra “trứng” thuộc phạm trù tín ngưỡng nguyên thủy cũng như phạm trù tôn giáo đòi hỏi phải có niềm tin một cách mặc khải ..v. v… Gạt sang một bên vấn đề tự tình dân tộc để tìm hiểu xem tại sao Mẹ Âu lại đẻ ra “trứng”, chúng ta thấy rõ hàm ý sâu xa của tổ tiên ta. Thật vậy, ý niệm trứng trong huyền thoại biểu trưng Totem vật linh biểu trưng của Việt tộc là tộc người thờ chim (bái điểu tộc) là một con vật đứng đầu trong tứ linh: nhất điểu, nhì ngư, tam xà, tứ tượng. Nguồn thư tịch cổ cũng cho ta biết “Lạc bộ Chuy” là chi tộc Việt đầu tiên từ vùng Cao Nguyên Côn Sơn Hi Malaya tiến xuống Trung Nguyên qua vùng núi Dân, Ba Thục. Lạc bộ Chuy là chi Việt cổ của họ Hồng Bàng có vật biểu là chim (Việt điểu, Lạc điểu), ông cha ta đã theo dấu chim Hồng, chim Lạc thiên cư xuống vùng đất miền núi Dân, Ba Thục cũng được gọi là Châu Phong. Địa danh Phong Châu ở Bắc Việt Nam cũng chỉ là nhắc lại địa danh cư trú ban đầu của Việt tộc nơi mà mẹ Âu dẫn 50 con lên núi rồi suy cử người con trưởng làm vua nước Văn Lang… như truyền thuyết kể lại. “ Âu Cơ và 50 con lên đất Phong Châu, suy phục lẫn nhau cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là VĂN LANG, Đông giáp Nam Hải, Tây tới Ba Thục, Bắc tới Động Đình Hồ, Nam tới Hồ Tôn (Chiêm Thành)”.

Sách “Lĩnh Nam Trích Quái” truyện Thánh Tản Viên chép rằng thời Chu Noãn Vương, vua Hùng thứ 18 đến ở đất Việt Trì, châu Phong, lấy quốc hiệu là Văn Lang. “Hùng triều Ngọc phả” cũng ghi là đời Hùng Vương thứ 16 là Hùng Tạo Vương huý là Đức quân Lang (660-569 TDL) mới dời đô về Việt Trì trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam bây giờ. Sự kiện này phù hợp với cương giới Văn Lang ghi trong thư tịch cổ và những công trình nghiên cứu địa danh là những từ ngữ của một tộc người đã ghi tạc vào sông núi nơi địa bàn cư trú của họ ở một thời điểm nhất định nào đó, cho phép chúng ta kết luận là sự tương đồng của những địa danh khẳng định địa bàn cư trú của cùng một tộc người trên vùng đó. Trong số những địa danh thì thủy danh là tên sông, nhất là những con sông lớn có tên sớm nhất trước cả tên đất nữa. Công trình nghiên cứu cho ta thấy 2 con sông lớn ở Đông Á và Đông Nam Á là Dương Tử Giang và Cửu Long Giang (Mékong) có tên gọi giống nhau và cùng bắt nguồn từ một danh từ cổ là “Kang”. Cách phát âm này hiện được giữ lại trong các tiếng địa phương Quảng Đông và Thượng Hải. Xét theo tự dạng thì từ “Giang” lại dùng chữ “Công” để phiên âm. Tên sông Mékong được gọi bằng nhiều tên theo tiếng nói của các dân tộc mà sông này chảy qua. Trung Quốc gọi là Khung Giang, Lào gọi là Nậm Khỏng, Cambodia gọi là Mê Kong và xuống đến lãnh thổ Việt Nam, con sông này được gọi một cách thân thương là Cửu Long giang. Bản thân những từ Cửu Long giang, Nậm Khoỏng, Mékong, Khung Giang, là những dạng tương tự về mặt ngữ âm do từ một tên gốc là Kông(13) .

Về địa danh, nếu chúng ta ngược dòng thời gian đi sâu xuống lớp địa danh Hán Việt đang trùm kín vùng cư trú của người Việt thì có thể thấy còn có một lớp địa danh cổ hơn nữa, đó là lớp tên nôm với yếu tố cấu thành là từ Kẻ. Những tên nôm với yếu tố Kẻ như thế rất nhiều, có thể nói rằng hầu hết xã thôn Việt Nam ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đều có. Tên nôm hiện nay đang bị quên dần đi và ít được dùng đến, nhưng nó từng tồn tại rất lâu. Trước đây, trong một thời gian dài nó tồn tại song song với Hán Việt, với sự phân công rõ ràng là tên nôm dùng để gọi, còn tên Hán Việt là “tên chữ”. Như chúng ta biết, tên đặt ra trước tiên dùng để gọi, đến khi xã hội phát triển ở mức độ khá cao mới nảy sinh nhu cầu ghi chép. Hơn nữa xét tương quan ngữ âm giữa các cặp tên nôm và tên chữ thì chúng ta thấy rõ là tên chữ được đặt ra bằng cách phiên âm tên Nôm và trong một số trường hợp bằng cách dịch nghĩa nữa. Điều này một lần nữa khẳng định nhu cầu ghi chép là điều kiện xuất hiện tên Hán Việt(14). Đặc biệt trong nhiều tên làng Việt Nam, từ Kẻ trong những tên nôm được phiên âm ra tên Hán Việt bằng từ Cổ những địa danh có chữ “cổ” đứng đầu rất phổ biến, rất tập trung. Nhìn rộng ra toàn Trung Quốc thì địa danh có từ Cổ còn thấy rải rác ở Cam Túc(15), Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, nhưng tập trung nhất vẫn là vùng Lưỡng Quảng … Như vậy tên nơi cư trú có thành tố “Kẻ” đứng đầu trong địa danh học cần đặc biệt lưu ý khi xét vùng đất cổ của cư dân Văn Lang, nó được tìm thấy ở một mức độ tập trung khá cao tại miền đất bao gồm miền Bắc Việt Nam và vùng Lưỡng Quảng hiện nay. Địa bàn phổ biến địa danh có từ “Kẻ”, “Cổ” hiện nay có thể trải rộng ra nhiều tỉnh thuộc Hoa Nam, nhưng chúng ta đều biết địa bàn phân bổ của địa danh, càng rộng bao nhiêu thì khởi điểm của loại địa danh đó càng cổ bấy nhiêu. Rất có thể vùng đất tập trung địa danh thuộc nước Văn Lang như truyền thuyết cho biết (16) .

Tầm nguyên ngữ nghĩa của từ LANG cho chúng ta những nhận định chính xác hơn về địa bàn cư trú của người Việt cổ cũng như uyên nguyên ngữ nghĩa của tên nước Văn Lang. Cũng như các dân tộc khác thời cổ đại khi còn là một tộc người thì lấy chữ “người” để chỉ tên của dân tộc đó theo ngôn ngữ của họ. Chữ Lang trong tiếng Hán có nghĩa là đàn ông. Từ này nguyên gốc của Việt cổ còn ghi rõ trong truyền thuyết… Con trai vua gọi là Quan Lang và con gái là Mị nương, hiện từ Lang vẫn còn truyền lưu trong đồng bào Mường, Quan Lang là người đứng đầu một Mường(17). Ngôn ngữ phương Nam còn có những từ như Dranglô của Barnar có nghĩa là đàn ông, Arăng tiếng Êđê và Urang của Chàm đều có nghĩa là người. Trong tiếng Indonesia, Mã Lai, chữ Orang cũng nghĩa là người. Phương pháp so sánh của ngôn ngữ lịch sử xem những từ Văn Lang, Việt Lang, với Urang, Oârang, cũng xem như Dạ Lang với Drang trong từ Dranglo là giống nhau trên căn bản. Sự khác biệt là do biến đổi từ trạng thái nọ sang trạng thái kia theo điều kiện không gian và thời gian mà thôi.

Căn cứ trên bản đồ nhân chủng cho thấy tộc danh có thành tố “Lang” trải rộng khắp Trung Nguyên từ lưu vực sông Dương Tử xuống tới Bắc Trung Việt (Việt Nam) như Dạ Lang (Quí Châu) Bạch Lang (Tứ Xuyên), Việt Lang (Quảng Đông) và Văn Lang (Bắc Việt Nam) và những danh từ chung chỉ người như Lang, Dranglo, Orang, trải rộng trên một địa bàn lớn ở vùng đồng bằng ven biển, các vùng ven biển bao quanh Nam Hải tới Indonesia, Mã Lai, v. v… Khu vực phân bố các dân tộc này xét về mặt địa lý phù hợp với cương vực của nước Văn Lang cũ như truyền thuyết kể lại. Điều này được xác nhận bởi các nguồn thư tịch như sách “Thiên hạ Quận quốc Lợi bệnh thư” đã bị triều Thanh tịch thu thì ở tỉnh Quảng Tây có nhiều người Lang (Lang nhân). Do đó người ta gọi thổ binh ở vùng này là Lang binh và người Choang cách đây 4, 5 thế kỷ vẫn còn được gọi là Lang và Choang là đọc chữ Lang trại âm mà ra.(17)

Thực tế lịch sử cho chúng ta thấy tính hiện thực của truyền thuyết trăm trứng nở trăm con với sự hiện diện của các nước mà cổ sử Trung Quốc gọi là Bách Việt (Bai-Yue). Cái tên Bách Việt theo Đào Duy Anh xuất hiện lần đầu tiên là trong sách sử là bộ sử ký của Tư Mã Thiên. Sử Ký chép rằng đời Chu An Vương, Sở Điệu Vương sai Bạch Khởi đánh dẹp Bách Việt ở miền Nam(18) bấy giờ là đầu thế kỷ thứ IV TDL… Sách “Tả truyện còn gọi là Tả thị Xuân Thu” của Tả Khâu Minh, thiên Tự quan viết rằng:“ Phía Nam Dương, Hán (Hán thuỷ) là Bách Việt”. Cao Dụ giải thích tiếp như sau:“Bách Việt là nơi tộc Việt có cả trăm chủng”. Sách Hậu Hán Thư, Địa lý chí dẫn lời Thần Tán về Bách Việt như sau:“Từ Giao Chỉ đến Cối Kê trên 7,8 ngàn dặm, người Bách Việt ở xen kẽ nhau gồm nhiều chủng tính (tên họ) khác nhau …”.

N_ từ đầu triều Thương, cổ sử Trung Quốc đã đề cập tới tên một số chi tộc Việt như Âu Thâm, Việt Âu, Quế Quốc, Quyên Tử, Sản Ly, Cửu Khuẩn, Đông Việt, Âu Nhân, U Việt, Cô Muội, Thả Âu và Cung Nhân … Theo “Dật Chu thư” thì các chi tộc Việt ở Lĩnh Nam như Quế Quốc, Sản Ly, Quyên Tử, Cửu Khuẩn phải cống nạp đồi mồi, hạt châu, chim quí, ngà voi, sừng tê, chim Hạc, chó lùn … Lạc Việt cống tre ngà (đại trúc) măng trúc … Thương Ngô ở phía Nam Hồ Nam cống chim công. Tuy nhiên, sách “Trúc thư kỷ niên” chép là mãi đến đời Chu Thành vương, năm 1040 TDL “Vu Việt lai tân” nghĩa là đến làm khách thăm xã giao mà thôi. Đến đời Tống, La Tất viết “Lộ sử” (19) tức là sử của Lạc Việt đã liệt kê một số nhóm trong Bách Việt như sau : “Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu Khải, Âu Nhân, Thả Âu, Cung Nhân, Hải Dương, Mục Thâm, Phù Xác, Cầm Nhân, Thương Ngô, Man Dương, Dương Việt, Quế Quốc, Tây Âu, Quyên Tử, Sản Ký, Hải Quỳ, Tây Khuẩn, Kê Từ, Bộc Cần, Bắc Đái, Khu Ngô gọi là Bách Việt”. Trong những nhóm Bách Việt ấy chúng ta thấy có những nhóm như Dương Việt ở hạ lưu sông Dương Tử, nhóm Thương Ngô ở miền Nam tỉnh Quảng Tây, nhóm Sản Lý tức Xà Lý ở tận miền Tây Nam tỉnh Vân Nam, còn Kê Từ, Bắc Đái là những tên huyện thời Hán thuộc quận Giao Chỉ. Có thể căn cứ vào những địa điểm ấy mà nói rằng sử sách Trung Quốc xưa gọi là Bách Việt là những nhóm người Việt ở rải rác trên khắp miền Hoa Nam, phía Tây gồm cả đất Vân Nam, phía Nam gồm cả đất miền Bắc Việt Nam ta mà sử gọi chung là miền Giang Nam (miền Nam sông Dương Tử) và miền Lĩnh Nam (miền Nam rặng Ngũ Lĩnh). Trong những nhóm Bách Việt được chính sử Trung Quốc như Sử Ký và Tiền Hán Thư chép tương đối kỹ càng là: Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt, Tây Âu. Theo Sử ký mục “Đông Việt truyện” thì chúng ta biết rằng Đông Việt hay Đông Âu trong thời Tần Hán đóng đô ở Vĩnh Ninh tức Vĩnh Gia là miền Triết Giang. Mân Việt thì ở đất Mân Trung tức là miền Phúc Kiến. Nam Việt đô ở Quảng Châu gọi là thành Phiên Ngung thuộc miền Quảng Đông, Tây Âu ở phía Nam sông Ly miền Quảng Tây. Còn nhóm Lạc Việt, theo Hậu Hán thư cho chúng ta biết rằng các quận Giao Chỉ và Cửu Chân là người Lạc Việt, như thế Lạc Việt là nhóm Việt tộc ở miền Bắc Việt Nam…(20)

Như vậy, theo sử sách xưa của chính Hán tộc đã gọi Bách Việt là những nhóm người sống rải rác khắp miền Hoa Nam, phía Tây gồm cả đất Vân Nam Tứ Xuyên và phía Nam gồm cả Bắc và Trung Việt Nam bây giờ mà sử sách thường gọi chung là miền Giang Nam tức miền Nam Dương Tử Giang hoặc miền Lĩnh Nam, phía Nam rặng núi Ngũ Lĩnh. Tuy nhiên chính sử Trung Quốc chi ghi một cách sơ xài như Sử ký của Tư Mã Thiên chỉ ghi kỹ về Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt và Lạc Việt mà thôi. Thư tịch cổ Trung Quốc phải thừa nhận một thực tế lịch sử đó là sự thành lập của các quốc gia thời Xuân Thu Chiến quốc mà họ gọi là Bách Việt ở vùng Giang Nam. Sử ký của Tư Mã Thiên chép tương đối kỹ về Đông Việt tức U Việt của Việt Vương Câu Tiễn không chỉ ở Triết Giang mà lên tới miền Giang Tô tức châu Từ, quê hương của gốm sứ Việt cổ nổi tiếng của chi Dương Việt. Nước Việt đóng đô ở Cối Kê với bao thăng trầm nên Lý Tế Xuyên mới viết “Việt điện U linh” về nước Việt thuở xa xưa. Mân Việt ở Phúc Kiến, Dương Việt ở Giang Tây, Liêu Việt ở Quí Châu, Điền Việt, Kiềm Việt ở Vân Nam, Quì Việt ở Tứ Xuyên, Nam Việt ở Quảng Đông, Âu Việt còn gọi là Tây Âu ở Quảng Tây và Lạc Việt ở xen kẽ với Âu Việt rải rác khắp Hoa Nam nhưng tập trung nhiều nhất ở Quảng Tây và Bắc Việt Nam bây giờ.

Đối chiếu với cương giới Văn Lang trong truyền thuyết chúng ta thấy thực tế địa bàn cư trú của cộng đồng Bách Việt rất phù hợp, trải dài từ Hồ Động Đình xuống tận phương Nam giáp Chiêm Thành và từ biển Đông sang tới tận Ba Thục ở phía Tây. Thế nhưng Đại Việt sử lược bị sử quan triều Thanh là Tiền hi Tộ sửa đổi nên chép tên các bộ chỉ nằm trong phạm vi Bắc Việt Nam bây giờ. Theo nhà bác học Lê Quí Đôn trong Vân Đài loại ngữ thì “Tên 15 bộ do triều Hán - Ngô mơí đặt ra, tên gọi lẫn lộn ngờ rằng những tên đó là do bọn hậu Nho góp nhặt vay mượn chép ra nên khó mà tin được … Xét về phận dã thiên văn thì Giao Chỉ thuộc Sao Tĩnh. Dực Chẩn và Đẩu Ngưu…”. Như vậy, nhà bác học Lê Quí Đôn đã xác nhận rõ là cương giới nước ta thời cổ nằm mãi ở Trung nguyên TQ bây giờ. Thật vậy, cương giới Hồng Bàng Văn Lang xưa được ghi trong “Thiên thư” là Việt Tĩnh Cương lấy chòm sao Tĩnh làm chuẩn để phân bố các vùng, các bộ trong nước Văn Lang. Nhìn chung, chòm sao Tĩnh tượng hình bằng 2 đường thẳng và 2 đường ngang cắt nhau tại 4 điểm chỉ vùng đất từ Tam giang Bắc gồm sông Vị, sông Hoàng và sông Lạc xuống tới Tam giang Nam gồm sông Nguyên, sông Tương và sông Dương Tử.(21)

Sự mâu thuẫn cũng không có gì khó hiểu, vì việc bóp méo, xuyên tạc và sự kiện lịch sử được hư cấu để vấn đề gốc tích dân tộc ta trở nên mịt mờ huyền hoặc là bản chất cố hữu, chủ trương trước sau như một của Hán tộc xuyên suốt dòng lịch sử. Trong khi đó sách Lĩnh Nam Trích Quái dựa theo truyền thuyết dân gian Việt cổ lại chép các bộ Chân Định ở Trường Sa Hồ Nam, bộ Quế Dương, Quế Lâm ở Quảng Tây và Tượng quận ở Quí Châu,Vân Nam hiện thuộc lãnh thổ Trung Quốc mới phù hợp với thực tế lịch sử. N_ sử gia Tư Mã Thiên người được coi là n_ thẳng trung thực nhưng với tư cách là sử gia đại biểu chính thống cho Hán tộc, Tư Mã Thiên là người hiểu rõ hơn ai hết Hoàng Đế là người Việt vì cũng chính ông ta đã viết là những vị vua Đế Cốc, Đế Chuyên Húc .. đều là ông tổ của những vị vua Việt sau này. Cũng vậy, Tư Mã Thiên cũng hiểu rõ về Lạc bộ Chuy, Lạc bộ Thủy, Lạc bộ Trĩ nhưng ông ta lại viết Lạc bộ Mã cũng chính vì không muốn người Việt nhớ đến cội nguồn dân tộc và lãnh thổ Việt xưa. Học giả Eicks Kedt nhận định rằng : “Tư Mã Thiên sinh ở Long Môn thuộc Sơn Tây nên nhất quyết từ chối không để lại bất kỳ một tài liệu gì về dân Mạn Nam. Điều đó người Tàu mạn Bắc đều đồng ý… Eicks Kedt tiếc rằng những học giả Âu Tây chỉ biết ngốn nghiến sử liệu của Tư Mã Thiên hay những sử gia khác mà không chú ý đến việc bẻ quặt do sự bỏ sót nhiều sự kiện, nhất là khi nói đến các dân Man Di ngoài Hán tộc. Lý do của sự bỏ sót đó là họ đã xem Nho giáo xuyên qua lăng kính nhuộm đẫm màu Hán tộc nên chỉ nhìn nhận để có những gì thuộc miền Bắc nước Tàu”. Chính vì vậy, cũng chẳng ngạc nhiên gì khi Việt tộc là chủng tộc đóng góp phần lớn vào việc hình thành nền văn minh Trung Hoa, một số lớn người Hán gốc Việt bị đồng hoá hàng nghìn năm được xem như thành tố quan trọng trong dân số Trung Quốc. Thế nhưng các sử gia Trung Quốc cố tình quên đi yếu tố Việt trong thành phần dân số, nên họ chỉ nhắc đến các dân tộc cấu thành Trung Quốc gồm Mông, Mãn, Tạng, Hồi và Hán trong đó Hán là chủ thể.

Tóm lại, chính thực tế lịch sử đã minh nhiên lý giải ý nghĩa của sự việc “lạ thường” là mẹ Tiên đẻ trăm trứng nở trăm con, để rồi trở thành trăm chi tộc Việt mà sử cổ Trung Hoa gọi là Bách Việt. Mỗi chi tộc do một người con trai đứng đầu nên từ đó mới có ý niệm bách tính là trăm họ. Đây mới chính là vấn đề mà cốt lõi của nó là sự gửi gấm của ông cha ta thời dựng nước cho con cháu ngàn sau, về nguồn gốc giống dòng của trăm chi tộc Việt máu mủ ruột rà, cùng chung huyết thống để lúc hoạn nạn nhớ cưu mang giúp đỡ lẫn nhau như lời Bố Lạc dặn dò trước lúc chia tay. Không những cưu mang giúp đỡ lẫn nhau mà còn phải đoàn kết, thống nhất sức mạnh Việt tộc để phục hưng dân tộc Việt. Truyền thuyết dân gian Hoa Nam và Đài Loan về chim Phượng Hoàng, chúa tể loài chim Totem Vật tổ Việt tộc mà dân gian gọi là “Bái điểu tộc”, chống lại thiên ma tộc “Đại Hán”. Đó chính là bức “Thông điệp của tiền nhân từ huyền thoại gửi cho cháu con hậu thế chúng ta xuyên suốt mấy ngàn năm của dòng vận động Lịch sử Dân tộc Việt ”.

Thế là Truyền thuyết huyền thoại từ chỗ u u đã trở nên minh minh, chứ không còn u u minh minh như trước nữa. Ngày nay chúng ta không còn ngạc nhiên khi thấy ông cha ta đã chọn loại Chim là vật biểu, tự thân hai chữ Hồng Bàng có nghĩa là rộng lớn. Hồng là Ngỗng trời, còn Hộc là Ngan trời, nên cả hai còn có tên là Thiên Nga(Swan), hàm ý có chí lớn bay cao tận trời xanh. Hình ảnh chim được khắc hoạ trên mặt trống đồng với mỏ dài của loại chim nước. Các nhà nghiên cứu kết luận chim nước là của Đông Nam Á, nó gắn liền với cư dân nông nghiệp sống ở vùng sông lạch, ao hồ.

Theo triết gia Kim Định thì Hồng Hộc, chim nước của Việt tộc thể hiện nguyên lý Âm Dương Giao Chỉ vì nó vừa bay lên trời vừa xuống dưới nước. Chi tộc Việt tôn thờ chim Hồng biểu trưng của văn minh nông nghiệp cùng với chi Lạc thờ Rồng trong cộng đồng Bách Việt nên chúng ta vẫn tự hào là dòng giống Lạc Hồng (Lạc Âu). Trên bình diện tâm linh, hư cấu thêm ý nghĩa thần thoại thì chim bay lên tận trời xanh thường gắn liền với các vị Tiên nữ trên trời. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Phượng minh triều dương”, tức là con chim Phượng Hoàng huyền thoại hót chào ánh sáng mặt trời ban mai. Sách Quảng Đông Tân ngữ ghi là:“Tuỳ dương Việt Trĩ”, Trĩ là con Công của Việt tộc luôn luôn bay theo hướng mặt trời, mà con Công chính là chim Phượng Hoàng huyền thoại được coi như tổ các loài chim. Ý niệm Chim-Tiên-Mặt trời gắn liền với tín ngưỡng nguyên thủy của cư dân nông nghiệp với nền văn minh lúa nước của Việt tộc. Bên cạnh ý nghĩa tâm linh đó, chim Hồng biểu tượng một ý chí cao, luôn bay vươn lên, vượt tới trời xanh, thể hiện ý chí tầm cao của tộc Việt, một dân tộc có bản lĩnh anh hùng coi cái chết “nhẹ như lông hồng”. Người Việt sẳn sàng hy sinh cho dân tộc nên dân gian thuờng nói “chim én, chim sẻ làm sao hiểu được chí lớn của chim Hồng, chim Hộc”.

http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page

cadao
Administrator

USA
253 Posts

Posted - 04/24/2007 :  05:16:51  Show Profile  Reply with Quote
VI. HUYỀN THOẠI RỒNG TIÊN CỘI NGUỒN TRĂM HỌ CỦA VIỆT TỘC
Phạm Trần Anh

Thực tế đã minh nhiên lý giải ý nghĩa của sự việc lạ thường là mẹ Tiên sinh ra trăm trứng nở trăm con để rồi mỗi người con đi khắp nơi phát cỏ lập ấp trở thành một trăm chi tộc Việt mà cổ sử Trung Quốc gọi là Bách Việt. Mỗi chi tộc do một người con trai đứng đầu vâng lời bố Lạc đến một vùng đất mới khai phá đất đai, phát cỏ mở đất lập ấp lập ra một dòng họ. Chính từ đó mới có ý niệm bách tính nghĩa là trăm họ của Việt tộc mà trước đây, do ảnh hưởng của văn hoá Hán ta cứ nghĩ là của Hán tộc.Đây chính là vấn đề cốt lõi ẩn chứa trong huyền thoại mà tiến nhân ta thuở dựng nước đã gửi gấm cho thế hệ con cháu Việt Nam ngàn sau. “ Bách Việt Ngọc phả Truyền thư” còn ghi rõ là sau chiến thắng lẫy lừng Đống Đa đẩy lùi 20 vạn quân Thanh xâm lược, Hoàng Đế Quang Trung cử La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp làm Quốc Sử quán, khâm mệnh nhà vua về làng Vân Lôi để nghiên cứu bản “ Bách Việt Từ đường Tộc phả”. Sau đó, vị Hoàng Đế anh minh lỗi lạc của dân tộc đã thân hành đến nói chuyện thân mật với các vị bô lão, hương chức và dân làng Vân Lôi như sau :

“Tất cả chúng ta đều cùng một tổ tiên sinh ra, không cứ là trẻ già trai gái, không cứ là thuộc dòng họ nào ngành nào, chi tộc nào, mọi người đều là con Rồng cháu Tiên. Ban đầu đều từ một bào thai mẹ sinh ra, tức từ một họ sinh ra các ngành tức các chi mà thôi. Cành cây lớn muôn lá, gốc vốn ở rễ. Nước có nghìn dòng sông muôn ngọn suối, vốn từ một ngọn nguồn mà ra. Cảnh vật còn như thế huống chi là con người chúng ta. Con người sinh ra tiếp nối về sau, đều do người các đời trước nuôi nấng dìu dắt vậy … Ngưỡng mộ và tưởng nhớ Tổ tiên, chúng ta hãy lấy việc siêng năng mà bồi đắp cho gốc rễ. Lấy sự thiếu sót làm răn rồi tu nhân tích đức yêu thương người hơn là chê bai ghen ghét người khác. Là con cháu, chúng ta phải tiếp nối truyền thống của tổ tiên, lẽ nào con cháu há lại không biết suy nghĩ về những điều hay lẽ phải cao đẹp trên hay sao ..?”

Theo nhà nghiên cứu Bùi văn Nguyên thì “ Bách Việt Ngọc phả Truyền thư” do trưởng họ Nguyễn Đức ghi vào năm thứ tư đời Đinh Tiên Hoàng tức năm Tân Mùi 971 hiện còn lưu giữ ở làng Vân Lôi Hà Tây mà xưa kia là làng Vân Nội thuộc phủ Thanh Oai tỉnh Hà Nội. Bách Việt Ngọc phả Truyền thư viết :

“ Nhà thì có gia phả cũng như nước thì có Quốc sử. Phải ghi lại cho tinh tường để tổ quốc ghi công. Non sông gấm vóc, đời này qua đời khác đến. Bên văn thì hiền lương, bên võ thì lão luyện. Vị thế nước nhà thật rực rỡ. Đầu đuôi các thế hệ được ghi chép, biên khảo để truyền về sau. Đầu tiên chỉ chép vị tổ tối cao. Tổ quốc ta được tính từ tổ xa xưa đó, vị tổ gốc rễ, vị tổ từ đất mẹ truyền đến chúng ta đã hàng muôn nghìn đời giống như “Cây thì phải có gốc, nước thì phải có nguồn”. Trước mắt chúng ta hãy tính từ “ Ba vua mở nước”. Vậy từ xa xưa, nước ta đã có các vua Hùng làm chủ nước non với bản đồ hoa sen nở rộ, tính từ khi Kinh Dương Vương đứng đầu “ Ba vua mở nước” đã là 2.800 năm có thừa …”.

“ Sơ khai Nam Việt hữu Kinh Dương,
Nhất thống sơn hà thập bát vương ..
Dư bách hệ truyền thiên cổ tại,
Ức niên hương hoả ức niên phương”.

Mở đầu Nam Việt có Kinh Dương
Mười tám ngành vua, mười tám chương ..
Bách Việt sơn hà muôn thuở đó,
Đời đời đèn nến nức thơm hương ..!
( bản dịch của Vân Trình)

Từ đường họ Nguyễn gốc ở làng Vân Nội thờ từ Tổ Phục Hy gọi là Đế Thiên và Thần Nông gọi là Đế Thần trở xuống cho đến các vua Hùng.(22)Theo đương kim Tộc trưởng ông Nguyễn văn Tằng thì đền thờ từ Kinh Dương Vương xuống tới các vị vua triều Nguyễn. Trong từ đường có bức hoành phi và đôi câu đối do triều Nguyễn tặng: “Quốc Ân Gia Khánh” nghĩa là Lộc nước phúc nhà. Đôi câu đối là “Vạn đại Hiếu từ Gia khánh hậu, Cửu trùng ba cổn Quốc ân vinh” nghĩa là:“Muôn thuở phúc nhà lòng kính Tổ, Chín trùng lộc nước áo vua ban”.

Theo bản Ngọc phả này thì khởi từ Phục Hi tức Đế Viêm đứng đầu vua xứ nóng (Viêm bang) còn gọi là Đế Thiên qua Đế Khôi tức Thần Nông còn gọi là Đế Thần, truyền đến Đế Tiết rồi Đế Thừa là đời thứ tư. Đế Thừa xưng là Sở Minh Công có 2 vợ sinh ra 3 người con. Nguyễn Minh Khiết gọi tắt là Đế Minh và người em là Nguyễn Nghi Nhân tức Đế Nghi là con bà chính thất. Nguyễn Long Cảnh là em thứ ba con bà thứ thất sau đổi họ là Lý Cảnh còn gọi là Lý Nỏ. Theo sự giải thích của La Sơn Phu Tử thì Nguyễn Minh Khiết (Đế Minh) và Nguyễn Nghi Nhân ( Đế Nghi) là anh em song sinh chứ không phải cha con như Lĩnh Nam Trích Quái chép. Đế Nghi quen nàng Vụ Tiên, con gái vua Động Đình trước nhưng khi Đế Minh tình cờ gặp Vụ Tiên đem lòng yêu thích. Vụ Tiên cứ tưởng là Đế Nghi nên thuận lời cầu hôn về làm vợ Đế Minh. Từ đó hai anh em tránh mặt nhau, ít lâu sau Vụ Tiên mang thai sinh ra Lộc Tục.

Thái Khương Công tức Nguyễn Minh Khiết còn gọi là Đế Minh sắp đặt như sau: Lộc Tục làm vua trung ương gọi là Xích Tam Vương, lấy hiệu là Kinh Dương Vương, đặt tên nước là Xích Qui. Nguyễn Nghi Nhân làm vua nươcù Sở ở phía Bắc Phong Đô. Nguyễn Long Cảnh làm vua phương Nam từ Thanh Hoá vào tới mũi Cà Mâu. Theo nhà nghiên cứu Bùi văn Nguyên thì sở dĩ có họ Nguyễn gốc là vì tổ tiên ta lấy địa danh cái gò núi đất ở Vân Lôi xưa kia là Phong Châu nơi họ Nguyễn sinh tụ. Chữ Nguyễn bên trái chữ phụ là cái gò đất, bên phải là chữ nguyên nghĩa là đầu tiên.(23) Trong khi đó, một nguồn thư tịch khác cho biết là n_ từ thời cổ đại ở Cam Túc một tỉnh tiếp giáp với vùng Tam Giang Bắc, trên đường thiên di của Việt tộc đã sinh tụ tại đây nên cổ thư đã nói tới họ Nguyễn, một nước Nguyễn (Rhuan). Về sau họ Nguyễn thiên cư dần xuống trung nguyên rồi Hoa Nam và Việt Nam bây giờ.

Ngày nay, các nhà nghiên cứu đều ghi nhận rằng Việt Nam có 3 dòng họ lớn là họ Nguyễn, họ Trần và họ Lê. Trong 3 họ này, họ Nguyễn là đông nhất vì theo các nhà nghiên cứu thì họ Nguyễn đã thiên cư dần từ Cam Túc, Thiểm Tây xuống Hoa Nam rồi Việt Nam. Mặt khác, đời Trần vào thế kỷ 12 sau khi dàn xếp để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, Thái sư Trần Thủ Độ lấy cớ ông tổ họ Trần tên Lý nên bắt tất cả những ai mang họ Lý phải đổi ra họ Nguyễn. Chính vì vậy họ Nguyễn ngày càng đông hơn. Nghiên cứu các dòng họ ở Việt Nam, chúng ta phải theo dòng lịch sử thiên cư của Việt tộc xuống Trung nguyên thành lập các quốc gia gọi là Bách Việt, các dòng họ đã dựng nên các triều đại trong lịch sử, các chiến công lẫy lừng của các danh tướng, các anh hùng danh nhân văn hoá, các cư dân gốc Việt cổ còn ở Hoa Nam TQ. Tựu chung có thể liệt kê một số dòng họ chính nổi bật nhất như sau :

1. NHỮNG DÒNG HỌ DỰNG NÊN CÁC TRIỀU ĐẠI TRONG LỊCH SỬ VIỆT :

. Họ Hồng : Họ Hồng Bàng.
. Họ Hùng : Hữu Hùng thị, được xem như họ các vua Hùng. Thời Hai bà Trưng cũng nhận là kế lại nghiệp Hùng nên lấy tên nước là Hùng Lạc.
. Họ Trưng: Trong lịch sử Việt có Hai Bà Trưng là Trưng Trắc và Trưng Nhị dấy lên khởi nghĩa đánh đuổi tên Thái Thú Tô Định năm 39 TDL. Trên thực tế có thể gia đình hai bà, mẹ là bà Man Thiện làm nghề trồng dâu nuôi tằm truyền thống của Việt tộc nên tên gọi dân gian trong gia đình là trứng chắc, trứng nhì … Theo nhà văn Lê văn Siêu trong tác phẩm “ Việt Nam Văn minh Sử cương” thì khi Mã Viện thắng Hai Bà Trưng đã tàn sát dân ta, chúng còn bắt hàng trăm“Cừ Soái” đem sang Tàu, số những người còn lại mang họ này phải tìm cách đổi họ thay tên nên dòng họ Trưng, họ Thi, họ Chử, họ Hùng, họ Thục hầu như không còn nữa.
. Họ Triệu : Triệu Đà lên ngôi vua lấy hiệu là Triệu vũ Vương thành lập quốc gia Nam Việt. Về sau có vua Bà Triệu thị Trinh khởi nghĩa năm 248 chống quân Ngô … Triệu Quang Phục lên ngôi lấy hiệu là Triệu Việt Vương (549-571).
. Họ Lý : Nhà Tiền Lý từ năm 544 đến năm 602, Lý Bí lên ngôi lấy hiệu là Lý Nam Đế, thành lập quốc gia Vạn Xuân. Lý Phật Tử (571-673). Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi lấy hiệu là Lý Thái Tổ mở ra triều đại nhà Lý dài 215 năm ( 1010-1215).
. Họ Mai : Mai Thúc Loan lên ngôi được suy tôn là Mai Hắc Đế (722-725).
. Họ Phùng : Phùng Hưng được nhân dân suy tôn là Bố Cái Đại Vương sau khi khởi nghĩa đánh bại quân Đường giành quyền tự chủ cho nước nhà ( 783-791).
. Họ Khúc : Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ năm 906.
. Họ Dương : Dương Đình Nghệ chống quân Nam Hán 930-938.
. Họ Ngô : Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán (937-965).
. Họ Đinh : Đinh Bộ Lĩnh thống nhất nước nhà 967.
. Họ Lê : Lê Hoàn, Lê Lợi.
. Họ Trần : Trần Cảnh.
. Họ Hồ : Hồ Quí Ly, Hồ Thơm Nguyễn Huệ.
. Họ Mạc : Mạc Đăng Dung.
. Họ Trịnh : Trịnh Kiểm.
. Họ Nguyễn : Nguyễn Hoàng.

2. NHỮNG DÒNG HỌ LẬP NÊN CHIẾN CÔNG HIỂN HÁCH TRONG LỊCH SỬ :

. Họ Khu: Năm 139, nhân dân Nhật Nam dưới sự lãnh đạo của Khu Liên đánh chiếm huyện Tượng Lâm thành lập nước Lâm Aáp. Sử Tàu chép là Lâm Aáp chính thức thành lập vào niên hiệu Sơ Bình 190-192.
. Họ Chu: Năm 158, Chu Đạt lãnh đạo nhân dân Cửu Chân nổi lên đánh chiếm Nhật Nam. Năm 163, Chu Cái cùng với Hồ Lan lãnh đạo nhân dân nổi lên đánh chiếm huyện Quế Dương, Thương Ngô.
. Họ Bốc, họ Hồ, họ Phan: Từ 160-180, nhân dân Thương Ngô dưới sự lãnh đạo của Bốc Dương, Phan Hồng, Lý Nghiêu, Hồ Lan, Chu Cái nổi lên đánh chiếm Thương Ngô.
. Họ Lương: Tháng giêng năm 178, anh hùng dân tộc Lương Long lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân các quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam nổi lên đánh chiếm quận huyện, làm chủ đất nước được 4 năm.
. Họ Ninh: Ninh Trường Châu nổi lên chiếm Uất Lâm và Thuỷ An Quảng Tây bây giờ.
. Họ Lý: Lý Trường Xuân và Lý Tự Tiên khởi nghĩa chống giặc Đường.
. Họ Dương:Năm 806, Dương Thanh nổi dậy giết Lý Tượng Cổ và hơn 1 ngàn quân Đường.

3. NHỮNG DÒNG HỌ VIỆT CÒN Ở HOA NAM:

Ngoài những dòng họ Việt ở Việt Nam bây giờ, chúng ta còn phải kể tới những dòng họ Việt cổ ở Hoa Nam mà sử sách Trung Quốc gọi là Bách Việt. Từ trước đến nay, các sử gia nước ta do quan điểm bị đóng khung nên viết rằng nước ta chỉ nằm trong phạm vi Bắc và Trung VN hiện nay. Sử gia Trần Trọng Kim trong tác phẩm “ Việt Nam Sử lược” viết về dòng dõi Lý Nam Đế như sau:“Lý Bôn có người gọi là Lý Bí, vốn dòng dõi người Tàu, tổ tiên đời Tây Hán phải tránh loạn chạy sang Giao Châu, đến lúc bấy giờ đã là 7 đời, thành ra người bản xứ ..”. Cũng vậy, về thân thế Hồ Quí Ly, Trần Trọng Kim viết : “Nguyên họ Hồ là dòng dòng dõi nhà Ngu bên Tàu nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu”. Sách “ Đại cương Lịch sử Việt Nam”, nhà xuất bản giáo dục 1999 cũng chép rập khuôn “ Lê Quí Ly, cháu 4 đòi của Hồ Liêm, dòng dõi Hồ Hưng Dật người Triết Giang bên Tàu ..”. Gần đây, nhà nghiên cứu Lê Trung Hoa trong tác phẩm “ Họ và tên người Việt Nam” vẫn còn đặt bút viết “Phần lớn các họ của người Kinh có nguồn gốc từ Trung Quốc như Trần, Lê, Lý, Đỗ … Trong hàng nghìn năm Bắc thuộc và tiếp tục sau đó, nhiều quan lại và thường dân Trung Quốc đã sang định cư ở nước ta, rồi sinh con đẻ cháu, dần dần trở thành người Việt. Xin nêu ra một vài dẫn chứng như Trần Lãm, cha nuôi của Đinh Bộ Lĩnh, vốn là con ông Trần Công Đức, quán ở Trấn Quảng Đông, từ Trung Hoa sang hùng cứ ở Bố Hải Khẩu, nay là xã Kỳ Bố, huyện Vũ Tiên, phũ Kiến Xương tỉnh Nam Định, mà tự xưng là Trần Minh Công… N_ cả họ Nguyễn, một họ lớn nhất của người Việt chiếm 38% cũng có nguồn gốc Trung Hoa: Đời Tấn, bên Trung Quốc có Nguyễn Tịch nổi danh với điển tích Mắt xanh. Đồng thời với Nguyễn Tịch có Nguyễn Hàm, một nhà thơ nổi tiếng ..”. Tất cả đã nói lên cái não trạng n6 dịch văn hoá “Đại Hán” hậu quả của sự thống trị nô dịch cả ngàn năm của Hán tộc xâm lược. Thực ra, tất cả đều là họ của người Việt cổ ở Hoa Nam bây giờ thuộc lãnh thổ Trung Quốc nên họ mới tưởng là họ Tàu, thực ra là họ của người Tàu gốc Việt cổ.

Ngày nay sự thật lịch sử đã được phục hồi sau mấy ngàn năm bị che phủ. Thật ra lãnh thổ của nước Xích Qui rồi Văn Lang của Việt tộc thời xưa còn ở trung nguyên. Suốt dòng lịch sử Việt, người Việt cổ đã phải thiên cư rời bỏ địa bàn tổ trước kẻ thù Hán tộc xâm lăng phương Bắc chạy xuống phương Nam. Số còn lại trải qua hàng ngàn năm thống trị của Hán tộc với chủ trương đồng hoá, buộc họ phải “đồng” nghĩa là phải giống với người Hán nhưng họ vẫn giữ bản sắc Việt nên không bao giờ “hoá”thành người Hán được. Chính vì vậy, tuy cùng gọi là người Trung Quốc nhưng người Hoa Nam và người Hoa Bắc khác nhau hoàn toàn từ con người đến đời sống văn hoá, phong tục tập quán … Người Hoa Nam vẫn gọi nhau bằng họ như ông Trần, ông Lý … chứ không gọi bằng tên chính để nhận biết, trân trọng cội nguồn Việt cổ của tổ tiên họ. Chính vì vậy, người dân TQ ở Hoa Nam hiện nay là người Trung Quốc gốc Việt cổ nên họ của dân Hoa Nam chính là họ Việt chứ không phải ta lấy họ Trung Quốc. N_ từ thời Chu khi Hồ Công lấy công chúa Chu, vua Chu cắt đất Trần phong cho Hồ Công. Hồ Công lấy đất phong lập ra triều Trần của dòng họ Trần ở lưu vực phía Đông sông Dương Tử.

Sử sách Việt ghi tổ tiên của Lê Quí Ly và Nguyễn Huệ tên thật là Hồ Thơm vốn họ Hồ ở đất Trần là người Việt cổ. Hồ Quí Ly đặt tên nước là Đại Ngu hàm nghĩa là dòng dõi vua Thuấn họ Ngu. Đồng thời họ Hồ nuôi tham vọng mở ra triều đại thanh bình thịnh trị như thời Đường Ngu tức Nghiêu Thuấn thuở xưa. Theo các nhà nghiên cứu thì Ngu về sau trại âm ra là Âu, “Ngu Cơ”=> (Ou Cơ) => Âu Cơ. Cơ ban đầu chỉ có nghĩa là người con gái xinh đẹp nên truyền thuyết Rồng Tiên với mẹ Âu Cơ lại rất hiện thực. Thời Hán Sở tranh hùng, Hạng Võ người anh hùng khí đoản của Sở Việt cũng tự sát với người yêu là nàng Ngu Cơ cũng để lại bao thương tiếc cho người dân Sở Việt ở Hoa Nam.

Trong suốt trường kỳ lịch sử, Bách Việt ở Hoa Nam luôn vùng lên giành lại đất tổ Trung nguyên mỗi khi Hán tộc suy yếu. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, các quốc gia Bách Việt của con Rồng cháu Tiên như Việt, Ngô rồi Sở nhiều lần đánh thắng các nước lên ngôi Bá chủ Trung nguyên nhưng do ở rải rác khắp trung nguyên, lại phân hoá tiêu diệt lẫn nhau để rồi bị Tần tiêu diệt. Khi triều Tần xụp đổ, Hạng Võ người Sở Việt cùng Lưu Bang người Hán quyết chiến một mất một còn giành quyền làm chủ Trung nguyên. Hạng Võ ỷ tài “ Lực bạt sơn hề khí cái thế” kiêu căng không nghe lời của quân sư Phạm Tăng nên bị Lưu Bang vây khốn phải tự sát, chấm dứt cục diện Hán Sở tranh hùng” để rồi Trung nguyên lại về tay Hán tộc. Khi triều Tấn xup đổ, Trung Quốc lại phân liệt ra nhiều nước nhỏ, ở miền Bắc gồm 3 nước là Hậu Nguỵ, Bắc Tề và Bắc Chu mà sử sách gọi là Bắc Triều (386-531). Trong khi đó ở miền Nam, 4 triều đại liên tiếp là Tống (420-479), Tề (479-502), Lương (502-557) và Trần (557-589). Cuối đời Đường, tình hình Trung Quốc lại tam phân ngũ liệt nên sử sách gọi thời kỳ này là thời “ Ngũ đại Thập quốc”. Ở miền Bắc gồm 5 triều đại nối tiếp là: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu được xem là chính thống của TQ. Trong khi đó ở miền Nam, cư dân Hoa Nam gốc Việt nổi lên giành độc lập và thành lập 10 nước Bách Việt gồm :
. Nước Ngô do Dương Hành Mật lập ra ở An Huy.
. Tiền Thục do Vương Kiến thành lập ở Tứ Xuyên.
. Ngô Việt do Tiền Cù thành lập ở Triết Giang.
. Sở do Mã Ân lập ra ở Hồ Nam.
. Mân do Vương Thẩm thành lập ở Phúc Kiến của chi Mân Việt.
. Nam Hán do Lưu Aån thành lập ở Quảng Đông. Thực ra tên nươcù ban đầu là Đại Việt rồi về sau đổi là Nam Hán vì ở phía Nam sông Hán.
. Nam Bình do Cao Bảo Dung thành lập ở Hồ Bắc.
. Hậu Thục do Mạnh Trí thành lập ở Tứ Xuyên.
. Nam Đường do Lý Thắng thành lập ở Giang Tô.
. Bắc Hán do Lưu Sùng thành lập ở vùng Sơn Tây phía Bắc sông Hán.

Trước một kẻ thù Hán tộc phương Bắc vốn là một tộc người du mục đời sống vật chất, thiên về lý trí nên tình cảm lạnh lùng đến mức khô cằn. Cuộc sống du mục buộc phải có tổ chức, đoàn kết, sức mạnh võ biền, rất thạo việc chiến tranh. Trong khi các nước Bách Việt ở phương Nam định cư rải rác khắp Trung nguyên là cư dân nông nghiệp đời sống thiên về tình cảm, thịnh về văn hoá nhưng kém về võ lực nên Hán tộc thắng một cách dễ dàng. Mặt khác, theo nhận xét của các nhà nghiên cứu thì các quốc gia Bách Việt không biết đoàn kết để thống nhất sức mạnh mà thường đánh lẫn nhau để giành ngôi vị thủ lĩnh nên chia rẽ, phân hoá nên chỉ một thời gian ngắn lại bị Hán tộc thống trị như cũ. Thực tế đau thương này được nhà Trung Hoa học, giáo sư Wiens nhận xét : “ Bao nhiêu cuộc trổi dậy của Bách Việt đều thất bại vì người Lĩnh Nam tự phá lẫn nhau …”. Thực tế lịch sử đã chứng minh khi các chi Việt thuộc các nước Ngô, Việt, Sở bỏ Hoa Nam chạy xuống Bắc và Trung Việt Nam hợp nhất với Lạc Việt và các chi Việt khác định cư tại đây từ trước tạo nên một sức mạnh tổng lực nên đã đánh thắng tất cả các cuộc xâm lược của Hán tộc để tồn tại mãi tới ngày nay.

Từ huyền thoại đến hiện thực lịch sử đã minh nhiên xác định Việt tộc bao gồm cả trăm chi tộc như Lạc Việt, Âu Việt, Mân Việt, Dương Việt, Đông Việt, Liêu Việt, Quì Việt, Điền Việt … Chính sử gia chính thống TQ Tư Mã Thiên trong bộ Sử Ký đã viết : “ Nước Sở, nước Việt đều là dân Việt. Dân nước Sở họ Mị, dân nước Việt họ Tự (Từ)”. Nhà nghiên cứu Tscheppe ghi nhận Phù Sai, Hạp Lư, Câu Tiễn đều là họ Việt. Chính vì vậy, quan niệm cho rằng dân tộc Việt là một cộng đồng dân bao gồm 54 dân tộc là một quan niệm sai lầm, phản dân tộc vì đã phủ nhận cội nguồn gốc tích của Việt tộc. Không thể có một dân tộc Kinh vì dân tộc Kinh là dân tộc nào? Cũng như không thể có một dân tộc Tày, dân tộc Mnong, dân tộc Thái, dân tộc Hmong, dân tộc Mường …
Theo nhà nghiên cứu Chéon thì người Mường là người Việt cổ sơ còn giữ được một vài họ cổ là họ Ai, họ Kem, họ Khói, họ Sa, họ Xạ … hiện nay đồng bào Mường còn giữ một số họ như Bạch, Bùi, Cao, Đinh, Hà, Hoàng, Lê, Phạm, Quách, Trịnh Xa trong đó Đinh, Quách, Bạch, Hoàng là nhiều nhất. Cổ sử Trung Quốc cho biết Li Vưu, là cổ thiên tử, thủ lĩnh của Tam Miêu bây giờ gọi là đồng bào Hmong Mien gồm đồng bào Dao và Miêu (Mèo) trước đây một thời làm chủ Trung nguyên. Nhà nghiên cứu Nguyễn Nguyên dẫn tác phẩm Người Hmong của Chu Thái Sơn cho biết họ Lý là dòng họ chính của đồng bào Dao nên năm 1060, vua Lý Anh Tông mới cho dựng đền thờ Xuy Vưu ở phường Bố Cái. Dòng họ Lý là dòng họ lớn ở bán đảo Triều Tiên chính là hậu duệ của Hmong Dao trong cộng đồng Bách Việt.

Thực tế này được thư tịch cổ Trung Quốc xác nhận là khi Lạc bộ Trĩ gồm Bách Bộc mà cổ sử Trung Quốc gọi là rợ Đông Di bị đánh bật khỏi lưu vực sông Bộc và bán đảo Sơn Đông đã thiên cư lên Đông Bắc thành lập nước Cao Câu Ly mà sử TQ gọi miệt thị là rợ Tam Hàn. Lịch sử cổ đại Hàn Quốc cũng có 18 đời vua gọi là Bai-Dal và trong lịch sử có một Tổng Thống họ Lý là Lý Thừa Vãn và cũng không phải tình cờ mà sau khi nhà Trần diệt nhà Lý mà Hoàng tử Lý Long Thân phải chạy ngược lên Triều Tiên để tỵ nạn vì đó là nơi đồng chủng định cư từ lâu đời. Chính vì vậy, chúng ta có quyền khẳng định tất cả là những chi tộc Việt, là anh em cùng chung một bào thai của mẹ Âu nên chúng ta vẫn gọi nhau một cách thân thương là đồng bào máu mủ ruột rà:

“ Nhớ xưa Quốc Tổ mở nền,
Truyền thống văn hiến sử thiên Việt hùng ..
Bọc điều trăm họ thai chung,
ĐỒNG BÀO tiếng gọi vô cùng VIỆT NAM !”

Theo thống kê của nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 1-4-1989 thì trên đất nước Việt Nam có tất cả là 54 dân tộc gồm:
1. Kinh ( Việt): 55.244người.
2. Tày : 1.190.342người.
3. Thái :1.040.549người.
4. Mường : 914.596người.
5. Hoa ( Hán): 900.185người.
6. Khmer :895.299 người.
7. Nùng : 705.709người.
8. Hmong : 558.053người.
9. Dao : 473.945người.
10. GiaRai : 242.291người.
11. Eâđê : 194.710 người.
12. Bana : 136.859 người.
13. Sán, Chay : 114.012 người.
14. Chăm : 98.971 người.
15. XơĐăng :96.766 người.
16. Sán Dìu : 94.630 người.
17. Hrê : 94.259 người.
18. Kơho : 92.190 người.
19. Raglai :71.696 người.
20. Mnong : 67.340 người.
21. Thổ : 51.274 người.
22. Stiêng : 50.194 người.
23. Khơmú : 42.853người.
24. BruVânKiều : 40.132người.
25. Giáy : 37.96người.
26. Kơtu : 36.967 người.
27. Gié-Triêng : 26.924người.
28. Tà Oâi : 26.044người.
29. Mạ : 25.436người.
30. Co : 22.649người.
31. Chơro : 15.022 người.
32. Hà Nhì : 12.489 người.
33. Xinh Mun : 10.890 người.
34. Churu : 10.746 người.
35. Lào : 9.614 người.
36. La Chí : 7.863 người.
37. Phù Lá : 6.424 người.
38. LaHủ : 5.312người.
39. Kháng : 3.921người.
40. Lư : 3.684người.
41. Páthẻn : 3.680người.
42. LôLô : 3.134người.
43. Chứt : 2.427 người.
44. Mảng : 2.247 người.
45. Cơ Lao : 1.473 người.
46. Bố Y : 1.420 người.
47. LaHa : 1.396người.
48. Cống : 1.264 người.
49. Ngái : 1.151 người.
50. Si La : 594 người).
51. Pu Péo : 382 người.
52. Brâu : 231 người.
53. RiMăm : 227 người.
54. Ơđu : 32 người.

Trên thực tế chúng ta không thể kể số 900.185 người Hoa vào trong các chi tộc Việt vì người Hoa thuộc tộc Hán dù trong đó có những người Hoa gốc Việt. Như vậy, cho đến nay chỉ còn 53 chi tộc Việt trong cộng đồng Bách Việt sống trên đất nước Việt Nam. Trong đó chi Lạc Việt ở châu Kinh là đông nhất 55.900.244 người và chi còn lại ít nhất là chi Ơđu chỉ có 32 người.

http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page

cadao
Administrator

USA
253 Posts

Posted - 04/24/2007 :  05:18:34  Show Profile  Reply with Quote
VII. ĐỒNG BÀO, Ý NGHĨA NHÂN VĂN CAO ĐẸP CỦA VIỆT NAM :
Phạm Trần Anh

Bức thông điệp lịch sử năm ngàn năm văn hiến còn cho chúng ta một ý nghĩa cao đẹp tràn đầy vẻ nhân văn của huyền thoại Việt Nam mà không một dân tộc nào có được. Thật vậy, từ hình tượng Mẹ Tiên đẻ ra một bọc trăm trứng rồi đem ra để ở ngoài đồng để mẹ đất ấp ủ, bảy ngày sau trăm trứng nở ra trăm người con trai, người nào cũng khôi ngô tuấn tú cả… đã cho chúng ta niềm tự hào con Rồng cháu Tiên. Chúng ta có cùng một huyết thống thiêng liêng, cùng máu mủ ruột rà mà tiền nhân đã truyền lưu cho chúng ta nên chúng ta đều “bình đẳng” như nhau. Chúng ta cùng chung một bào thai của Mẹ Âu Cơ, người Mẹ Tổ quốc Việt Nam sinh thành dưỡng dục .. nên chúng ta có quyền gọi những anh em là đồng bào ruột thịt, các dân tộc khác không thể gọi được như thế. Hai chữ đồng bào mà chúng ta vẫn gọi một cách thân thương trìu mến, phát ra từ đáy lòng mỗi con dân Việt :
“Bọc điều trăm họ thai chung,
Đồng bào tiếng gọi vô cùng Việt Nam”.

Cũng từ ý niệm này, văn chương dân gian Việt thường gắn liền “ yêu nước với thương nòi”, “tình đồng bào với nghĩa ruột thịt” chính là đặc trưng của nòi giống Việt. Chính từ ý nghĩa đồng bào nên trong cuộc sống thường nhật, việc ứng xử thể hiện qua cách xưng hô với người không phải trong gia tộc rất là thân tình chẳng khác gì bà con họ hàng cả. Đối với tha nhân, người Việt chúng ta cũng gọi là bà con cô bác, cũng xưng hô là ông bà, cô bác, chú thím, cậu mợ, anh chị em, con, cháu … là điều mà không thấy ở bất cứ một dân tộc khác ngoài Việt Nam.

Đồng bào còn biểu trưng một ý niệm “bình đẳng” như nhau, giữa những con dân Việt không có gì khác biệt về đẳng cấp, quyền lợi… sự khác biệt nếu có là do sự phân công của xã hội phù hợp với khả năng mỗi người. Huyền thoại Rồng Tiên thể hiện một ý chí độc lập tự cường lấy sức mình là chính, không dựa vào thần linh cũng như tha nhân. Truyền thuyết “Mẹ Âu đem bỏ cái bọc ra ngoài đồng…” biểu trưng cho nền văn hoá nông nghiệp nên đẻ xong lót lá chuối cho nằm dưới đất hàm nghĩa trong vòng tay của mẹ đất. Mặt khác nó cũng thể hiện ý niệm nhân chủ, lấy con người làm chính, dựa trên ý chí tự chủ, tự lực tự cường. Huyền thoại Rồng Tiên kể rằng “sau 7 ngày trăm trứng nở ra trăm con trai, không cần bú mớm…” thể hiện cao độ tâm linh Việt, để chúng ta phải biết lấy sức mình là chính để đứng vững trên đôi chân của mình không dựa vào Thần linh, vào bất cứ một sức mạnh nào bên ngoài như các dân tộc khác.

Từ ý niệm đồng bào cùng chung một Mẹ, một nguồn cội huyết thống đã hình thành một ý thức dân tộc cao độ với lòng yêu nước gắn liền với thương nòi. Hai ý niệm yêu nước và thương nòi hoà quyện làm một, xuất phát từ lòng tự hào “Con Rồng cháu Tiên ” đã tạo nên những kỳ tích oai hùng, đẹp như áng sử thi của thiên trường ca bất hủ Việt Nam. Hai chữ “Đồng bào” của Việt tộc còn biểu trưng một cộng đồng Bách Việt luôn đặt quyền lợi chung lên trên quyền lợi cá nhân, việc nước trước việc nhà, danh dự gia đình dòng họ trên lợi ích cá nhân hẹp hòi vị kỷ. Truyền thống Việt cổ lấy con người làm gốc “Nhân bản” tôn trọng cá nhân cũng như sự bình quyền nam nữ, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, khác với Tây phương coi trọng tự do cá nhân thái quá không đếm xỉa gì tới tha nhân, tới lợi ích cộng đồng của nhân quần xã hội. Đó chính là ý nghĩa của đạo đức Việt cổ mà giới học giả Tây phương đều phải hết lời ca ngợi cái gọi là “ Giá trị Phương Đông”, tinh hoa của nền văn minh đạo đức Việt.


http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page

cadao
Administrator

USA
253 Posts

Posted - 04/24/2007 :  05:20:12  Show Profile  Reply with Quote
VIII. HUYỀN THOẠI RỒNG TIÊN BƯỚC NGOẶT TIẾN HOÁ CỦA NHÂN LOẠIPhạm Trần Anh

Truyền thuyết về họ Hồng Bàng, tự thân chữ họ đã gói ghém tinh thần gia tộc trong dòng họ của một thị tộc. Nhiều thị tộc tiến tới một bộ tộc, rồi ý niệm dân tộc hình thành theo quy luật sinh thành, tiến hoá chung của nhân loại. Xã hội loài người thuở ban sơ với đời sống hoang dã, bản tánh hồn nhiên sống theo tục quần hôn của chế độ mẫu hệ kéo dài hàng ngàn năm. Theo thời gian với sự tiến hóa của nhân loại, ý niệm độc hữu đã hình thành gia đình, đáp ứng yêu cầu sinh hoạt của đời sống xã hội ở một thời điểm nhất định nào đó. Thế nhưng, khởi nguyên từ hình tượng nguyên sơ của Mẹ Tiên “đẻ trăm trứng nở trăm con”, nguyên lý Mẹ tiềm ẩn trong dòng máu Việt cái Gène “Tiên” n_ cả khi đã chuyển sang hình thái phụ hệ.

Thật vậy, nguyên lý Mẹ thể hiện rõ nét trong sinh hoạt văn hoá, xã hội mang tính truyền thống của dân tộc từ thuở xa xưa. Thời đó, trong các cuộc tế lễ hội hè đình đám, vai trò chủ tế thuộc phụ nữ chứ không do các thầy tư tế như hầu hết các dân tộc khác chịu ảnh hưởng của thần quyền. Thời kỳ này hình thành một nền văn minh vu thuật nên dân gian vẫn thường gọi là bàVu Ông Hích. Về sau nam giới mới được tham dự đồng tế thì ta gọi là ông đồng bà bóng hay bà cốt.Thời xưa, trống đồng không chỉ là một nhạc cụ mà nó còn biểu hiện uy lực của nà vua ban cho các thủ lĩnh như một hiệu lệnh mà người đánh trống bao giờ cũng là nữ giới. Tuỳ thư chép: “Người đánh khai mạc chiếc trống mới đúc bao giờ cũng là người con gái”. N_ tên con sông nơi mà những chi Việt tộc đã theo triền sông xuôi Nam đã gọi tên một cách thân thương là dòng sông Mẹ, là sông cái… Trong đời sống, nguyên lý Mẹ vẫn ngự trị như một nguồn suối tâm linh làm dịu mát tâm hồn, xoa dịu những nỗi đau trần thế. Thật vậy, không một dân tộc nào mà có nhiều Thần nữ “tâm linh” như Việt tộc từ hình tượng Mẹ Tiên đến Cửu Thiên Huyền Nữ, Thái Dương Thần Nữ, Mẫu thượng ngàn (Mẹ Long Nữ ở trên miền núi) Bà Chúa Xứ, Mẫu Thoải ( mẹ nước) … Ở một số địa phương như Hà Bắc, nhiều làng ghi trong Thần phả hoặc có truyền thuyết về một Thần nữ là con gái Mẹ Âu Cơ. Đây là cả một hệ thống Nữ thần như các bà chúa Dâu dạy dân trồng dâu nuôi tằm, bà Chăm Chỉ của làng Đại Trạch dạy dân se tơ chỉ, Đền thờ bà chị ruột của 3 vị thần Bách Noãn ở thôn Đồng Miếu đã hy sinh cùng ba anh em trong cuộc chiến đấu chống giặc Tàu. Xã Vạn Linh cũng có bà Hồng thị, cùng chị em với các thần Bách Noãn, bà lại có 2 con gọi Âu Cơ là bà ngoại, gọi Hùng Vương bằng cậu, cùng với mẹ có công tát sông. Dân gian vùng này vẫn tổ chức lễ hội hàng năm trong đó có lễ rước nước, đưa kiệu xuống thuyền ra giữa dòng quay ba vòng để múc nước vào choé đem về Đình làng như để nhớ công lao tát sông của vị thần nữ này. Rõ ràng là các ý nghĩa đạo lý gia đình hay đúng hơn là ý nghĩa đồng bào, ý nghĩa trăm trứng trong tâm thức người Việt thật là sâu đậm. Trong trí tưởng tượng đơn sơ của người bình dân mộc mạc, câu chuyện trăm trứng là có thật, vua Hùng Vương trong quá khứ hay trong hiện tại chỉ là một, là gia đình đầu tiên dựng nước và giữ nước (24).

Theo truyền thuyết thì Mẹ Âu Cơ sinh ra trăm trứng nở ra một trăm con trai để rồi Bố Lạc dẫn 50 con xuống miền biển, Mẹ Âu dẫn 50 con lên núi chia nhau mà trị… Một trăm người con trai mỗi người định cư một nơi “Xâm mình, cắt tóc, phát cỏ, lập ấp” mở mang đất nước phát triển giống nòi thành những chi tộc Việt như U Việt , Mân Việt Dương Việt và Lạc Việt v. v… thành lập các quốc gia Bạch Lang, Dạ Lang, Việt Lang, Văn Lang… Đây là thời kỳ chuyển tiếp từ chế độ mẫu hệ sang phụ hệ mà truyền thuyết kể lại là Mẹ Âu đẻ trăm con trai, kế đến là 50 con lên núi, 50 con xuống biển chia nhau mà trị… Mỗi người xâm mình, cắt tóc, phát cỏ, lập ấp ở mỗi vùng, thoạt kỳ thủy là một gia đình rồi tiến lên thị tộc, coi như một chi tộc Việt trong Bách Việt. Ý nghĩa của mẩu truyền thuyết này xem như một mốc tiến hoá quan trọng trong lịch sử nhân loại ở thời điểm khá sớm. Trong khi đó ở Trung Quốc thời Thương còn duy trì mẫu hệ mãi đến thời Tần Thủy Hoàng vẫn còn. Tần Thủy Hoàng đã áp dụng những luật lệ khắt khe để chấm dứt chế độ mẫu hệ còn rơi rớt ở Trung Quốc. Việc chuyển sang chế độ phụ hệ đã chấm dứt tục quần hôn và loạn luân được coi như bước ngoặt từ bản tính động vật đến bản tính người như Lévis Strauss, nhà nhân chủng học nổi tiếng đã viết trong “tác phẩm nhân loại cấu trúc”.

Tuy xã hội Việt Nam thời Hùng Vương chuyển dần sang chế độ phụ hệ nhưng truyền thống dân tộc vẫn in đậm hình tượng Mẹ Âu, người Mẹ Tổ Quốc nên ý nghĩa và vai trò của người Mẹ vẫn được trân trọng bảo lưu mãi cho tới ngày nay. Sách Nam Phương thảo mộc trạng của Kế Hàm thời Tấn ở thế kỷ thứ 3 còn ghi về truyền thống tôn trọng nữ giới của Việt tộc như sau:

“Người Việt có tục “Nữ tửu” tức là “Rượu con gái”. Đúng vào ngày sinh con gái người nhà nấu rượu để vào hủ sành gắn nắp lại rồi đem ra chôn ở bờ ao. Đến khi người con gái lớn lên, đi lấy chồng thì trong ngày cưới, người nhà đào rượu ấy lên uống trong tiệc cưới”. Ngày nay tập tục đó không còn nữa nhưng cha mẹ yêu quí con gái vẫn thường âu yếm gọi con mình là con gái “rượu”, chính là phản ánh tập tục truyền thống xa xưa của dân tộc. Cách đây không lâu, tuy tập tục ở rể còn rơi rớt ở một vài địa phương nhưng phần lớn các trường hợp do gia đình bên nhà trai gặp khó khăn hoặc gia đình bên gái chỉ có một cô gái rượu nên bắt ở rể được sống gần con gái.

Hình thái văn hoá mẫu hệ trong việc tôn trọng nữ quyền của truyền thống Việt Nam khởi đoan từ hình tượng thuở nguyên sơ của Mẹ Tiên Âu Cơ, người Mẹ sinh thành của Tổ Quốc Việt Nam thể hiện nguyên lý MẸ đầy tính nhân văn cao đẹp xuyên suốt dòng vận động của lịch sử. Sự bình đẳng nam nữ đã thể hiện n_ từ thời HùngVương, khác hẳn với Hán tộc vẫn tự cho là văn minh, lên mặt “giáo hoá” dân tộc khác, nhưng vẫn duy trì hủ tục mang tính quan liêu gia trưởng “trọng nam, khinh nữ”. Quan niệm coi thường giá trị của phụ nữ, người phụ nữ không được ra khỏi nhà để chỉ lo phục vụ ông chồng … của Hán tộc mới du nhập vào nước ta từ thời Hán thuộc, một thời được các hủ nho rập khuôn nào là “Nữ nhi ngoại tộc” (con gái là con người ta), nào là “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (chỉ một trai cũng là có, mười gái cũng như không). Thế nhưng, dù bị ngàn năm đô hộ của Tàu, văn hoá Việt với sức sống vô biên của một dân tộc đã đẩy lùi cái gọi là văn hoá nô dịch kia. Thật vậy, tuy phụ nữ không còn giữ vai trò quyết định như trong chế độ mẫu hệ nhưng họ vẫn được tôn trọng, thiên chức làm mẹ, làm vợ, vẫn được xã hội đề cao. Tuy không còn là gia trưởng nhưng giới phụ nữ vẫn được coi là nội tướng, người giữ tay hòm chìa khoá của gia đình. Quan hệ vợ chồng không bất bình đẳng như xã hội Trung Quốc, đồng thời nó cũng không bình đẳng thái quá kiểu Tây phương để đi đến chỗ dễ đổ vỡ, ly dị, hậu quả là con cái thiệt thòi đau khổ, gia đình ly tán.

Gia đình là nền tảng của xã hội, nên mối tương quan vợ chồng Việt Nam dựa trên sự đồng thuận của cả vợ lẫn chồng. Sự đồng lòng này không những mang lại hạnh phúc cho lứa đôi mà còn là tổ ấm nuôi dưỡng giáo dục con cái. Tình nghĩa vợ chồng Việt Nam đầm ấm thân thương, xem người phối ngẫu của mình là nơi trú ngụ che chở cho họ nên vợ hay chồng vẫn dùng chung chữ “nhà tôi” để chỉ chồng hay vợ. Tình yêu thương chồng vợ còn thể hiện qua cách xưng hô thân mật, xem người yêu chính bản thân mình nên thường gọi nhau là Mình, Mình ơi .. mà không một dân tộc nào có được.

Ngày xưa, vai trò của phái nữ được đề cao nhưng về sau vai trò phái nam được coi trọng hơn vì truyền thống thừa tự, hương hoả để thờ cúng tổ tiên, ông bà cha mẹ. Thế nhưng tình chồng nghĩa vợ vẫn dựa trên nền tảng “Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn” nên chồng nói vợ nghe (phu xướng phụ tuỳ) nhưng nếu trong các dịp lễ Tết, Giỗ chạp nếu không có mặt người vợ thì xem như chưa đủ lễ nghĩa của đạo vợ chồng. Tương lai của các con mới chính là hạnh phúc của cha mẹ, nên người phụ nữ Việt Nam sẵn sàng hy sinh tất cả cho chồng con, nhưng không vì thế mà bị xem thường. Trái lại hình ảnh người mẹ sống mãi trong tâm tư của con cái, cho dù đứa con đã lập gia đình riêng. Từ lúc đó con cái phải sớm hôm phụng dưỡng cha mẹ già từ miếng ăn, giấc ngủ, bát thuốc những khi đau ốm, chứ không lạnh lùng, không một chút tình cảm đôi khi có vẻ tàn nhẫn kiểu phương Tây: con cái lớn lên lập gia đình riêng, cha mẹ già gửi vào viện dưỡng lão, sống cô đơn trong tuổi già buồn bã… thậm chí chết chóc con cái cũng chẳng cần hay biết… Phụ nữ Việt thường nhịn nhục chiều chồng chiều con, chịu thiệt thòi về phần mình để lo cho chồng cho con nhưng bù lại cho đến cuối đời lúc nào cũng sống trong hạnh phúc với chồng bên đàn con cháu thương yêu ruột thịt.

Khởi nguyên từ hình tượng Mẹ Tiên cao cả đã lập đại thành “Nguyên lý Mẹ” trong tâm thức mỗi người Việt, hình thái văn hoá mẫu hệ, tôn trọng nữ quyền truyền lưu mãi tới ngày nay. Chính truyền thống cao đẹp này của dân tộc đã sản sinh ra những bậc nữ lưu vĩ đại như Hai Bà Trưng, Bà Triệu và bao nhiêu nữ anh hùng nữa… những bậc anh thư của Việt tộc đã góp phần to lớn trong công cuộc bảo vệ đất nước mà không một dân tộc nào có được.

http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page

cadao
Administrator

USA
253 Posts

Posted - 04/24/2007 :  05:22:27  Show Profile  Reply with Quote
IX. SỬ THI BỐ LẠC- MẸ ÂU.. UYÊN NGUYÊN MINH TRIẾT VIỆT
Phạm Trần Anh

Mỗi dân tộc đều có một vật tổ biểu trưng, trong khi Việt tộc có hai vật tổ song trùng đó là Tiên Rồng. N_ từ thời đá mài Bắc Sơn cách nay khoảng 7000 năm người ta đã tìm được những hòn sỏi mài nhẵn có gạch 2 vạch song song mà theo sự suy đoán là nét song trùng, hay là nét lưỡng hợp(25) được biểu hiện đầy rẫy trong các huyền thoại. Đặc điểm của huyền thoại Việt Nam là luôn luôn có hạn từ như sông núi, đất nước, nóng lạnh, sáng tối, trong ngoài, âm dương, trai gái, nước nhà, nhà nước biểu trưng lưỡng thể tính âm dương đối lập trong sự thống nhất hài hoà bởi nguyên lý MẸ.

Ngày nay mọi người đều nhận chân được ý nghĩa và giá trị của truyền thuyết là những trang chiếu giải trung thực nhất của người xưa. Vấn đề là chúng ta, thế hệ con cháu phải tìm về nguồn cội xa xưa để lý giải ngữ nghĩa hàm ẩn trong chiều sâu ý niệm tâm linh của dòng sống sinh động Việt cổ thời Hùng Vương. Đó chính là quan niệm sử theo chiều dọc mà chúng ta gọi là huyền sử.

Truyện xưa kể rằng rằng mối tình Rồng Tiên của đôi vợ chồng nhân thần để rồi ba sinh hương lửa mặn nồng đã sinh ra bọc điều trăm trứng nở ra trăm con trai khôi ngô tuấn tú lạ thường. Bố Rồng trở về thủy phủ để Mẹ Tiên ở lại nuôi con. Mẹ con cùng đường, tính trở về quê ngoại nhưng chiến tranh loạn lạc nên không về được. Trong cảnh lẻ loi đơn chiếc, mẹ con ôm nhau khóc lóc: “Bố ơi! Bố ở đâu mau về cứu chúng con …”. Rồi một hôm, Bố Rồng bỗng nhiên về gặp Mẹ Tiên ở đất Tương để tạ từ ly biệt. Tự thân của mẩu truyền thuyết này là uyên nguyên triết lý của sự tương sinh tương khắc, tan hợp hợp tan, quy luật muôn đời thường hằng bất biến của vạn vật … và cánh đồng bến nước sông Tương ngàn trùng xa cách từ buổi ấy, những giọt nước mắt chia ly ấy đã là hồn thơ muôn thuở của thi nhân:

Bố về gặp Mẹ bến sông Tương
Giọt lệ sầu đong nghĩa vợ chồng
Ngàn năm tự thuở chia ly ấy.
Huyền sử Rồng Tiên giống Lạc Hồng.

Giọt lệ sầu đong của Mẹ đã không cầm được lòng tha thiết ngậm ngùi của bố. Bố Lạc nói: “Ta là giống Rồng, đứng đầu thủy tộc, nàng là giống Tiên sống ở trên đất, vốn không ở được với nhau lâu. Tuy nhiên âm dương hợp lại mà sinh con, nhưng dòng giống tương khắc như nước với lửa khó bề ở lâu với nhau được. Nay phải chia ly. Ta mang 50 con về thủy phủ chia trị các nơi, còn nàng đem 50 con về ở trên “đất”chia “nước” mà trị. Những lúc lên non xuống biển có việc cùng nhau gắn bó với nhau đừng bỏ rơi nhau … Âu Cơ dẫn 50 con lên núi, suy tôn người con trưởng lên làm vua đặt tên nước là Văn Lang …”.
Còn mối tình nào trên thế gian này cao đẹp tuyệt vời như thiên tình sử Tiên Rồng, tuy huyền nhưng không ảo, tuy mơ nhưng lại thực và sự hiện hữu của cộng đồng Bách Việt do Việt tộc ly tán là hiện thực lịch sử của huyền sử Rồng Tiên:

Việt Nam thi sử truyền ghi,
Âu Cơ Tiên nữ kết nghì Lạc Long,
Công Chúa Viêm Đế vốn dòng,
Theo cha du ngoạn non bồng Nam phương,
Động Đình kết mối uyên ương,
Thuyền quyên lòng đã mười thương anh hùng!
Sắt cầm hoà hiệp nguyện chung,
Trăm năm kết nghĩa vô cùng nên thơ,
Ba sinh hương lửa đợi chờ,
Mặn nồng tình nghĩa ngây thơ thẹn thùng,
“Bọc điều trăm họ thai chung,
Đồng bào tiếng gọi vô cùng Việt Nam”
Thân thương cao cả vô vàn,
Hồn thiêng sông núi mang mang lòng người,
Truyền kỳ lịch sử tuyệt vời
Cội nguồn dân tộc đời đời khắc sâu ..!
Quốc VIệt
( Sử Thi Đại Việt Nam)

Truyền thuyết Rồng Tiên là một triết lý văn hoá tuyệt vời. Hình tượng Bố Rồng, Mẹ Tiên là hình tượng nguyên sơ, uyên nguyên nguồn cội của triết lý Âm Dương, biểu tượng bởi đôi vợ chồng nhân thần Bố Lạc-Mẹ Âu. Bố Rồng-Mẹ Tiên là những anh hùng khai sáng văn hoá không những của dân tộc Việt mà còn là của cả nhân loại nói chung. Mẹ Tiên, người Mẹ Âu Cơ của dân tộc dạy con cái làm rẫy, trồng khoai, trồng lúa ven núi, trồng mía ven sông, đào giếng, dệt vải, ép mật, thổi xôi, làm bánh. Đó là người Mẹ của giống dòng Bách Việt, người Mẹ của Tổ Quốc Việt Nam hôm nay và mãi mãi về sau. Bố Rồng diệt quái vật, Ngư tinh, mộc tinh, hồ tinh để giúp dân yên ổn làm ăn sinh sống. Bố Rồng còn dạy con dân cách thức xâm mình, vẽ mình để khỏi bị thủy quái làm hại. Bố là hình ảnh tượng trưng cho ý chí sức mạnh truyền thống của cộng đồng dân tộc, còn mẹ là hình ảnh biểu trưng của tình cảm nhân ái hiền hoà của dân tộc như một biểu tượng giống nòi:

“Sữa Mẹ Âu tuôn dòng nhân nghĩa,
Máu Bố Lạc hừng chí hùng anh”.

Từ ý niệm Đất Nước, Núi sông đến Cha Trời, Mẹ Đất thể hiện triết lý sống trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là biểu tượng của tín ngưỡng tự nhiên nguyên thủy của nền văn minh nông nghiệp thời cổ đại. Mặt trời, ánh sáng cần thiết cho sự sống ban ngày. Ngôi sao ban đêm, là giấc ngủ không thể thiếu được trong đời sống con người. Đất là Mẹ ấp ủ dưỡng nuôi để hạt giống nảy mầm khai sinh sự sống. Nước mưa của cha từ trên trời rơi xuống lòng đất mẹ cùng với ánh nắng mặt trời, ánh sáng của tình yêu thương, đã tạo ra muôn vật muôn loài, sinh sôi nẩy nở, đơm bông kết trái. Từ những ý niệm khởi đoan, cùng với sự chiêm nghiệm thực tế đã hình thành triết lý Âm Dương dịch biến, quy luật căn cơ muôn đời của vạn vật trong cuộc biến diễn cũa vũ trụ nhân sinh thường hằng bất biến. Truyền thuyết Việt Nam biểu trưng giá trị đích thực của con người, với ý nghĩa nhân chủ trong văn hoá khởi đoan của một nền triết học do con người dẫn khởi mà vẫn hài hoà với vũ trụ muôn loài. Đề cao con người, tôn trọng sự sống của con người và muôn loài, muôn vật trong đó con người vẫn cao quý thiêng liêng hơn hết (nhân linh ư vạn vật), con người là mục đích đầu tiên và cũng là cùng đích để phục vụ. Sự hài hoà giữa tinh thần và vật chất, giữa tâm linh và thể xác, ý chí và tình cảm được biểu tượng bởi đôi vợ chồng Nhân Thần:

Bố Rồng (ý chí) + Mẹ Tiên (tình cảm) con người
Bố Lạc (sức mạnh) + Mẹ Âu (tâm linh) ViệtNam
(Vật chất ) (tinh thần) toàn diện

Con người cao quý hơn muôn loài, làm chủ muôn loài muôn vật, nhưng vẫn hòa tâm cùng không gian, hòa tính cùng thời gian, hoà thông cùng vũ trụ theo quan niệm vạn vật đồng nhất thể, nhân thân tiểu thiên địa của lý “nhất trung” trong triết lý Đông Phương. Nhân linh ư vạn vật vì con người có một đời sống tâm linh cao vời sâu thẳm cùng với ý chí, nội lực tự thân đã không ngừng sáng tạo trong lao tác chinh phục khống chế thiên nhiên, để phục vụ cho nhu cầu hạnh phúc an lạc của cuộc sống con người.

Bố Rồng, Mẹ Tiên của truyền kỳ lịch sử cũng chính là Bố Lạc, Mẹ Âu của hiện thực lịch sử đã đạt thành truyền thống Việt Nam với sức sống mãnh liệt vô biên đã chinh phục thiên nhiên, chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù dưới bất kỳ danh nghĩa nào, để khẳng định trước nhân loại: Một dân tộc anh hùng đã có gần năm ngàn năm văn hiến. Chính truyền thống yêu nước thương nòi xuất phát từ lòng tự hào dân tộc con Rồng cháu Tiên, với ý chí kiên cường bất khuất, tinh thần hy sinh quả cảm đã đánh bại biết bao kẻ thù xâm lược bạo tàn, hung hãn, thâm độc, quỉ quyệt nhất nhằm thống trị đồng hoá, nô dịch dân tộc ta, trói buộc dân tộc ta bởi sợi dây vô hình vô ảnh của hình thức nô dịch văn hoá ý hệ ngoại lai. Điều này được Hán Hiến Đế, người đứng đầu triều Hán, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc đã phải tuyên dương “tên Man di chí thiện”, con châu chấu bên cạnh bánh xe Đại Hán mà dân ta vẫn tự hào ví von “Nực cười châu chấu đá xe, tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng!”. Chính Hán Hiến đế đã phải thừa nhận :

“GIAO CHỈ LÀ ĐẤT VĂN HIẾN, NÚI SÔNG HUN ĐÚC, TRÂN BẢO RẤT NHIỀU, VĂN VẬT KHẢ QUAN, NHÂN TÀI KIỆT XUẤT …”

Nền minh triết Việt khởi nguyên từ thần tổ kép Tiên Rồng, uyên nguyên của triết lý Âm Dương Việt cổ, Âm Dương biểu tượng cho 2 mặt đối lập tương sinh tương khắc nhưng không dẫn đến triệt tiêu, huỷ diệt lẫn nhau mà cùng nhau tương hoà theo lý đối lập thống nhất. Trong vũ trụ vạn vật muôn loài đều có 2 mặt đối lập với nhau nhưng vẫn cần thiết có nhau, tương hoà để tồn tại. Nếu những yếu tố cấu tạo thành vật chất đấu tranh tiêu diệt loại trừ lẫn nhau, nói một cách khác là nếu thiếu một trong 2 yếu tố căn bản hoặc âm hoặc dương thì sẽ không có muôn loài muôn vật. Nếu như chỉ có nam mà không có nữ hoặc ngược lại thì cũng chẳng có loài người. Trái lại, tuy nam đối lập với nữ về nhiều mặt từ vóc dáng thể chất đến tình cảm tâm hồn nhưng cả hai lại có tương sinh nếu hợp nhất lại: Nữ (Âm) + Nam (Dương), tình cảm + lý trí, tinh thần + vật chất thì sẽ sinh thành một mầm sống, một yếu tố thứ ba đó là con cái thì mới truyền chủng tạo ra nhân quần xã hội loài người.

Thực tế cuộc sống được chiêm nghiệm suốt chiều dài của lịch sử loài người, đó là tuy đối lập nhưng vẫn hài hoà, thống nhất trong đa dạng thì loài người mới tồn tại mãi tới ngày nay. Nền minh triết Việt chỉ ra rằng bất cứ muôn loài muôn vật muốn tồn tại phải tương hoà. Hoà hợp n_ tự bản chất mỗi vật, hoà hợp n_ chính bản thân mỗi người như thể xác với tâm hồn, tình cảm với lý trí, tâm với tính, hài hoà với thiên nhiên, hài hoà trong ứng xử giao tiếp với tha nhân, duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người, giữa dân tộc này với dân tộc khác để cùng tồn tại chứ không mưu đồ tìm cách để tiêu diệt lẫn nhau một cách cực đoan. Cuộc sống đòi hỏi chúng ta phải cùng tôn trọng nhau, chấp nhận nhau dù có sự khác biệt. Phải chấp nhận thống nhất trong đa dạng, lấy yếu tố con người làm đích điểm để cùng chung sống trong hoà bình. Đó chính là triết thuyết Nhân bản cộng tồn, lấy con người là chính để cùng chung sống trong hòa bình an lạc của nền minh triết Việt.

Trong khi các quốc gia khác trên thế giới thường chọn một vật tổ biểu trưng, một ý thức hệ làm đích điểm nên đắm chìm trong duy lý cực đoan của nhị nguyên luận, không chấp nhận bất cứ cái gì khác ngoài họ, A là A chứ không thể vừa A vừa B được. Chính đầu óc duy lý cực đoan trên đã đưa nhân loại đến bế tắc, đến ngõ cụt và chỉ có chiến tranh huỷ diệt, hậu quả của lý đối lập loại trừ. Tổ tiên ta đã chọn Thần tổ kép Tiên Rồng trên nền tảng minh triết siêu Việt mới giải quyết được vấn đề nhân sinh trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.

PHẠM TRẦN ANH
(Trích VIỆT NAM THỜI LẬP QUỐC)



CHÚ THÍCH

(1). (1BIS).Theo một số tài liệu cũ thì Lĩnh Nam Trích Quái do Trần Thế Pháp hiệu Thức Chi, người làng Thạch Thất tỉnh Sơn Tây viết vào thế kỷ 13. Theo Lê Quí Đôn thì không rõ gốc tích ở đâu và không được sử sách nhắc đến. Về sau Lĩnh Nam Trích Quái được Vũ Quỳnh hiệu đính vào thế kỷ 15. Vũ Quỳnh đậu Hoàng Giáp năm 1478, giữ chức Sử quán Đô Tổng Tài đã soạn bộ Đại Việt Thông giám và Thông khảo viết từ đời Hồng Bàng đến đời Lê Thánh Tông. Chính Vũ Quỳnh cũng viết là không biết bản Liệt truyện này do ai làm ra và viết vào thời kỳ nào chẳng thấy chép tên họ. Ngờ rằng các bậc danh nho đời Lý Trần sáng tác rồi về sau các bậc quân tử hiếu cổ bác nhã ngày nay nhuận sắc lại. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đoàn Tuân thì Lĩnh Nam Trích Quái và Hùng Vương Sự tích Ngọc phả Cổ truyện ăn khớp với nhau. Ngọc phả Hùng Vương ghi rõ là nhân ngày tốt, tháng Mạnh Xuân, năm Hùng Vương thứ 32. Căn cứ vào đó để ước tính thì vào khoảng 1243-1250 tức là vào đầu đời Trần Thái Tông. Người viết lấy tên là Trần Thế Pháp hàm ẩn ý nghĩa rất sâu sắc là pháp độ thời xa xưa. Trần là xưa cũ, thế là đời còn pháp là pháp độ và người ẩn sĩ này hẳn là không phục chế độ nhà Trần do Trần Thủ Độ dựng nên. Thế nhưng theo công trình nghiên cứu gần đây của Bùi văn Nguyên thì Trần Thế Pháp chính là vua Trần Thái Tông?

Việt Điện U Linh do Lý Tế Xuyên giữ chức “ Thủ Tạng Thư văn Chính trưởng Trung phẩm Phụng ngự, An Tiêm lộ, Chuyển vận sứ” biên soạn năm 1329 viết về nước Việt xưa ở Triết Giang. Nội dung gồm có :

. 6 truyện Lịch đại Đế vương nói về sự tích 6 vị vua nước Việt.

. 11 truyện Lịch đại Phụ thần nói về sự tích 11 vị quan của nước Việt xưa.

. 10 truyện Hạo khí Anh linh nói về các bậc anh hùng hào kiệt nhân tài trong dân gian.

(2). ĐVSKTT(Ngoại kỷ) do Ngô Sĩ Liên và các sử thần đời Lê, Bản dịch của Mạc Bảo Thần Nhượng Tống tr 34 ( Bổ khuyết theo Khâm Định Việt Sử và các sách ngoài) NXB Tủ sách Sử học Tân Việt năm 1964.

(3). Theo Kim Định.

(4). “Tout est dit dans les mythes, Reste à comprendre”.

(5). Xích Qui: Đất Trung nguyên gồm có Tam Giang Bắc ( sông Hoàng, sông Vị và sông Lạc) và Tam Giang Nam ( sông Nguyên, sông Tương và sông Dương Tử) cổ thư gọi là Nam Giao. Nam Giao có tên cổ xưa là Cửa Việt hay Giao Chỉ. Vùng đất này “Kinh Thư” gọi là Xích Qui phương. Kinh Dương Vương đã chọn tên đất Xích Qui để đặt tên nước là XÍCH QUI hàm nghĩa ban đầu chỉ tên Việt tộc ở vùng đất đỏ ( basalt) từ Tam Giang Bắc xuống Tam Giang Nam. Thời Chu gọi tên các nước khác là quỉ, các sử gia Hán tộc đã lợi dung sự đồng âm dị tự để viết là Xích Quỉ để miệt thị Việt tộc.

PHONG CHÂU: Tên cổ xưa của Việt tộc gọi là Châu Phong. Theo An Nam Tứ lộ Đồ chí thì Phong Châu là vùng vùng Tuyên Quang mà xưa gọi là Đôn Hoàng. Phong Châu là vùng gió lộng quanh năm tuyết phủ khiến Lý Bạch cảm hứng làm thơ tả cảnh sắc Phong Châu. Vùng Tam Giang Bắc có cửa Hàm Cốc Vũ quan còn gọi là Bao Trung nhìn xuống Trung nguyên. Từ Dĩnh Xuyên địa giới nước Sở đi lên phía Bắc phải qua Tà Cốc tức Phong Châu còn gọi là Bao Trung. Phong Châu là vùng ở giữa 2 dãy núi của xứ Tạng và Tứ Xuyên, nếp đất cấu tạo địa chất theo mạch từ núi HiMalaya xưa gọi là núi Tu Di hay Thứu Lĩnh là nơi phát nguồn của 4 con sông cùng chảy xuôi Nam và sang phía Đông. Bốn con sông này cùng họp nhau tại vùng MIN-YA-KON-KẠ nơi 4 dòng sông chảy sát liền nhau là sông Minh ( Min) sông Dạ Lang (Ya) sông MéKong ( Cửu Long : Kon) và sông Dương Tử ( Kạ) trước là vùng Ba Thục sau gọi là Tứ Xuyên. Châu Phong ở đây chỉ vùng núi Dân của đất Ba Thục khác với Phong Châu ở Vĩnh Phú là tên mới đặt từ địa danh Phong Châu cũ của nước Văn Lang cổ xưa. Phong Châu cũng chỉ núi nên viết với bộ Sơn.

Trong suốt dòng lịch sử Việt, Hán tộc du mục xâm lấn đẩy Việt tộc lùi dần xuống phương Nam nên tiền nhân đã mang theo địa danh Phong Châu xa xưa xuống Vân Nam rồi xuống Bắc Việt Nam bây giờ. Hùng Triều Ngọc Phả, Thần phả xã Tiên Lát huyện Việt Trì tỉnh Hà Bắc ghi rõ là đến đời Hùng Vương thứ 16 là Hùng Tạo Vương huý Đức Quân Lang ( Tân Dậu 660-569 TDL ngang với thời Chu Linh Vương) dời đô xuống Việt Trì cũng gọi là Phong Châu. Sử sách Trung Quốc ghi rõ là vào đời Thái Khang triều Tuỳ đổi tên Giao Chỉ là Giao Châu, đến năm Đại Nghiệp thứ 3 triều Tuỳ sát nhập Phong Châu vào Giao Châu gọi là quận Giao Chỉ. Phong Châu lúc trước gọi là Phong Châu Thượng ở Vân Nam nơi mà về sau Đường Trung Tông con Đường Cao Tông vừa lên ngôi được 1 năm thì bị Võ Hậu phế ngôi phải bỏ chạy về Phong Châu. Đến năm 621 triều Đường đổi Tân Hưng là Phong Châu gồm 6 huyện là Gia Ninh, Tân Xương, An Nhân, Trúc Lạc, Thạch Đê và Phong Khê. Năm 742, triều Đường lại đổi Phong Châu là Thừa Hoá, đến năm 758 đổi lại là Phong Châu. Phong Châu là vùng đất quanh ngã ba Hạc, phần dưới của các thung lũng sông Chảy, sông Thao, sông Đà. Theo Cựu Đường Thư quyển 41 thì triều Đường gọi vùng này là Phong Châu Hạ.

THUỶ PHỦ: Tên vùng đất nơi bố Lạc dẫn 50 con về miền sông nước ven bể. Thời kỳ đó vùng đất này bao gồm từ cảng Thành Đô Tứ Xuyên tới Quảng Tây Quảng Đông còn là biển cả mênh mông nên sử sách xưa gọi là Nam Hải. Từ trước tới nay chúng ta cứ nghĩ là Bố Lạc dẫn 50 con xuống nước là thuỷ phủ. Thế nhưng gần đây thạc sĩ Sử địa người Pháp là P. Gouron và J. Loubet, thạc sĩ văn chương đã xác nhận địa danh “ Thuỷ Phủ” ( Souifou) trong tác phẩm “ L’ Asie moins L’AsieRussia” Á Châu ngoịa trừ lãnh thổ Đông Nga năm 1920 được in trên tấm bản đồ Pacilic Osean. Thuỷ Phủ ngày xưa chính là cảng Thành Đô phủ Trùng Khánh tỉnh Tứ Xuyên bây giờ. Trên tấm bản đồ New International ATLAS of the world của Geographical Publishing Company ấn hành năm 1949 cũng có địa danh “ Thuỷ Phủ” là Suifu, hiện là cảng Thành Đô, phủ Trùng Khánh tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc bây giờ. Sự thật lịch sử này đã minh chứng hùng hồn tính hiện thực của huyền thoại Rồng Tiên.

Về sự tích Kinh Dương Vương, giáo sư Trần Đại Sĩ Giám Đốc Viện Pháp Hoa đã đến núi Thiên Đài tỉnh Hồ Nam để nghiên cứu thực tế biên giới cổ xưa của Việt tộc. Đền Thiên Đài nằm trên ngọn núi Thiên Đài cao 180 mét bên bờ sông Tương gần hồ Động Đình. Núi Thiên Đài nằm trong dãy Quế Dương tỉnh Hồ Nam. Tương truyền xưa kia là nơi Kinh Dương Vương lập đàn tế trời, hiện trong đền còn đôi câu đối khắc trên đá :

“ Thiên Đài đại đại phân Nam Bắc,
Lĩnh địa niên niên dữ Việt Thường”.

“ Đền trời mãi mãi phâm Nam Bắc,
Ngũ Lĩnh ngàn năm đất Việt Thường”.

Tương truyền thời Hai Bà Trưng, tướng Đào Hiển được giao trấn giữ tại đây để ngăn cản bước tiến, tiêu hao sinh lực quân Hán rồi rút quân. Thế nhưng Đào Hiển nhìn cảnh đất nước bị quân giặc xâm chiếm đã cùng hơn một ngàn tướng sĩ dùng đao quyết tử thủ cho đến người cuối cùng. Dân địa phương lập miếu thờ vị danh tướng đất Việt cùng tất cả anh hùng vô danh hi sinh bảo vệ đất nước. Trong miếu có câu đối :

“ Nhất kiếm Nam hồ kinh Vũ Đế,
Thiên đao Bắc lĩnh trấn Lưu Long”.


(6-7). Lê Mạnh Thát: Lục độ Tập kinh và Truyền thuyết khởi nguyên Dân tộc.

(8). H.Maspéro: La Chine Antique p 102 viết là Thiếu Điển nhưng cũng có sách viết là Thiếu Diễm. Các sử gia “Đại Hán” đều cho rằng Hoàng Đế khởi nguyên của Hán tộc. Tư mã Thiên trong Sử ký quyển I Ngũ Đế bản kỷ xem Hoàng Đế là quốc tổ Hán tộc. Đặc biệt không chép về Thần Nông. Sách Thế Bản viết : “Việt họ Mỵ, con Tước cùng Tổ với Sở, là hậu duệ của Chúc Dung. Chúc Dung chỉ là cách đọc ngược tên của Viêm Đế tức Đế Viêm”. Sách sử Trung Quốc viết là Viêm Đế, Hoàng Đế theo cú pháp Hán tự nhưng người Việt viết là Đế Viêm, Đế Hoàng, Đế Nghiêu, Đế Thuấn … Theo sách “ Sơn Hải Kinh” thì Chúc Dung thực ra là cháu 3 đời của Đế Viêm, đó chính là nhân vật Đế Minh trong truyện cổ tích họ Hồng Bàng. Tư Mã Thiên trong Sử Ký phần “ Câu Tiễn Thế gia” đã xác nhận Câu Tiễn là miêu duệ của vua Vũ tức là con thứ của Đế Thiếu Khang nhà Hạ, họ Hạ Hầu. Cổ sử Trung Quốc ghi năm Quí Tỵ 2.148 TDL, vua Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê và năm Quí Mão 2.085 TDL, vua Thiếu Khang nhà Hạ phong cho con thứ là Vô Dư ở đất Việt. Cổ thư Trung Hoa cũng chép là Hoàng Đế cưới vợ cho con ở đất Thục, đẻ ra con đầu lòng là Đế Cốc. Đế Cốc là cháu Đế Thiếu Hạo thuộc “ bái Điểu tộc” là tộc người thờ chim ( Âu Việt). Đế Nghiêu, Đế Thuấn đều là dòng dõi Thần Nông của Việt tộc vì thế các vua Sở đều nhận là hậu duệ của Hiên Viên Hoàng Đế.

(9). Khoahọcnet.: Theo Nguyen Nguyên @ khoahoc. Net : Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương.

(10). Kim Định: Việt Lý Tố nguyên, Triết lý cái Đình.

(11). Bùi văn Nguyên : Việt Nam và Cội nguồn Trăm họ tr 52.

(12). Bùi văn Nguyên : Sđd tr 30.

(13,14). Hoàng Thị Châu: Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua tên sông ở Việt Nam.

(15). Theo các nhà Tiền sử học thì Chủng Malaynesian thiên cư qua Cam Túc rồi vượt ngã ba sông Vị đến định cư ở Hà Nam, vùng sông Bộc mà cổ sử gọi là Bách Bộc tức Lạc bộ Trĩ. Cổ sử cũng ghi Rhuan Nguyễn là tên nước Nguyễn ở tỉnh Cam Túc, đến thế kỷ thứ nhất dời xuống Giang Nam (một số thi sĩ nổi tiếng như Nguyễn Triệu, Nguyễn Tịch, Nguyễn Hàm (1161) sau đó họ Nguyễn thiên cư xuống Việt Nam hội nhập với chi tộc Nguyễn đã định cư tại đây từ lâu n_ từ đợt thiên cư đầu tiên cách đây 6 ngàn năm.

(16). Thời đại Hùng Vương: Nước Văn Lang: bờ cõi tên nước và dân cư của Văn Tân, Nguyễn Linh, Lê Văn Lan, Nguyễn Đổng Chi và Hoàng Hưng. Từ Lang tiếng Hán bắt nguồn từ ngôn ngữ cổ Malaya hiện còn dùng ở Mã lai đó là T’LANG. T’ Lang, về sau biến thể thành làng trong tiếng Việt.

(17). Nước Văn Lang trong thời Hùng Vương của Nguyễn Linh.

(18). Hậu Hán Thư: Mã Viện truyện, Nhâm Diên truyện – Kết luận của Đào Duy Anh hoàn toàn sai lầm khi cho rằng Lạc Việt chỉ là nhóm Việt Tộc ở miền Bắc VN. Cái thiếu sót sai lầm của các sử gia VN ta là cứ sao y bản chánh Hán sử nên cứ cho là 15 bộ của quốc gia Văn Lang chỉ nằm trong phạm vi Bắc Việt Nam mà thôi. Thực tế, Lạc Việt trải rộng khắp Trung Nguyên . ĐDA chép là vua Sở sai Bạch Khơỉ đi ký kết Hiệp ước Liên minh với các nước Bách Việt thực ra là Ngô Khởi .

(19). La tất : Lộ Sử. Chữ Lạc trong sách “ Dật Chu Thư” viết là Lộ. Lộ nhân Đại trúc được sách “ Lã thị Xuân Thu” giải thích là Lạc Việt chi duẩn nghĩa là măg trúc của người Lạc Việt. Như vậy La tất viết Lộ Sử chính là sử Lạc Việt.

(20). Tư Mã Thiên: Bạch Khởi Vương tiền truyện.
(21). Nguyễn Đoàn Tuân: Truyện Kiều, Hồn tính Việt ngàn đời.

(22,23). Bùi văn Nguyên : Sđd tr 116.

(24). Theo Vũ Ngọc Khánh – Vua Hùng trong đời sống tâm linh người Việt. Một số địa phương như Vĩnh Phú, Hà Tây, Hải Hưng, Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Hà Tĩnh v.v… nhân dân không những tôn thờ Hùng Vương như Quốc Tổ mà người ta thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ làm Thần Thành Hoàng. Hàng năm từ ngày 18 đến 24 tháng giêng, làng mở hội nghênh tế cả ba: Cha, Con trai và con dâu, Phục rượu là từ cổ có nghĩa là rước nước có tế nữ quan đi theo kiệu của Âu Cơ .v.v…

(25). Dual unit – Theo Kim Định.


http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page
  Previous Topic Topic Next Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam © cadaotucngu.com Go To Top Of Page
This page was generated in 8.61 seconds. Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.05