Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Quê Ta
 Miền Nam
 Trà Vinh
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Previous Topic Topic Next Topic  

Linh Phuong
Moderator

USA
97 Posts

Posted - 03/06/2006 :  17:05:22  Show Profile  Reply with Quote
MỘT THỜI KỸ-NIỆM:
NHỮNG CÁI TẾT Ở TRÀ-VINH NGÀY TRƯỚC



TRỊNH HẢO TÂM

Trong những ngày Xuân nơi đất khách, hồi-tưỡng những cái Tết ngày nào ở quê-hương Trà-Vinh khiến lòng bồi-hồi luyến tiếc. Tết ngày xưa sao rộn-ràng, tưng-bừng, nao-nức, nhộn-nhịp, rất là vui. Giờ này tất cả đã trở thành kỹ-niệm, mỗi khi nhắc lại, những người Trà-Vinh xa xứ bâng-khuâng lưu luyến...

Cu kêu ba tiếng cu kêu,
Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè.
(Ca-dao)

PHỐ XÁ GẦN TẾT

Khi lúa đã gặt xong cũng là mùa chim cu tìm bạn, chúng gọi nhau tíu-tít ở các cánh đồng, cũng là lúc nông-dân Trà Vinh chuẫn bị ăn Tết. Ðầu tháng Chạp không khí đã rộn ràng trên phố xá chợ Trà-Vinh. Các tiệm sách như Nam-Cường, Ngọc-Minh, Nam-Huê, Kim Anh, Thanh-Tâm đã treo những tấm lịch màu sắc rực-rỡ, vui tươi in hình những thắng-cảnh miền Nam như Chợ Bến-Thành, Lăng Lê-Văn-Duyệt, nhà thờ Ðức-Bà hay những nghệ-sĩ cải-lương, danh ca tân nhạc được nhiều người mến mộ như Thanh-Nga, Kim-Cương, Thẫm-Thúy-Hằng, Túy-Hồng, Túy-Phượng, Kim-Vui, Kim-Tuyến...Lịch muôn màu, muôn vẽ, người nào cũng xinh, cô nào cũng đẹp. Ngoài lịch tháng khỗ lớn, còn lịch nhõ gở từng ngày như Lịch Tam-Tông-Miếu hay lịch sách của các tờ báo. Ngoài lịch, dân Trà-Vinh ăn Tết còn phải đọc báo Xuân nên các tiệm sách cũng bày la-liệt những tờ báo Xuân khổ lớn. Hình bìa báo Xuân cũng trình-bày đẹp-đẽ không thua gì lịch vì nhiều người mua báo Xuân cũng vì thích tấm hình bìa. Báo Xuân Sài-Gòn Mới và Phụ-Nữ Diễn Dàn của bà Bút-Trà đưa cả hình của ái-nữ là cô Kim-Châu làm hình bìa vì cô cũng là một nhà văn được nhiều người mến mộ.

Các dãy phố quanh chợ, các tiệm bazar như Tường-Ký, Kim-Chung, Dũ-Long, Triều-Hưng-Lợi, Công-Bình... ban đêm đốt đèn sáng rực. Hàng hóa được trưng bày nào là áo lạnh, áo thêu, đồng hồ treo tường hiệu ODO, đồng hồ đeo tay, radio xách tay, đèn pin, viết máy bôm mực, đèn ngủ, tượng thờ...Các tiệm bách-hóa khác bán hàng hóa thông-dụng hơn như Quãng-Dũ-Thành, Công-Hưng treo những tranh in tứ thời trên giấy dài hay tranh cổ-tích như Tấm Cám, Thạch Sanh Chém Chằng để các vùng quê người ta mua về dán trên vách đến khi vàng úa thì thay tranh khác. Ðồ trang hoàng trong những ngày Tết còn có những sợi bông giấy dúng như đờn accordeon tua-tụi, nhiều màu kết cờ những nước trên thế giới để treo trên trần nhà. Những tiệm này còn bán cờ tướng, cờ cá ngựa, bộ bầu cua cá cọp, pháo v.v...Sang qua những tiệm chạp phô, hàng xén như Nghĩa-Hưng-Long của ông Ban Ngô-Khương, La-Xương-Ký, Kê-Ký của Chú Cấy thì quang cảnh còn nhộn nhịp hơn nữa, đậu xanh, đậu đen, đường thẽ, đường cát, bột mì, bột bán, bột khoai, bún Tàu, hột dưa, chà là, mứt bí, mứt dừa đựng trong những thùng thiết, những bao bố tời để tận ra tới hàng ba. Những tiệm chạp-phô này thường là đại-lý bổ hàng xỉ từ Chợ Lớn nên họ phải làm luôn việc phân phối về các chợ quận, nên quang cảnh thật tấp nập, kẻ ra người vào, cân đo đong đếm, vác lên xe hàng, chất lên xe ba bánh. Thật là chộn-rộn, ì-xèo, đông vui, háo-hức! Người người chuẫn bị đón Xuân, nhà nhàlo ăn Tết!

Những tiệm bánh, tiệm rượu như Hiệp-Phong, Vĩnh-Xương, Minh-Lợi, Minh-Phát, những tiệm trà như Vinh-Phát hiệu con cua, Cẫm-Ký, bánh hộp, rượu ngoại quốc mắc tiền để đầy chật tủ. Những tiệm radio và sau này có thêm truyền-hình như Huỳnh-Ðịnh-Ký, Thanh-Quang, Phục-Hưng mở radio với âm-thanh thật lớn phát những bản nhạc Xuân như Ly Rượu Mừng, Ðón Xuân, Câu Chuyện Ðầu Năm...khiến cho không-khí càng thêm vẽ Tết. Các tiệm vải như Tường-Nguyên, Tín-Nguyên, Lưỡng-Phước, Lưu-Nhuận-Thái khách hàng chật tiệm để mua vãi về may hay đem đến những tiệm may để cắt những bộ Âu-phục vừa ý. Các tiệm may thật đắt khách, thợ may bận rộn suốt ngày, nhiều nơi phải đốt đèn sáng may đến một hai giờ khuya. Nhiều tiệm may đến hai mươi tháng Chạp là từ chối không nhận đồ may nữa. Những tiệm may gần chợ là các tiệm Hồng Huỳnh, Kim-Toàn, Minh-Vân, Văn-Minh...Trà-Vinh cũng có hai, ba tiệm đóng giày tập trung gần ngã tư tiệm radio Huỳnh-Ðịnh-Ký, gần Tết các tiệm này rất đắt khách không thua gì các tiệm may.

Sang đến các tiệm vàng, thường tập-trung xung quanh chợ như các tiệm Ngọc-Thành, Hiệp-Thành, Phước-Thành, Tín-Thành, Thuận-Quang, Kim-Cương, Kim-Huê, Việt-Hưng...nữ trang làm sẵn bằng vàng 18 trưng bày trong những tủ kiến, rọi đèn vàng hực, trông rất lộng-lẫy. Người ta sắm nữ trang trước đeo ăn Tết, sau là làm của vì vàng rất dễ bán mỗi khi túng hụt cần tiền.

Gần đến ngày Tết, khoảng 25 tháng Chạp trở đi các tiệm hớt tóc, uốn tóc rất đông khách vì ai cũng muốn có một mái tóc mới để đón mừng năm mới. Thường trong những ngày này hớt tóc cũng uốn tóc đều tăng giá nhưng không ai phàn nàn vì "một năm mới có một lần".

Phố-phường cận Tết người ta đi lại rất đông, trong các tiệm nước bán cà-phê, hũ-tíu cũng chật khách hàng. Những tiệm gần chợ là Túy-Hương, Hớn-Hồ, Lạc-Viên, Vĩnh-Lạc, ở bến xe đò là Ðông-Mỹ, Vinh-Lạc, Dân-Chúng. Gần rạp hát là Hồng-Lạc, xa hơn một đổi là Hồng-Hoa-Lệ. Buổi chiều các tiệc tất niên được tổ-chức ở các nhà hàng như A-Lý, Hương-Lan, quán nhậu Lai-Rai ở Tri-Tân, xe gắn máy dựng chật đường và người ta ăn uống rất tưng bừng, náo-nhiệt. Trước bến xe đò là quán cơm Ban-Mai, cơm bình-dân nhưng nấu rất ngon, quân-nhân, công-chức độc-thân thường ăn cơm tháng ở đây. Kế đó trước cửa Chùa Ông Bổn là một xe cháo trắng và những xe thịt phá-lấu, bò-viên, hương-vị rất thơm ngon.



BA ÐÊM CHỢ TẾT

Chợ đêm Tết luôn luôn nhóm 3 đêm, bắt đầu từ đêm 27, nếu năm nhuần không có 30 thì bắt đầu nhóm đêm 26. Trước ngày chợ đêm nhóm, nhà cầm quyền tỉnh đã cho vẽ những lằn vôi trắng ấn định chổ bày hàng và lối đi cũng như giăng đèn ở phía ngoài nhà lồng chợ cho sáng sủa.

Chợ Trà-Vinh có 3 nhà lồng, nhà lồng phía trên gần bồn-binh thì bán vãi. Những sạp vải trong chợ cố định, ban đêm nếu không bán người ta cất vải dưới sạp, khóa lại. Những sạp vải hay những gian hàng bán tạp-hóa, đường đậu, kim chỉ phía ngoài nhà lồng, ban đêm phải đẩy sạp về. Nơi chợ vải lại có một sạp cho mướn tiểu-thuyết của anh tên Tiếu. Nơi đây các tiểu-thuyết đường rừng của Sơn-Nam, xã-hội tinh-cãm của Bà Tùng-Long, Dương-Hà, Trọng- Nguyên, Chu-Tử, Duyên-Anh đều có hết. Nhiều người nằm đọc sách luôn tại chổ! Nhà lồng thứ hai bán thịt, nơi đây có những thớt thịt đặt trên cao cho vừa tay người bán và mỗi thớt được ngăn cách bằng lưới sắt, có lẽ để ngăn ngừa trộm thịt. Chợ này cũng bán luôn thịt chín như thịt heo quay, vịt quay, lạp-xưỡng. Chợ cuối cùng gần bờ sông là chợ cá. Chợ cá thì trống lỗng, không có quầy hay sạp gì hết. Người bán đựng cá trong rỗ hay thau nhôm và ban đêm chợ cá biến thành rạp chiếu bóng của ông Huỳnh-Ðịnh-Ký cũng có ghế ngồi đàng-hoàng. Phim thì chiếu những phim củ mà Sài-Gòn đã chiếu trước đó cả năm. Phim Âu Mỹ, Tàu, Ấn-Ðộ gì cũng có và cả phim Việt-Nam như phim "Phật Thích Ca Ðắc Ðạo" với tài-tử La-Thoại-Tân đóng vai Phật và phim "Lý-Chân-Tâm Anh Hùng...Cởi Củi"!

Du khách đến Trà-Vinh thường thấy những băng ngồi xi-măng đề chữ nhà thuốc Lâm-Thành-Ý tự Em Ba Ý đều muốn được xem nhà thuốc này to lớn thể nào mà quãng-cáo khắp Trà-Vinh. Nhà thuốc không to lớn, đồ-sộ như người ta tưỡng mà chỉ là một căn phố lụp-xụp bên hong chợ cá, bán đủ thứ hàng mà lại đốt đèn dầu leo-lét!

Bên ngoài 3 nhà lồng thì người ta bày bán đũ thứ nhưng cũng chia ra khu vực từng loại mặt hàng. Miếng đất tráng xi-măng có nền cao gần các tiệm vàng là các xe hủ-tíu, mì, cà-phê, nước đá. Trước chợ ban ngày bán bông, trái cây, ban đêm bán đồ ăn như bánh mì thịt, xá-xíu, phá-lấu, kem, xâm-bổ-lương, bánh giá, bánh bò, bánh tiêu, xà-cháo-quảy. Bên hong chợ ban ngày bán những món ăn hàng cho các bà nội-trợ như bún, chè, cháo, bánh canh, xôi, bắp nấu. Ban đêm thì để trống nhưng trong 3 đêm chợ Tết thì nơi đây bán rau cải, gà vịt, bầu bí, khoai bắp. Sau nhà lồng bán thịt là nơi bán đồ đan bằng tre như rỗ, thúng, nia, sàn, nôm cá, chiếu, chén bát và vật dụng nhà bếp.

Bên hong chợ cá trong những đêm chợ Tết là chợ dưa hấu vì gần bến sông. Dưa hấu Trà-Vinh được trồng miệt Ba-Ðộng, Long-Toàn, trái tròn có vỏ màu xanh đậm, ruột đỏ, bón bằng khô cá nên rất ngọt. Dưa hấu được chở lên chợ Trà-Vinh bằng ghe nên chợ dưa nằm gần bờ sông cho tiện bề chuyễn vận. Dưa hấu là một thứ không thể thiếu trong ba ngày Tết để chưng cúng trên bàn thờ ông bà. Dù cho có nghèo không tiền sắm Tết, người ta cũng phải mua một cặp dưa hấu để trên bán thờ.

Dọc bờ sông là chợ bông. Cũng giống như dưa hấu, bông cũng được chuyên-chỡ bằng ghe. Thường bông được trồng ở xóm ngoài Vàm, cách chợ chỉ vài ba cây-số nhưng cũng có những người trồng bông ở xa hơn, tận bên Bến Tre. Chợ bông rất tấp-nập vừa người mua cũng như người đi xem. Những tiệm buôn nhất là các tiệm vàng thường phải mua bông để trang hoàng cửa tiệm trong những ngày Tết. Hoa mắc nhất là những chậu mai vàng nở đúng trong ngày Tết, kế đến là thược-dược, cúc đại đóa có nhiều cánh, cây tắc có những trái chín vàng, những cây ớt kiễng đầy trái đỏ và rẽ nhất là bông giấy, bông vạn-thọ vì dễ trồng. Thanh-niên đi học Sài-gòn về ăn Tết hay đi từng nhóm với bạn bè vừa xem hoa Tết cũng vừa ngắm những bông hoa...biết nói, đó là những cô gái đi với cha mẹ lựa mua hoa hay chính những cô gái bán hoa.

Chợ đêm rất đông vui, náo nhiệt nhứt là những năm cho đốt pháo, tiếng pháo lẽ nổ đì-đùng. Các cô gái giựt mình la oai-oái còn các thanh-niên nghịch-ngợm cười thõa-thích. Người ta đi chợ suốt đêm, xe đò, xe lam 3 bánh chạy suốt sáng, chở người, chở hàng hóa từ các vùng quê lên chợ và ngược lại. Những năm trúng mùa lúa dân quê càng ăn Tết lớn, mua sắm càng nhiều.



TRÀ-VINH CHIỀU 30 TẾT

Sáng 30 Tết quang-cảnh đã có vẽ nhộn-nhịp, hối hã. Xe chạy đầy đường và bóp chuông, bóp còi inh-ỏi. Ai nấy đều hấp-tấp muốn xong việc đang làm để về nhà sớm để dọn-dẹp nhà cửa, sân vườn chuẩn bị nghi-thức Rước Ông Ba� và Cúng Giao-Thừa. Mười hai giờ trưa khi tiếng ốc-hụ phát ra từ Nhà Việc Làng Long-Ðức là mọi người buôn bán trong chợ hối-hả dọn-dẹp hàng hóa để về nhà. Những thầy phú-lít thổi tu-hít đốc thúc bạn hàng phải dọn cho nhanh để nhân-công hốt rác còn dọn dẹp. Rác thật là nhiều có cả những rau cãi, trái cây héo dập người bán bỏ lại ngoài chợ không muốn "chỡ củi về rừng". Dưa hấu và bông Tết nếu còn thì bán giá rất rẽ. Nhiều người ít tiền chờ đến trưa 30 để mua đồ Tết cho rẽ. Nhưng có những năm hàng ít mà người mua thì đông, những người chờ đến giờ chót mới mua, đành xách giõ không ra về!

Phố xá người ta thu dọn, rữa nhà, rữa cửa và bày biện bông hoa, bánh mứt, rượu trà trên bàn. Ðến chiều đường phố vắng lặng, thĩnh thoãng vài tiếng pháo nổ đì-đùng đâu đó. Ở bến xe đò, vài chuyến xe khách cuối năm đỗ khách xuống. Ðó là những người từ phương xa về ăn Tết muộn. Họ xách theo những túi quà để biếu người thân hay đôi khi chỉ là những ổ bánh mì làm quà cho lũ nhỏ. Ba giờ chiều, tiếng trống lân đã văng vẵng từ xóm Lò Heo. Hai ba đoàn lân xuất hành, dừng lại trước chùa Ông Bổn để lạy ba lạy để rồi tới dinh Ông Chánh Tỉnh múa ra mắt, chúc Tết Tỉnh-Trưởng sau đó trở về xóm Lò Heo.

Buổi chiều 30 Tết là một buổi chiều đoàn-tụ, những� đứa con đi làm ăn xa đã trở về ngồi quanh bếp lửa nấu bánh tét. Dưới ánh lửa hồng ấm áp, ông bà, cha mẹ, con cháu hàn huyên những mẫu chuyện vui buồn trong năm, nhắc nhở những kỹ-niệm gia-đình ngày nào.

Giờ giao-thừa đến, pháo nổ vang rền khắp mọi nơi, mùi trầm hương ngào-ngạt khắp không-gian. Trên bàn thờ gia-tiên khói bay nghi-ngút, người ta đang cúng giao-thừa, rước hương linh ông bà, cha mẹ trở về ăn Tết. Giờ giao-thừa cũng là thời-khắc người ta tin rằng là giờ bàn giao giữa con vật cầm tinh cho năm củ và năm mới.

Sau khi cúng giao-thừa xong, nhiều nhà giữ tục-lệ đi chùa để cầu Trời Phật phù-hộ cho năm mới an vui, may mắn. Những chùa như Phước-Hòa trên Cây Dầu Lớn, Chùa Long-Khánh gần chợ, chùa Lưỡng-Xuyên ở Thanh-Lệ, chùa Tịnh-Ðộ ở Long-Bình đông-đảo người đến hái lộc, xin xâm cho đến gần sáng.



MỒNG MỘT TẾT

Sáng Mồng Một Tết quang cảnh phố-xá vắng vẽ hơn ngày thường. Chợ búa không nhóm, bến xe trống trãi không một chiếc xe đò nào. Không khí thật yên-tịnh chỉ mùi nhang trầm tản-mác khắp nơi. Lâu lâu một tràng pháo nổ giòn. Khi nắng đã lên người ta bắt đầu ra đường để đi chúc Tết, mừng tuổi lẫn nhau. Ai cũng mặc quần áo mới, giầy mới, guốc mới. Ngoài đường tiếng guốc khõ trên mặt lộ nghe cồm cộp. Có những người quanh năm không mang guốc hay giày, bây giờ mang vào thấy đau chân nên tháo ra, xách trên tay đi cho thoãi mái. Con nít xúng xính trong bộ đồ mới còn thẵng nếp dẫn nhau ra chợ mua đồ ăn sáng.

Trong gia đình, con cháu mừng tuổi cha mẹ, ông bà. Mừng tuổi là dịp để con cháu biễu lộ sự vui mừng vì cha mẹ, ông bà được sống lâu. Ông bà, cha mẹ được con cháu mừng tuổi thì đáp lại bằng những món tiền mới đựng trong phong bao nhỏ màu đỏ gọi là "lì-xì". Nhờ những món tiền lì-xì này mà con cháu mới có dịp quây-quần với nhau để chơi "bầu cua cá cọp" hay bài cào thật là vui-nhộn suốt mấy ngày Tết. Ông bà lấy sự quây-quần, chơi đùa của con cháu làm niềm vui an-ủi tuổi già.

Ngoài đường người ta đi chúc Tết lẫn nhau, chúc Tết hàng xóm, láng-giềng cho có vẽ xã-giao, lịch-sự mặc dù ngày thường vì cạnh tranh nghề nghiệp không ưa nhau. Người ta chúc Tết người làm ơn, giúp đỡ cho mình, chúc Tết bà con họ hàng vai vế lớn hơn. Dân chúc Tết quan, quan nhõ chúc Tết quan lớn. Các ty sở trưỡng mặc đồ lớn, thắt cà-vạt, hẹn nhau vào chúc Tết quan Tỉnh Trưỡng.

Các chùa người ta đi cúng bái, cầu xin phước lộc thật đông. Tiếng chuông mõ, câu kinh, tiếng kệ hòa huyện với nhau như khúc nhạc trầm-bỗng. Nhà thờ giáo-dân đi lễ Mừng Tuổi Chúa lúc 8 giờ, sau đó ông Trùm đại-diện giáo-dân chúc Tết chasơ.� Trưa một chút cha sở lại đi thăm và chúc tết những giáo-hữu già cả, đau yếu. Nhà thờ Tin-Lành trên Cây Dầu Lớn mặc dù tín-hữu không đông lắm nhưng cũng tập-trung nghe giãng và hát thánh ca cho đến trưa.

Ngoài chợ khi mặt trời đứng bóng thì người ta đi rất đông. Các quán cà-phê, nước đá, xe mì, hủ-tíu đều chật người ngồi ăn có khi khách còn phải đứng chờ bàn trống. Gần các tiệm vàng, các sòng "bầu cua cá cọp" tụ tập trên vĩa hè ăn thua rất huyên náo. Các đoàn lân đến từng hiệu tiệm để múa chúc mừng gia-chủ đầu năm và được gia-chủ treo món tiền thưởng bằng những tờ giấy bạc mới ở trên cao kèm theo vài cọng rau xà-lách. Lân phải trèo lên một thân tre lớn và chắc để lên ngoặm tiền trong lúc ông địa đứng phía dưới tay phe phẫy quạt và chỉ món tiền sợ lân không thấy. Lúc lân múa đến hồi cao-điểm, gia chủ đốt vài tràng pháo, tiếng pháo nỗ dòn tan khiến cho lân múa càng hăng đúng với câu: "Lân gặp pháo, Rồng gặp mây". Pháo tốt phải là pháo nổ tiếng lớn và dòn, không lép, xác pháo phải tan thành từng mảnh nhỏ với sắc hồng ngập cả sân nhà.

Rạp hát bóng ở đường số 1, gần ngõ vô xóm Lò Heo, một ngày chiếu liên tục từ sáng đến khuya vẫn đầy rạp. Chiếu trong mấy ngày Tết không phải một phim mà 4, 5 phim xen kẽ với nhau. Nội dung phim nào khúc đầu cũng éo-le, gay-cấn, trái-ngang nhưng đến hồi kết cục phải là một đoạn kết có hậu, oán trả ơn đền, trùng-phùng hội-ngộ thì mới đắt khách. Ngày đầu năm khán giả tin rằng xem những vở tuồng vui, "happy ending" thì mới vui và hạnh-phúc suốt năm.

Ngày Tết nhân dịp gia-đình đoàn-tụ, người ta cũng thường tới các tiệm chụp-hình để chụp một bức ảnh gia-đình làm kỹ-niệm. Các cô gái độc-thân muốn ghi lại nét đẹp tuổi thanh-xuân cũng đến tiệm chụp hình, chụp một bức chân dung để tặng bạn bè, dán trong tập "Lưu Bút Ngày Xanh" với những dòng thật thà, cãm-động:

Thân nhau mới tặng ảnh này,
Dù cho ảnh có phai màu,
Xin đừng xé bỏ đau lòng bạn thân!

Những tiệm chụp hình thường phía trước có một tủ kiếng chưng những hình mẫu với những người đẹp xứ Trà-Vinh trong tư thế đứng ngồi đũ kiễu. Nào nét mặt u-buồn với cặp mắt nhìn xa-xăm. Nào miệng cười tươi như hoa hường mới nở. Kiểu nữ-sinh, áo dài trắng, tay nghiêng nghiêng nón, tay e ấp ôm cặp trước ngực. Kiểu thể-thao, áo thun, quần sọt, tay cầm vợt tennis, chân mang... guốc cao gót đứng nghiêng nghiêng. Kiểu nghệ-sĩ ôm đàn guitar. Những tiệm chụp hình kể từ hướng Tri-Tân trở ra chợ là các tiệm Tân-Tân, Hoa-Nam, Phương-Dung, Mỹ-Lai, Nam-Việt và Anh-Hà dưới nhà đèn.

Người ta còn rủ nhau đi chơi Xuân nhất là những nhóm thanh-niên, thiếu-nữ. Từng nhóm đi xe đạp, cởi xe gắn máy hay bao xe lam để lên Ao Bà Om chụp-hình, ăn mía, ăn bún nước lèo. Lên Càng-Long viếng chùa Nguyễn-Văn-Hảo, vô chợ Vũng-Liêm ăn bún nem chua. Khách du Xuân còn đi vườn dừa Thanh-Lệ hay ra Vàm hóng gió mát, đi Bến Ðáy, Ba-Ðộng tắm biển, mua dưa hấu, đuông chà-là...

Chiều tối trở về nhà, nếu ngán những món ăn hàng quán thì nhà nào trên bếp cũng đầy món ăn như thịt kho nước dừa ăn với dưa giá, dưa cải. Canh xà-bần cải nấu với giò heo, lòng heo. Ngoài ra còn bánh tét nhưn chuối, nhưn đậu, bánh ít nhưn đậu, nhưn dừa:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ,
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh

Người dân Trà-Vinh ăn Tết như vậy suốt 3 ngày. Sáng Mùng Bốn Tết chợ bắt đầu nhóm trở lại nhưng rất lưa thưa cho đến trưa thì cũng tan chợ vì người ta vẫn còn ăn Tết. Nhiều người ăn Tết kéo dài cho đến hết Mùng Mười hoặc ăn luôn nguyên tháng cho đúng câu:

Tháng Giêng là tháng ăn chơi,
Tháng Hai trồng đậu, tháng ba trồng cà...

Những cái Tết Trà-Vinh ngày trước, bây giờ đều trở thành kỹ-niệm. Kỹ-niệm nào cũng quý-báu và càng quý hơn nữa đối với những người Trà-Vinh xa xứ, vì vận nước phải ra đi trôi nổi trên xứ người. Nay ăn Tết ở hải-ngoại, nơi đây cũng đủ hết không thiếu món gì nhưng tất cả dường như nhạt nhẽo, không hương-vị, thiếu vắng một cái gì đó. Có lẻ thiếu tình nước, tình quê đã bao năm ấp-ủ chúng ta từ ngày còn nằm võng đong-đưa kẻo-kẹt trong những trưa hè.

Nhắc lại những kỹ-niệm, những hình bóng quê nhà với tâm-tình cùng đồng hương giữ thơm quê mẹ. Nhắn gởi lại thế-hệ con em rằng quê-hương Trà-Vinh là một nơi chốn rất đẹp, người dân rất chân tình, mộc-mạc. Dù có nỗi trôi chân trời góc biển nào. Dù có nói bằng ngôn-ngữ nào. Ðã gốc Trà-Vinh thì Trà-Vinh vẫn đợi chúng ta về...

TRỊNH HẢO TÂM

http://aihuutravinh.com/6_dacsan/dacsan-2003/page-2003-toiyeuquetoi.htm

Kính Chào
Linh Phượng

Edited by - Linh Phuong on 03/06/2006 17:14:51

Linh Phuong
Moderator

USA
97 Posts

Posted - 03/06/2006 :  17:14:28  Show Profile  Reply with Quote

TÔI YÊU QUÊ TÔI
Tạp ghi của Hai Quẹo

Trước hết Hai tui xin tự giới thiệu với bà con tui là dân Trà Vinh chính hiệu, quê quán gần Tha la mà xa Ba cụm, trên Cà tóc gần góc Bà môn, dưới Tân lập nằm cặp Ba sát, đã từng lội nát từ vùng cát xuống rừng, đi từ miệt vườn qua vùng ruộng rẫy, không học hành tới đâu vì làm biếng học, thích đi lang thang cho nên dấu chơn trẻ thơ của tui đã in dày mịt nhiều nơi trong tỉnh......

Trên cái "cơ sở" vững vàng như vậy tui dám chấp quý vị dùng sách giảng văn Phan Ngô hay cả bộ từ điển bách khoa để trả lời mấy câu hỏi sau đây.

Mẹ mong gã thiếp vìa giồng
Ăn bông bí luột dưa hường nấu canh
Ðất nào bằng đất Trà vinh
Cửu long hai nhánh ôm tình quê hương !
Ðố ai cắt nghĩa : Trà cuôn,
Trà kha, Trà cú, Trà rom....là gì ?
Ô Ðùng, Ô Chác, Ô Tre
Ô Răng, Ô lắc, Ô Rè....ở đâu ?
Giồng Chanh, Giồng Lớn, Giồng Cau
Giồng Trôm, Giồng Lức,...giồng nào không... mô ?
Cồn Cu, Cồn Trứng, Cồn Ngao,
Cồn Ông, Cồn Lợi cồn.....nào vọp to ?
Long Toàn, Long Hữu, Long Hòa
Long Bình, Long Thới, .... phải là rậm..." long" ?
Cầu nào chẳng bắt qua sông
Cầu Quan ? Cầu Cống ? Cầu Ngang ? Cầu Kè ??
Ðố ai quên được tình quê
Ðố ai viễn xứ không về Trà vinh?!

Trả lời được hết thảy mấy "câu đố" trên, bà con sẽ thấy nét lạ, nét hay của quê mình mà không xứ nào có được. Riêng hai tui xin mạo muội trình bày một số ý kiến lang bang không theo sách báo tài liệu nào cả, không dàn bài bố cục gì ráo, nhớ gì kể nấy, thấy sao nói vậy, và cũng thưa thiệt Hai tui dù tối ngày lo lái xe truck kiếm cơm, vừa mệt đừ vừa làm biếng đọc, cũng ráng góp vui bằng những chuyện rất là nhà quê và rất là xưa, cho nên có thể khác xa với thực tế bây giờ ở bên nhà, rủi mà có trật chổ nào thì xin bà con niệm tình tha thứ cho. Theo chiều hướng của nhóm sáng lập là vận dụng quá khứ để tập hợp cho hiện tại rồi từ đó có dự phóng tương lai, tui xin ũm hộ có chút kỷ niệm này, có còn hơn không . Và để cho dễ nắm, hai tui xin ngắt câu chuyện ra hai phần như sau đây

1- Những nét đặc biệt của Tràvinh.
2- Những mãnh tình quê.

1 Những nét đặc biệt của Tràvinh.

Về cái mặt vị trí, hình thể tổng quát, bạn sẽ cảm thấy rất dễ trả lời cho bất cứ ai nếu được hỏi Tràvinh nằm ở đâu, bởi vì ai mà không biết con sông MềKộng và Mékong delta nó ở chổ nào. Họ sẽ ngạc nhiên sung sướng khi phát giác ra đất Trà vinh mình nằm trên cù lao lớn nhứt phía tận cùng hạ lưu sông Cửu long, giáp với biển, được hai nhánh sông lớn nhứt ôm hai bên như hai cánh tay mẹ thân yêu ôm đứa con cưng vào lòng.

Còn nếu xét về địa hình địa vật thì mấy tên cồn, ô, giồng, cầu, trà, sóc...cũng đũ nói lên mấy đặc điểm sau đây:

Tràvinh có nhiều giồng và ruộng nhứt.

Giồng, cồn, động: 3 thứ này có cùng đầu ông là cồn cát duyên hãi, nhưng hổng biết tại làm sao người ta khi thì kêu con lương cát, khi thì cồn, khi thì giồng, khi thì động. Hai tui xin cắt nghĩa đùi như vầy: Cồn lài và dài, tương đối bằng phẵng, cây cối um tùm người ta kêu là giồng (vồng?). Cồn lồi và cụt, mô lên, cao hơn giồng, trụi lũi, rất ít cây chỉ có cát và cỏ ngắn le hoe thì kêu là động (đụn?), như Ba Ðộng chẳng hạn. Cồn lặn và chìm dưới nước thì vẫn gọi là cồn, ghe vượt biên vướng cồn bị công an bắt hết trơn. Cồn lồi lên khỏi mặt nước, cây cỏ tùm lum thì kêu là cù lao !? Mấy thứ này đều thuộc dòng họ cát, cát thôi là cát, mùa Tết cát bay dụi mắt, lên nóc nhà phủ đầy bánh tổ đang phơi, vô nhà làm nhám bàn thờ và bộ ván gõ; mùa nắng cát nóng chém bánh xe, làm phõng cẳng đi bộ, chôn hột vịt cũng chín; mùa mưa đường cát cởi xe êm hơn lộ cao su. Trà Vinh đi đâu cũng thấy giồng, giồng sắp lớp chen giửa đồng ruộng, từ trên máy bay nhìn xuống coi giống như bánh da lợn. Từ Giồng ké giáp Vĩnh long chạy ra tới biển, hầu hết làng xóm đều nằm trên giồng. Vì gốc là lươn cát nên giồng thường hẹp bề ngang, chỉ vài trăm thước, bề dài có cái tới 5, 10 cây số, giồng nào cũng có đường lộ đất nằm cặp một bên nối liền giồng này qua giồng khác, xe hơi chạy được, phía có đường xe kêu là mặt trước của giồng. Trên giồng trồng tre, ngay hàng thẳng lối, chia đất thành ô, gọi là vuông. Nhà cửa, nươn, rẩy đều nằm trong vuông, coi thật ấm cún.

Ruộng vườn Tràvinh.- Vườn ở đây là muốn nói tới các loại cây ăn trái chuyên canh chớ không phải trồng văn nghệ sau hè. Tràvinh có rất ít vườn, phần lớn tập trung ở vùng ven sông đất bùn như Cầu quan, Cầu kè và vùng sông Láng Thé tức Bãi xan, Dừa đỏ. Dù vậy cũng có đủ loại trái cây không thua Vỉnh long, Sa đéc. Khóm bưởi Cầu quan, quít cam Dừa đỏ. Dừa đặc Cầu kè, me chua TòaTỉnh.... Trái cây giồng thì phải kể vú sửa, mầng quân, trái cám còn kêu là trái quách, trái viết, trái táo, đào lộn hột, sao cô chê lê cu ma ...
Nhưng đây muốn nói tới cái điểm nổi cộm nhứt để quý vị và các bạn dễ nắm, đó là ruộng Trà vinh. Ruộng ở chổ sâu kêu là ruộng ô, ở chổ cao kêu là ruộng gò, chạy sát giồng gọi là ruộng rọc với đất cát pha rất hợp với dưa và bí. Trà vinh có nhiều ruộng nhứt, là chén cơm bầu sữa của cả nước. Mặc dù không có những cánh đồng liên tỉnh bao la như ở Sóc Trăng-Bạc liêu nhưng ruộng Trà vinh cũng rộng cò bay thẳng kiến. Mời bạn cởi xe Honda với tui đi thăm giồng coi ruộng cho biết. Bắt đầu từ Càng long đi xuống. Trước hết, rẽ trái chổ ngã ba Mỹ Huê để đi vô An Trường, con đường đất cát chạy bên phải con giồng dài tới nhà thờ, ấp 8, qua tới Tiểu cần, bạn nhìn phía trước sẽ thấy cánh đồng Tân an- Huyền hội rộng cở nào! Sau giồng cũng là ruộng mênh mông chạy từ đồng Cây cách giáp với Bình phú-Song lộc. Hầu hết giồng và ruộng Trà vinh đều chạy từ Tiền giang xuống Hậu giang, song song với bờ biển. Mấy con đường chánh cũng nối liền hai con sông theo hướng đó. Thứ nhứt là đường về?Tiểu cần-Cầu quan, dọc hai bên là những cánh đồng khá rộng nằm cặp Song lộc-Hiếu tữ, giồng Ô Ðùng Ô Chác Bến Cát Cầu tre tới Phong phú Phong Thạnh của đất Cầu kè. Ðường thứ hai từ tỉnh qua hướng Trốt đi Bắc Trang, An Quãng hữu. Cánh đồng trống lớn nhứt tỉnh nằm bên tay mặt, từ Ða lộc chạy tới Tập sơn, giáp ranh với Giồng Trôm-Hòa lạc, Giồng lức-Tập Ngãi, Ðầu Giồng,Trạm, Cầu cống, Tập sơn,Tiểu cần. Bên trái đường có đồng Thanh Mỹ-Nhị trường, tới Trạm thì thấy đồng Phước hưng-Long hiệp-Ðôn châu sẽ nói sau. Ðường thứ ba hướng Ðầu bờ, đi khỏi Mỹ hòa qua ngã ba Sân lang thì cong lại hình cánh cung nối liền Long Sơn, Ngũ lạc, Ðôn châu, Hàm giang, Thanh xuyên (Tràcú), Ngãi xuyên rồi tới ngã ba Tập sơn, nơi đây quẹo phải sẽ về Trà vinh. Từ Ðôn Châu, gần Bà Nhì có con lộ đá nối liền với Trạm Phước Hưng, xẻ đôi vùng đồng ruộng lớn chưa từng thấy, lơn?hơn đồng Tập Sơn, dài độ 30 cây, ngang hơn 20 cây, nhưng không hoàn toàn trống trãi vì bị các giồng nhỏ, giống cù lao giửa biển, rải rác ở giửa như Trà rom, Ba sát, Ba cụm, Trà sất, Ô Men, Long trường. Ði trên con đường này bạn sẽ thấy ruộng và ruộng, ruộng phẳng lì xa mút, không có sông, không có động, mùa mưa nước bằng thẳng như mặt kiến. Ngoài mấy con đường chính nói trên, còn hàng chục đường khác bạn có thể dùng xe hơi đi được hết. Ðường Ba Ðộng qua Ô lắc, Mỹ quý, Bà bèo, Long hữu qua đập Bến Giá rẽ phải đi Long vĩnh Nhà thờ. Ðường Bãi vàng. Ðường Hòa lạc vô Tập Ngãi. Ðường Bến Dừa Lưu Ngiệp Anh. Ðường Bình Phú vô Dừa Ðỏ... Nhưng có hai con đường cát liên xã điển hình. Thứ nhứt là đường Trà Cuôn, mời bạn sau khi ghé ăn hũ tiếu, bánh bao Út Bạch Lan xong thì lên xe đi sâu vô Bào cát, bạn cứ cặp bờ tre mà đi qua Chong văn, Chong so của Nhị Trường...đi hoài sẽ đụng xã Phước Hưng qua lộ Bà Ban hay vào Long hiệp qua ngã Long Trường, bạn sẽ thấy giồng sắp lớp chia cắt đồng thành từng vạt nhỏ. Thứ hai là từ Mỹ Hòa vô chùa Ô răng coi bói Ông lục xong, bạn cứ lần con đường đầy cát đi về hướng Tây qua Huyền Ðức, Bà Mốt với những động cát nhỏ hợp với khoai mì và cây đào, rồi tới Giồng Lớn, Giồng Chanh, Tha la... đi hoài sẽ xuyên qua các giồng xã Long hiệp, Hàm giang đổ ra Tỉnh lộ hình cánh cung mà tui đã nói hồi nảy, gần bên Trà Kha,Trà Cú, dẫn về lại Trà vinh. Sống ở xứ ruộng như vậy mà nghe kêu ơi ới : Với sức người sỏi đá cũng thành cơm, thì bạn có cảm giác gì ?! Cái vụ đó hổng có ở Trà Vinh. Không cần sức người gì ráo cũng có gạo. Các bạn có thấy mấy đám lúa rài, lúa xạ hông, chỉ cần dọn cỏ sơ sơ và dậm thêm mấy chổ trống cuối mùa cũng có cơm, và nếu cần thì dùng máy chớ đâu phí sức dân quá vậy.

Nói tóm lại có đi thì bạn mới thấy ruộng, giồng Trà Vinh mình nhiều vô số kể, nhiều hơn Bến Tre, đất giồng nhuần nhuyễn, không có rừng chen lấn, không có chổ bỏ hoang, dân cư rãi đều khắp, cuộc sống trù mật. Vậy Mẹ mong gã thiếp về giồng tức là lấy chồng con trai Trà Vinh, chắc mẫm rồi, không còn chổ nào khác. Vì đất đai như vậy cho nên Tràvinh, ngoại trừ vùng vườn, chổ nào cũng trồng dưa được hết, không cứ ở Ba Ðộng. Tân an, Ða lộc, Nhị trường.. trồng dưa hấu rất tốt. Chuyện trồng dưa rất dài dòng, bửa nào rãnh Hai tui sẽ kể cho bạn nghe công việc đó nó cũng công phu vất vả lắm. Ðây tui muốn nói vìa trái dưa hường. Dưa hấu chính là đặc sản của Trà vinh. Dưa trồng mùa khô, dưới ruộng đất im, sau khi gặt xong, vì trên đất giồng mình trồng khoai lang. Mỗi dây dưa chỉ chừa lại 2 trái, dưỡng cho lớn, những trái ra sau ở ngọn hoặc chèo phải lặt bỏ, để dành phân cho dưa mẹ. Những trái non vạc bỏ này có trái chín hồm hồm ruột đỏ hường hường, kêu là dưa hường. Lạ cái là kể cả mấy trái nhỏ bằng trái quít, trái cam, ruột xanh non èo, gộp với trái bự bằng trái quách, trái dừa khô, lớn nhỏ sống chín gì cũng được gọi là dưa hường ráo trọi. Bí rợ cũng được trồng và săn sóc y như dưa hấu. Trái bí non vạc bỏ, đem về nấu độn cho heo ăn. Bông bí, đọt bí luột thơm thơm, ngọt ngọt, ngon chưa có rau nào bằng. Dưa hường nấu canh với tép bầm hoặc cá rĩa cũng không có bầu bí nào sánh kịp. Mấy ngày Tết, dưa hường kho với cá lóc khứa khoanh bự bự hay cá rô mề bằng bàn tay úp sẽ đẩy thịt mỡ qua một bên. Dưa hường bẻ nhiều đem vìa muối trong lu trong khạp, ngon hơn dưa leo dưa chuột, để dành ăn suốt mùa mưa. Ðất Trà vinh hợp với dưa, nếu trồng có kế hoạch, tăng thêm diện tích, dưa Trà vinh có thể "xuất khẩu" cho cả nước, ra tới Hà nội.

Vậy rõ ràng là hai câu ca dao hơi lạc vận nói trên là của Trà Vinh, do dân quê thứ thiệt đặt ra, và nó phải được nhìn theo con mắt bình dân chứ không theo sách vỡ hàn lâm viện. Không thể nói Mẹ mong gã thiếp về vườn (để gieo vần cho chữ hường). Và cũng hổng phải Ăn bông bí luột dưa hồng nấu canh (để cho ăn vần với chữ giồng). Hai tui mạo muội xin lạm bàn thêm chữ vìa trong câu 1. Giọng nói của dân Nam nói chung, dân Trà Vinh nói riêng, nghe nó khô rom, gọn hơ, tròn vo như giọng Mỹ nói tiếng Anh vậy, không xẹp lép ở đầu lưởi ngoài môi, không dẽo nhẹo xì xèo vướng dầu mở của giọng Quảng Ðông. Như cái kiểu : ông trjời, anh dzũng, ăn trjưa chjưa, con trjâu ăn rjơm trjong chjuồng...Cho nên không thể có mấy tiếng đi dzìa hay dze? đi dzo?thấy dzậy mà không phải dzậy vì đây là sự nhái giọng một cách thiếu thông minh của mấy tay nhà báo lá cải, ham ăn ham nói. Các bạn cũng biết và được thầy dạy kỹ: vìa đọc là biìa, về = biề, vào = biào...Dân Vĩnh Long, Bến tre, Mỹ tho và Út Trà Ôn, Thành Ðược nói, ca đều phát âm y chang như vậy. Nghe có hơi hướm giọng Fải Fố xưa xưa !?

Trà Vinh là xứ chùa tháp ?

So với Sóc Trăng, Rạch Giá, Trà Vinh mình có nhiều chùa nhứt, coi như là vùng đất Phật, nhưng bị bỏ quên, bởi sự hờ hững của báo chí và của chính đồng bào quê mình? Hai tui không đếm được con số chính xác, nói số trăm thì còn ít, biểu có cả ngàn thì hơi nhiều, nhưng hai tui dám cam đoan là hết thảy có trên 300 cái. Nội cái châu vi Tỉnh lỵ không cũng có hơn chục cái. Nè chùa Ông Mẹc, chùa Phướng, chùa Kỳ la, Ðầu bờ, chùa Mới Tri tân ở đường lò heo, chùa Sóc Cục, chùa Bà Om, chùa Nguyệt Hóa, Sum bua, Hòa lạc, Mặc Dồn, chùa Hang, chùa Tầm Phương...Tất cả chùa đều được thiết kế và kiến trúc giống nhau, nằm trong khu rừng dầu và sao âm u tịch mịch nhưng đẹp không thua mấy cái national park xứ người. Khu chùa thường chia ra 3 phần : Phật Ðiện (Prah Vơhia), khu nhà ngủ và hội trường. Nhiều chùa có trường học và khu tịnh tâm gồm những dãy chòi cá nhân theo lối nhà sàn cho người già đi thiếp (thiềng ) . Có chùa xây thêm cái bảo tháp xa xa cháh điện, thật cao, vượt lên cao coi giống tháp chuông nhà thờ. Phật điện hay Chánh điện là công trình kiến trúc công phu, mỹ thuật, đẹp đẽ uy nghi nhứt mà mọi người thích chụp hình. Chánh điện nằm trên nền cao xây gạch hay đá. Bước vào Chánh điện sẽ thấy hai hàng cột to, tròn, cao ngút, đen bóng như cột đình, hai bên tường trình bày tranh, hình, tượng đúc hoặc điêu khắc tinh vi với nét nghệ thuật cao. Cuối Chánh điện có bục lớn nơi tọa thiềng của tượng đức Phật Tổ thếp vàng vĩ đại, cao gần tới nóc. Phía sau lưng Phật có thêm bục khác trên đó trưng bày vô số tượng Phật lớn nhỏ, đủ các vị, bằng đồng hay sành, do Phật tữ cúng vào những dịp làm phước dâng bông (He Takhanh), có nhiều tượng đồng rất xưa, những cổ vật vô giá.

Sau cùng là nơi gởi cốt tro chứa trong hũ hay thố, ký linh an vị của tổ tiên dân sóc.

Khu thứ hai là nhà ngủ, nghỉ ngơi của ông lục, dài, rộng, ngăn nhiều phòng, cất theo lối nhà sàn. Khu thứ ba cũng là nhà sàn, cao ráo, rộng nhứt, có nhà bếp trệt bên cạnh, thường là nơi tập họp dùng cơm tụng kinh của lục, khi có lễ thì biến thành hội trường đủ chổ cho Phật tử tham dự, tất cả ngồi trệt trên sàn trãi chiếu bông sặc sỡ. Vì chùa là nơi yên tĩnh và an bình với rừng cây mát mẽ cho nên nhiều chùa có chim ở, giống như tòa HC Tỉnh thuở nào. Trước đây hai tui biết có 2 cái chúa chim : một ở Tắc Hố (Tưk hô) Long sơn Cầu Ngang và cái nửa là chùa Cốc La (Kok Khla) ở Ngãi Xuyên Trà Cú. Còn chùa dơi cũng có 2 cái, chùa Hang là một và cái nửa là chùa Việt nằm ở đường rẽ xuống Bến Ðáy (Mỹlong) Cầu ngang.

Có thể nói một trăm phần trăm người Miên theo đạo Phật. Ðầu sóc nào cũng có chùa. Thanh niên người nào tới 18 tuổi cũng phải cạo đầu vô chùa tu một thời gian, như đi quân dịch, để học hành, tu tập ít nhứt 2 năm, thường thì phải tu thêm cho tới 21 tuổi, năm chót coi như phần đền đáp công cha nghĩa mẹ, xong có thể sất (tu xuất) về cưới vợ, hoặc ở chùa lâu hơn hay tu suốt đời là tùy ý. Ðạo Phật ở Trà Vinh đã thấm nhuầm vô đất, nhuộm đầy cỏ cây, ăn tới xương cốt con người, bàng bạc trong tên làng tên tỉnh. Nói khác đi Trà Vinh là xứ Phật, là hòn ngọc chưa gọt dũa, là kho tàng văn hóa và cổ vật bị quên. Hồi đó...xưa lắm rồi khi những người hợp lực đào cái ao để lấy đất đắp nền chùa, đào tới nước, bổng thấy trồi lên một tượng Phật nhỏ, vội thĩnh về chùa đầu tiên để thờ (chùa Ông Mẹc?). Phật, tiếng Khmer kêu là Prah hay Praeh. Cái hồ cái ao gọi là Prapăng. Người ta đặt tên cho cái nơi khai sanh của tỉnh, cái nôi đạo Phật nhỏ bé ở dưới này là Prah Prapăng. Có người từng phiên âm là Brắc Bra băng. Người Khmer Nam vang, tự cho là nguyên gốc thuộc vùng trên (Khmer lơh) gọi người Miên mình là miền dưới ( Khmer krôm) , kể từ xưa hồi năm lâu lắm lắm cho đến bây giờ thì họ gọi Trà vinh bằng cái tên giông giống Prah Brapăng, là Prah Tropêng, hổng tin nếu có người Campuchia nào hỏi bạn ở Khét na ( Tỉnh nào), bạn trả lời tui ở khét Prah Tropêng thì họ ồ, biết ngay, ông là Khmer Krôm!. Hai chữ trên có nghỉa như sau: Prah là Phật, như đã nói. Tropêng là măng, mầm non. Xin nhờ các bạn dịch dùm chữ Prah Tropêng này cho nó hay ho và êm tai. Từ cái nghỉa đó, mình thấy rõ Trà vinh là cái đuôi của Angko Wott, ( có nhiều học giả thầy chú phiên âm sai, thành ra Angkor Watt, hỏi thử Thầy Chệch thì biết) tức Ðế Thiên Ðế Thích. Thêm điều nửa là cách phát âm chữ Prah Tropêng của người Khmer krôm mình trại trại ra thành Prah Trapăng, thay vì Tropêng. Hai tiếng Brapăng và Trapăng có âm na ná như vậy, hay chính tiếng Trapăng thôi, đã được mấy ông Tây phiên âm, viết theo mẫu tự la tinh, thành Travinh ( phát âm là tra veng hay tra vang). Người Việt thời gian Tây thuộc lấy cái âm này mà viết theo vần Quốc ngữ non nớt thành Trà Vang, bỏ bớt mất của người ta chữ Prah. Sau cùng thấy chữ Travinh nguyên si của Tây coi bộ được hơn, bèn kêu tỉnh nhà là Tra?Vinh (bỏ thêm dấu huyền lên chữ Tra cho ra chữ Việt). Bị ông Diệm đổi thành Vĩnh Bình từ năm 58, cắt mất Trà Ôn và Vũng Liêm chia cho Vĩnh Long. Sau 75 biến thành thị trấn ( mà CM gọi là Thị xã ?!) của tỉnh Cữu Long. Cuối thập niên 80 thì của César đã trả lại César.Trà Vinh đã ở trong máu của chúng ta. Xin mở dấu ngẹo nhỏ là mấy cha nội làm ơn đừng đặt tên cải lương, đổi tên mới cho xã ấp của Tràvinh nửa, làm đau lòng cò con lắm. Giả thuyết trên đây là do tui nói chớ không phải sách nói, tui học thiệt ngoài đời chớ không học giả, nghe sao nói vậy mà tui tin là trúng hơn mọi sách vỡ. Còn nhiều nhiều tiếng nửa, tên làng, tên ấp, tên giồng.. mang cái âm lạ lạ hay hay, muốn biết gốc, muốn hiểu nghĩa thì hai tui biết, chỉ có thầy Kiên Chệch mới có đủ khả năng và tư cách giải nghĩa giúp chúng ta. Nói gút lại, Trà Vinh là xứ Phật từ nguyên thủy, với những ngôi chùa xưa hơn Huế, là kho tàng văn hóa và nghệ thuật cá biệt của quốc gia và của quốc tế. Xin đừng đem niềm tin đó, tình cảm này đem rao đem bán, kiếm lợi riêng, cho khách du lịch . Mong sao những ngôi chùa không chỉ được nhìn để giải trí, chụp hình đem khoe, mà cần được coi như biểu tượng của đời sống vật chất và tâm linh phong phú của đồng bào Miên, cần phải được trân quý tìm hiểu, cảm thông nhiều hơn, góp sức bảo tồn như báo vật của chính mỗi người chúng ta.

Trà Vinh là xứ Ða văn hóa.

Sự pha trộn, tổng hợp văn hóa thể hiện qua chũng tộc, màu da, giọng nói, thức ăn và cách sinh hoạt hằng ngày. Cái đầu óc quan liêu, độc tài, tộc trưỡng cố hửu của dân ta bị nhạt nhòa đâu mất. Chỉ thấy có tinh thần bao dung, cởi mở, hòa hợp...Trà vinh có đầu gà đít vịt, đầu rồng đít tôm, và đôi khi có cả 3 dòng máu hòa hợp. Ở nhà quê, hai tui ăn tết 3 lần : Tết Tây, Tết ta và Tết Miên vào tháng 4 dl. Ngoại trừ tết dl, còn lại Tết nào tui cũng ăn bánh tét mệt nghỉ. Ai biểu người Miên là thiểu số ở Trà vinh thì tui cự ngay. Theo như cái viện Gallup cá nhân tui, quan sát tại chổ, thì đồng bào Miên chiếm đại đa số. Nếu theo văn khố của Tỉnh Trà vinh vào thập niên 60 thì đồng bào Khmer chiếm 65% dân số tỉnh. Người nào muốn hạ thấp con số đó tức là có dụng ý mờ ám. Các bạn cứ đếm số chùa thì biết số Phật tư.?Người Miên rất giàu, trước đây ruộng đất phần lớn do họ làm chủ. Họ cũng rất thông minh, hiền lành, ngoài những nhân vật nổi tiếng như Sơn Sann, Sơn Ngọc Thành.., hồi thời Sihanouk, có lắm quan chức Cambodge( sau này kêu là Campuchia) cấp bộ đi xe huê kỳ từ Phnom Pênh về thăm quê tận Trà cú. Ðồng bào Việt thì phần lớn tập trung ở tỉnh thành và một số vùng có nhiều long, vì tổ tiên mình là đó, chẳng hạn như Long Thới, Nhị long và nhứt là Long Toàn. Ðồng bào gốc Hoa, thường là người Quảng, đa số thích ở chợ để mua bán, chỉ có số ít người Tiều ở vùng quê làm ruộng rẩy và buôn bán. Chính nhờ người Triều Châu (Tiều), Phúc Kiến (Hẹ) mà Trà vinh có lắm đầu gà đít vịt. Người Việt là kẻ đến sau trên mảnh đất cổ này cho nên thường cặp bến và tập trung gần biển, sông, phấn đấu khai hoang lập ấp, rồi từ từ thẩm thấu sâu vô đất liền sống chung đụng với dân bản xứ. Tất cả 3 sắc dân đã sống chung hài hòa mà không thấy ở đâu có được. Cả 3 sắc dân học hỏi, trao đổi và ảnh hưởng lẩn nhau, tạo cho Trà Vinh có nét văn hóa đặc biệt. Ta học được bánh tét, cốm dẹp, bún nước lèo, mắm bò hóc, mấm tép chua, canh xiêm lo...mà ít biết phở, bánh chưng, bánh dày, bánh cuốn chả lụa...Ta bắt chước cách làm ruộng, cày, bừa, trục, gặt lúa bằng vòng hái chữ S, chở lúa bằng cộ, đạp lúa trên bã bằng trâu bò thay vì đập ngoài đồng như ở Long an, Mỹ Tho, giả gạo cối đạp thay vì chày vọt chày mổ. Ta ăn hũ tiếu Trà vinh, khác xa hũ tiếu Sàigòn. Cá lóc nướng trui, gà xé phai, cá kèo kho gợt, cua rang muối (nguyên con).. sao mà nó chắc nịch chất tươi chất bổ tự nhiên mà đơn giản, giản đơn quá! Về ngôn ngữ, có người kêu thân nhân bằng hia, chế, củ, kiểm, ý, tĩa...hay nói: mần công chuyện mình ên, phải làm rụp rụp, hổng kịp thở.

Hổng biết sao dân Trà vinh mình có nhiều cái hay quá vậy.Tui đã đoán mò như vầy. Người Việt Trà vinh thuộc gốc giang hồ tứ chiến, có tinh thần cách mạng một cây, có lòng hào hiệp số một, đã từng làm cách mạng phò ngay diệt ác, thắng làm vua thua làm giặc chạy vìa đây tị nạn chánh trị, rồi từ đó yêu đất yêu nhà thiệt tình chưa ai bằng, hăng hái bão vệ giang sang, đánh Tây rất giỏi mà đánh Mỹ cũng hay nhưng...sẽ nói thêm ở đằng sau. Người Việt Trà vinh cần cù hết mực, như miệt cồn, dân mình làm đủ nghề : đánh cá, làm muối, làm rừng, chầm lá, làm ruộng, thủ công đan đát và nhứt là làm rẩy để dân tỉnh thành biết tiếng dưa bí Long Toàn. Trong khi đó dân giồng ỷ lại vào ruộng lúa nên ít phấn đấu hơn, ít ai coi việc học là con đường mưu sinh tốt nhứt như dân đàng ngoài. Nhìn chung dân Trà Vinh không thích làm quan, không ham nổi, không trịch thượng kiêu căng, không màu mè lễ nghi, thật thà chân chất đi đâu cũng được người thương, dễ bị giỡn mặt, nhưng khi nổi cơn anh hùng ruộng, cao bồi vườn lên thì coi chừng. Dầu vậy đầu óc dân mình luôn mở rộng ra như cửa sông Cổ Chiên, vàm Bách sắc, khoáng đạt ôn hòa như đồng lúa xanh bao la, bát ngát. Tinh thần khai phóng và tánh dân chủ hòa đồng đã có từ thời Trương Vĩnh Ký, tiếp nối là Ông Ðạo Dừa, Hồ hữu Tường.... Gần đây và hiện giờ, người Trà vinh nói riêng, người Cữu long nói chung đã làm gì cho quê hương. Các bạn nhìn coi những nhân vật nào đã có công cỡi trói bớt cho dân tộc mình, dù chỉ trong phạm vi hay mức độ nào đó. Và khỏi bàn thêm, dân ở đâu có truyền thống độc tài nhứt, quá đổi tàn ác với dân ta, nhứt là những người đứng đầu nước hoặc đầu đãng, nhìn lại lịch sử cận đại thì thấy hết trọi. Gút lại, chính nhờ cái đất của Phật, nước của Trời, người của lòng Nhân mà Trà Vinh có được nền văn hóa tổng hợp hài hòa như vậy. Ðáng hảnh diện thay, đàng trong xa lắc, sâu thẳm vẫn còn lắm điều bí mật và mới lạ, một nền văn hóa văn minh miệt vườn miệt giồng non nớt đã dẫn cụ già nghìn năm văn vật đi theo sau lưng.

2 Những mảnh tình quê.

Chính nhờ sống ở cái đất mới như vậy mà hai tui cũng bị lây. Tui yêu quê tui không phải qua tiếng sáo diều chiều làng ta, mái tranh nghèo bên bờ đe? cây đa đầu đình...

Tui cũng thương quê tui, yêu thương tới tận xương tủy tiếng lưởi văn con thững đêm khuya, tầm tư tích tư trên vòm trời xuân có trăng sao vằng vặc, thĩnh thoảng đệm mấy tràng họach te te, ru hồn tuổi thơ tui mềm như cọng bún; hoặc tiếng rơi lộp độp đục ngừ trên mái lá của những giọt mưa đọng muộn trên ngọn tre, pha lẫn chút kẻo kẹt lao xao chuyễn mình của cành lá lan xa. Tui yêu tới muốn đứt ruột cúm núm kêu chiều về giửa đồng ruộng tháng 7 tháng 8 xanh tươi màu lúa. Tui yêu ểnh ương, ếch nhái ru mưa, trùm mền co rút. Tui yêu mái lá rùng mình thở hù hù trong gió đông chờ Tết...Và nói thiệt đừng cười nghen, tui cũng yêu bún nước lèo của Bé Hai, Ba, Tư,... chứ chưa biết thưởng thức phở; cua ốc đầy đồng ngập ruộng mà có mấy ai biết và yêu bún ốc, bún riêu. Tui yêu bánh bao Hớn Hồ, Ðông Mỹ, hũ tiếu Ken Ký, Vinh lạc. Tôi yêu đồng bào Miên của tui. Tui yêu tiếng trống ngũ âm tùng tung trong lễ làm phước dâng bông vô chùa. Tui mê dù kê, thích vũ cộng đồng theo điệu làm thônn giửa sân khoáng đạt. Tui yêu các bạn và bà con hàng xóm...chứ làm sao tưỡng tượng cho ra sáo diều, mái tranh, cây da đầu đình hay chùa một cột tí hon... Bởi vậy bạn Trà Vinh tui có làm văn nghệ thì xin đừng nói tới mái tranh, hoặc trông bánh chưn chờ trời sáng, hay chết bên dòng sông Danube, vì tui sợ nó thua mùi ba khía, và nói theo thầy Bữu Triết thầy Tường Văn thì đó là văn nghệ vong thân, làm dáng. Trà Vinh làm gì có mấy thứ đó, cha nội. Còn bánh tét nếp, bánh tét cốm dẹp Trà vinh ai mà hổng biết, nhứt là bánh tét Tri Tân, dám bán lên Sàigòn lận. Ðố bạn tìm ra cái bánh chưn, bánh dày. Nhà cửa, không nhà ngói thì là nhà lá, cột tre hay cột dầu lợp lá, vách lá hay ván. Trà Vinh là xứ cây tre và dừa nước, cây dầu, cây sao, chớ làm sao có mái tranh vách đất một gian...

Bây giờ, xin phép bà con và quý vị, tui dành phần sau cùng nói chuyện riêng với những bạn đồng song đồng môn của tui, quý vị nào chưa buồn ngủ thì cứ tiếp tục đọc cho vui. Các bạn ơi, chúng ta đã may mắn lớn lên trong thời điểm và hoàn cảnh yên bình nhứt của xứ sở. Chúng ta được xã hội tạo cho những cơ hội khá đồng đều, giàu nghèo không kể, bán đậu phọng rang hay cà rem cây không cần biết, tất cả được học hành và chúng ta đã chăm chỉ học hành một cách vô tư. Kết quả, tỉnh nhà đã có một lớp đông đão nhân tài mà trước đó cũng như sau này tìm không ra. Nhưng rồi, giống y chuyện Tái Ông thất mã. Học thì phải hành, phải đi làm theo cái lẽ đương nhiên. Nhưng mà việc làm càng quan trọng thì càng tội nặng.?! Càng học cao thì ở tù càng lâu! Tại sao? Ai yêu quê hương hơn ai? Thì ra, tự cho mình ái quốc, giả thiệt không cần bàn mà yêu trật lất thì tội cho người ta biết mấy, vì phương tiện chẳng biện mimh cho cứu cánh và cứu cánh còn tệ hơn phương tiện thì cái nào biện minh cho cái nào hỉ. Thì ra, nạn nội xăm nó còn nhiều tàn khóc và oan khiên hơn bị ngoại xăm hỉ. Do đó Hai tui ũm hộ việc khuyến khích con em học hành hăng lên, không cần học để làm quan, nhưng thay vì chú trọng đến kỷ sư, bác sỉ, cần phải học nhiều về chánh trị, luật pháp và kinh tế để ăn nói với người ta. Hai tui rất cảm động thấy Hội Ðồng Hương Trà Vinh hình thành , nhứt là khi nhận được danh sách do Hội có công sưu tầm gởi qua, đọc tên bạn cũ mà bồi hồi, bèn làm thơ con cóc sau đây :

Gặp mầy tao ngỡ chiêm bao,
Gặp mầy bổng thấy trăng sao ngọc ngà
Gặp mầy tao tưỡng gặp ma
Từ trong mộ tối chui ra hồi nào
Tên mày chẳng phải mủi dao
Gọi tên mầy thấy thốn đau... đáy lòng.
Gặp mầy vừa tủi vừa mừng
Bầy chim lạc tổ xa rừng đã lâu.
Gặp mầy, tao lại gặp tao.
Tao moi kỷ niệm, tao đào tuổi thơ.
Gặp mầy, nhớ mẹ nhớ cha,
Gặp mầy, thương nhớ quê nhà sao đâu ! /.

Ừ, phải rồi, chính nhờ thấy cái tên tụi mày mà tiềm thức tao làm việc mấy đêm liền. Và ký ức đã cung cấp cho tao cả bầu trời thơ ấu. Trà vinh có thời kỳ trường mọc lên như nấm, đào tạo những người... tù tương lai cho Xã hội Chũ nghĩa. Trường Thầy Năm Bính, Trường ông Chưỡng, Trường Ông Trần Trung Tâm, trường Ông Dần, Trường Nguyễn quang Anh, trường Thánh Gioan, Trần Trung Tiên, Long Ðức, Quang Trung (ở Thanh Lệ). Trường Quảng Ðông, trường Trung Hue. Về thầy thì có một số thầy ở xa tới như Lam Giang, Phan Quán, Phan Xứng, Thầy Trụ dạy Anh văn, Thầy Trí chồng Kim Ngôn bóng bàn, Nguyễ tinh Tú...và lực lượng hùng hậu gốc tỉnh nhà : Ông ngoại Sắc, thầy Vạn Pháp văn, thầy Phụng, cô Ðẹp, thầy Quới, thấy Xương, thầy Thuận, thầy Thế, cô Lời, cô Tiếng, Mỹ Ngọc, Văn công Thơm, thầy Tố ( Pháp văn), thầy Vinh ban nhạc, cô Gấm ban vũ, thầy Thảo thể thao, thầy Bé Võ Bé Lâm, thầy Quang solex, thầy Diệp vespa, thầy Nhơn francais, thầy Hợi văn nghệ, rồi tới thầy Ðê cô Cẫm, thầy Khoa, thầy Nhựt, thầy Liêm, thầy Phan, thầy Bữu 2 thầy, vân vân..., và có một ông thầy mà tui không dám nhắc tên sợ phái nữ buồn, đó là thầy H. Thời đó phong trào thể thao, văn nghệ phát triển mạnh chưa từng. Ðội banh nhà trường có những danh tướng như Linh, Kỉnh, Huệ Ðào, Huệ móm, Phong, Hiếu, Nghĩa.. Ðôi tỉnh có gul Thân, các cầu thủ Văn Ngà, văn Lắm, ba Ðống, ba Ðốc, Phẫm CN, Lộ TC, Samouri, ba Khê búa đồng, Hóc Tỷ vv..Hồng Hoa, Thạch Sanh chạy đua nổi tiếng. Về văn nghệ thì trong trường, ngoài chợ có ca hát liên miên. Tăng nhứt Lành, Kim Tuyến mầm non...thừơng hay có mặt. Màng vũ Dòng An Giang, tuyệt, do đám nữ sinh Mỹ Nhung Bạch Hoa Hồng Hoa..trình diển. Cô Gấm còn dựng thêm màn vũ Thiên Thai không chê được. Trung học Tam Cần lúc Trà Ôn còn thuộc Trà Vinh cũng xuống góp mặt ở sân Cây gòn. Ngoài chợ thì có Văn Se Thị Mẹo, Nhật Vĩnh, Trúc Phương ( Cầu Ngang) ..tay vổ bình binh cây guitar với những bài Ai nhớ chăng ai, Tình thắm duyên quê, Múc ánh trăng vàng, Lối về xóm nhỏ...Huỳnh Xèo Chính với bài Ðò chiều, Những ngày xưa thân ái, Trầm văn Ngoan hát Ai nhớ chăng ai. Phong trào thơ văn cũng rộ nở. Ông Ðức phát thơ, vừa ngâm thơ vừa phát thơ, nghỉ học sớm cưới vợ đẹp như tiên, làm thơ, viết văn lưu bút, bích báo hay như văn sỉ. Ông Thọ còm, Ngân móm...làm thơ, đóng kịch thơ chưa có ai hơn. Bạn Hạnh (+) thường cởi xe đạp từ Chồm hổm qua sông nước mắt 2 dòng mà thành thi sỉ Hàn Giang sông lạnh !. Riêng hai tui thì chuyên môn ghé quán Kim Anh mượn bài hát mới về chép trong nửa tiếng đem ra trả, chép nhạc của chị dày cả gang tay nên chị quen mặt tui và cứ vui vẻ cho mượn chớ chưa bao giờ biết tên tui là gì. Tóm lại thời đó vừa học vừa vô tư vui chơi, có ai biết chuyện ngày sau. Tui vẫn quen thói, tiếp tục lang bang, lội bộ vô Hòa lạc, Sum bua bắn chim, leo cây hái trăm hay trái bù hút, đánh trõng với con nít Miên, chiều ra Nguyệt Hóa đu sau xe đò có giang vìa. Ði ra Vàm bằng ngõ Ðầu bờ Kỳ la hay bên lò hột vịt. Khi khác qua cầu tiệm tương, ghé vườn ổi Mười Hương, ăn chùm ruột ngọt Bầu Vòi với khô cá lẹp, hái mấy trái bần sót trên cây thưa bên đường, ôm bập dừa qua sông... Ði qua Thanh lệ ghé vườn dừa Như Thủy nằm võng, thăm vó bờ rạch một chút, ra ngã ba Ðuôi cá tẻ trái vô Sóc Ruộng (Ba Trường) lén ăn cắp móc ngó sen, hái gương sen rồi ra Vàm, nhờ Quý dẫn vô Bần Xà đốn dừa nước. Ði vô Trốt bằng ngõ cầu Long bình, ngang nhà thầy Giả, tới vườn ổi nhỏ mua vài trái vừa cạp vừa đi tới vườn táo, trái táo sao mà dễ thương, cắn nghe giòn rụm, chua nhiều hơn ngọt nhưng rất là thanh. Tới chùa Tầm Phương lên cầu khỉ qua đường dưới, lội vô sóc mua vú sửa, su đũ chín cây, rồi lén bắn dơi chùa Hang bị ông lục rượt chạy thắt cổ. Khi khác đi vô Sóc Cục đốn mai sau chùa Miên, ghé nhà Phi, Dinh , vìa nhà qua xóm tiên cây dầu lớn, còn bé tí mà cũng tập bồi hồi dáo dác. Ngon nhứt là cởi xe đạp lên ao Vuông hò hẹn, tập làm người lớn nhưng cũng chỉ thương nhau bằng mắt, mến nhau bằng lời. Không quên ghé thăm Trần kiên Hứ ở cạnh bờ kinh Ba Se. Có khi đi xuống Chồm hổm, ngang nhà chị Thơ, vô Ðầu bờ ghé nhà ông Phật Tử ăn cơm và có lần ngủ lại, sáng thăm Thành Năm Châu. Có lúc đi xa tới nhà La Tấn Thanh Mỹ bẻ táo, hoặc đi Rạch lọp Hùng Hòa, Long Thới. Còn tại chợ Trà Vinh thì chổ nào mà không có dấu chân tui, tui biết người ta nhiều lắm mà nhiều người chẳng biết ta. Xuân Sơn xưng sáo, Ẩn Bùi bánh tráng, tóc xỏa Hàn Phong, Ðệ Ðãm thôi chơi, Tạo Phát bánh mì, Xiếng Tửng Bồng Lai, Thanh Hùng tương hột, Bão Sơn học nhảy, Cương Nhựt cua óp,.v.v. Tui vốn là tay quậy ngầm. Có chút nị mà cứ kiếm cớ ghé tiệm sách Nam Huê để ngắm cho được chị Hồng Hoàng mới vìa nhà ăn cơm. Lén bắn me Tòa Tỉnh, làm rớt đá vô dinh, bị lính dí bắt đem vô nhốt gần cổng sau, làm bộ khóc hu hu hối cải, nhưng mất gần 3 tiếng đồng hồ sau mới được khoan hồng thả về. Trong lớp cũng đã thành quỷ rất sớm, cùng nhiều đứa chuyền tay nhau trong giờ học, đọc một tuần làm tiên qua Thành Biển, Vĩnh Tường v.v.thì có đứa sờ soạng và hô "petit mais très dure" khiến thầy Trụ để ý, tới phiên tui đang cúi đầu xuống hộc bàn đọc mê mang quên mất giờ Anh văn thì bị thầy tới chổ giựt cuốn tập bí truyền đem cất trong ngăn kéo, tôi mất hồn lẩn vía, hết quậy, quẹo đeo, xanh lét, sợ run không học được suốt buổi; khi hết giờ dạy, thầy rút sách quý ra đọc, bổng mặt thầy đổi sắc, chắc tiêu tùng đời học trò mình rồi, nhưng vụt một cái thầy nhét cuốn sách tiên vô túi quần sau, leo cửa sổ nhảy qua sân vận động, mất tiêu. Hú ba hồn chín vía hai tui. Tui đã thoát nạn. Dầu vậy, tui hết quậy nổi và bị quẹo đeo luôn cho tới bây giờ.

Tới đây đã quá dài dòng. Nói dài nói dai nói dỡ mà ham nói. Nhưng kể tới mai cũng chưa hết chuyện. Sở dỉ tui nói hơi nhiều là để cho hã cơn ấm ức tức tối một chuyện ngày xưa. Ông thầy Nguyễn Tinh Tú kẹo hết sức, tui làm luận văn không khi nào được thầy cho tới 6 điểm trên 20, và cô Ðẹp thì còn gắt hơn, cho tui cặp mắt kiến tới 2 lần, cộng thêm cái consigne về tội làm biếng nạp bài luận văn đúng kỳ; mấy cái đó tạo cho Hai tui mặc cảm về văn chương chữ nghĩa dữ lắm. Bởi vậy bây giờ tui viết cho đả, thi rớt đậu hổng sợ, nói cho vơi bớt nỗi lòng mà. Tui còn tập thêm cái mục làm thơ, làm mầm non văn nghệ, giống như chồi lá non cố lú ra trể tràng từ cái thân cây già cằn cổi đã bị bứng mất rể sắp khô. Cụ thể, tâm tư tui được cô đọng như vầy :

Máu tôi là nước Cữu Long,
Thịt tôi là đất Cha Ông đắp bồi,
Xương tôi cây trái đã nuôi,
Trà Vinh là chốn hồn tôi gởi về.

Xin cám ơn quý vị và các bạn. Hết nghen. Cúi đầu chào và tự tui vỗ tay trước./

Viết từ Úc Châu, những ngày cuối năm Ngọ 2002.
Hai Quẹo.

(Trích từ Hội Ái Hữu Trà Vinh) http://aihuutravinh.com/6_dacsan/dacsan-2003/page-2003-toiyeuquetoi.htm




Kính Chào
Linh Phượng
Go to Top of Page

Linh Phuong
Moderator

USA
97 Posts

Posted - 03/06/2006 :  17:32:02  Show Profile  Reply with Quote
Phiếm về Ðuôn Chà LàThanh Lâm TV

Ðuôn chà là là đặc sản của Trà Vinh. Hầu hết chúng ta đều nghe nói tới nhưng ít có người đã từng thấy hay thưởng thức qua món ăn đặc biệt này. Vì nó hiếm.Hiếm thì có hiếm, nhưng bảo nó quí thì cần xét lại. Không phải cái gì hiếm thì quí và ngược lại quí thì hiếm. Có cái thừa thãi mà vẫn được xem là của quí.

Nếu ai chưa hình dung được đuôn chà là ra sao thì xin nhìn thử mấy bà ở quê mình nựng con cháu. Bã bợ nách đứa bé trai 1,2 tuổi lên khỏi đầu, úp mặt vô, vừa hôn, vừa ngoạm vừa nói giọng ngọng nghịu :Ồ chó ẽ !Dét quá i nè ! Chắn..chắn cho ứt con uôn cho dồi. Thằng bé cười ngắc ngoẽo. Cắn cho đứt con đuôn cho rồi ? Có phải nó giống thiệt vậy không thì hạ hồi phân giải. Ðừng vội trố mắt quan sát. Ðể xin nói qua về cây chà là cái đã.


1- Cây chà là.- Trà Vinh có nhiều rừng nước mặn ở ven biển, phần lớn nằm trong quận Long Toàn ( Duyên Hãi ). Cây chà là mọc đầy ở đó. Nó sống chung chạ với các loại cây khác như : mắm, đước, tràm, bần, dà dẹt, dừa nước, rán chổi. v.v.. và mọc thành chùm, khúm như buội tre. Thân to cỡ cây tre, cao từ 3-5 thước, suông đon như cây cau, da cây bóng láng, mắt liền lặn, màu nâu tươi, thịt khá cứng và chắc, đặc ruột không sơ bọng như cau, lá kết tàu như tàu cau tàu dừa nhưng nhỏ và mành hơn. Người địa phương dùng chà là để cất nhà, làm cột kèo, đòn tay..và làm những thứ khác như hàng rào, chuồng heo, sàn nò, sàn đáy, đóng cừ đủ thứ chuyện.

Cây chà là có dáng dấp của một loại palm, và bà con gần với chà là ăn trái (date), cái loại ông bà mình thường mua về ăn Tết chung với mứt bí hột dưa. Nhưng trái chà là Long Toàn nhỏ bằng lóng tay, cũng chùm chùm như cau, vỏ mỏng, hột to, không có thịt thà gì cả, chín thì màu đỏ trông cũng nên văn nên thơ lắm, cắn thử một trái thì thấy nó cứng ngắt, chác chác, lạt xèo, chán chết. Tàu lá mành, suông, nhỏ bằng ngón tay, lá bóng mượt, cong xuống thướt tha. Ðứng xa mà nhìn, thấy tàn lá tròn xoe, xanh um, loang loáng nắng trưa, óng ánh trăng đêm thì chắc hồn thơ sẽ tuôn trào ra ướt nhẹp. Khi sáp lại gần thì ôi thôi, quanh đọt cây là cả một chùm gai chơm chởm lạnh mình. Gai dài chưa từng thấy, cở 1,2 tấc là thường, tua tủa, nghênh ngang như thể có nhiệm vụ bảo vệ của quí: con đuôn. Cái gai nhỏ, thẳng băng, bén ngót đó, còn trên cây hay rụng xuống đất, nếu ai sơ ý, có thể đâm và xuyên lũng bàn tay hay bàn chơn như chơi. Ra tay đốn thử một cây mới biết đá vàng, hồn thơ sẽ bay mất, chỉ còn lại mồ hôi lai láng, có khi pha máu.

Cái cây quái ác như vậy nên ít có ai muốn đem về nhà trồng làm kiểng, bị bỏ lại xa trong rừng, nhưng nó gần với mơ ước, nằm trong tưỡng tượng của nhiều người cũng tại vì cái chút nị mà dễ thương hết nói : con đuôn!



2.- Con Ðuôn. Cùng một cha một mẹ là con kiến dương mà con đuôn bị người ta đối xử bất công và bị kỳ thị quá. Tại vì quê hương, đất sống của nó mà thôi. Con thì sống ở cây dừa, cây đũng đĩnh; miền đất cao nó có thể lớn lên trong cây thốt nốt, cây mây, cây le, cây mía..? Kiến dương nơi nào mà không có. Dù sanh ở đâu, tất cả đều là một giống một nòi. Cũng là con đuôn y chang như nhau, từ con ấu trùng, tiền thân kiến dương, nó tiến nhanh tiến mạnh, ăn bạo ăn tạp, thành con đuôn, rồi vùng dậy hoá kiếp thành con kiến dương trở lại.

Còn các loại củ hũ, như củ hũ dừa và chà là chẳng hạn, cái nào cũng trắng, ngọt, giòn, xào ăn ngon như măng. Vậy mà người ta chỉ thích con đuôn trong đọt cây chà là, củ hũ chà là, cái cây ác ôn côn đồ, gai không! Và cũng là loại bọ như con bù rầy ( bọ rầy) , bay trên không, ăn lá cây, mà sao kiến dương chơi cha, chuyên địt tửa trên ngọn cây để con cháu nó ăn toàn đọt ngon, củ hũ ngọt. Trong khi con bù rầy đẻ trứng dưới đất, thành con đuôn đất, ăn rễ cỏ, rễ cây con mà thôi. Chúng chỉ có cùng một mùa sanh sản như nhau nên đuôn có vào mùa khô.

Ðừng thấy con kiến dương đen thũi đen thui mà ngỡ con đuôn cũng có nước da như than đước. Không đâu. Nó trắng như ngà như ngọc, trắng nõn như da đùi non trinh nữ. Nói vậy nghe mới quí. Hoặc dễ hiểu hơn, cha mẹ Mỹ đen sanh ra baby da trắng. Kỳ cục vậy chớ. Còn về phần hình dáng của nó thì thật khó mà mô tả sao cho chính xác, rỏ ràng. Khi thì dài giống con sâu gòn, khi ngắn thì in như đĩa trâu bú no bị gạt rớt xuống đất, ngo ngoe uốn éo. Nói cho đẹp thì nó tương tợ cục bột se, cái tổ kén, khó phân biệt đầu đít lưng bụng. Nhưng quan sát kỹ thì nó có đầu nhỏ đầu lớn, phía nhỏ có cái đầu mà hình dáng và màu sắc giống y hột bắp nấu chín, vàng sậm, đó chính là cái bàn nạo, cái máy đào; phía đầu lớn của cục bột là hạ bộ, tròn trịa bầu bĩnh, có miếng da dày xếp lại hình bán nguyệt nhỏ xíu như vãy cá, nhô ra chừng 2 ly, chính là cái đít của nó. Bụng láng hơn cái lưng, lưa thưa có lông măng thật nhuyễn thật ngắn. Da thịt nó láng mướt như có thoa kem bà Hạnh Phước, có ngấn mịn từ trên xuống, cũng như các loại sâu bọ khác, lúc nào cũng cữ động theo dợn sóng cái kiểu muốn bò, lúc to lúc nhỏ. Khi thun mình lại, da nó nhăn nheo nhíu lại teo nhách trông rất thảm hại, tội nghiệp hết chổ nói và cũng mắc tức cười khi nhớ tới bà mẹ nựng con, chính lúc này mà nhìn nó từ dưới lên thì thấy mấy bà so sánh đúng quá chừng. Nhưng đố񩠶ới cái của thằng bé thì con đuôn thuộc loại king size, có nhiều con to bằng ngón chân cái. Vì lúc phình lúc teo nên khi bắt nó bỏ vô lòng bàn tay và nắm lại thì- nếu ai sợ hoặc chưa quen đèn sẽ nổi da gà và la bài hãi ,- nếu ai thích, nghe cái âm ba gờn gợn, nhút nhích, nhồn nhột sẽ mê man muốn nắm hoài không buông.

Và cũng chính nhờ tính đàn hồi mà lổ lớn lổ nhỏ gì nó chui lọt hết. Lấy một lóng mía, chừa mắt một đầu, dùng chiếc đủa soi đầu kia một lổ sâu chừng 2,3 phân, mớm mớm cái đầu con đuôn vô miệng lổ, để đó, hồi sau nó chui vô một khúc, để yên suốt đêm, nó chun mất tiêu và đùn ra phía sau, trên miệng lổ xác mía khô nén cứng như nút chai. Ðó là trò chơi của con nít. Tối tối còn ôm khúc mía vô mùng ngủ để nghe con đuôn chui hang. Con đuôn cũng ăn mía và lớn thêm. Chơi đả, chẻ mía nướng sực.

Con đuôn càng lớn càng già thì càng có màu vàng đậm. Nhưng vàng quá mất ngon. Nếu chẻ bắt đuôn ra thì phải ăn liền, để lâu ngoài gió nắng sẽ đổi màu, sậm hơn, như cái kiểu mấy tiểu thư lần đầu lột quần áo tắm biễn, da bị ăn nắng.



3.- Ðốn đuôn :

Tìm dấu đuôn nhờ ở kinh nghiệm, xin nói sơ như sau: Con đuôn ăn từ đọt non nhứt đi xuống thân non trên ngọn, gọi là củ hũ. Mỗi cây chà là chỉ có một con. Trong khi đó đuôn dừa thì cả tô, cả rổ. Củ hũ vừa cung cấp thức ăn vừa bảo vệ con đuôn. Trên miệng hang được khoá kín bằng xác phân nó đùn lên. Sống trong bọng cho đến lúc đủ lông đủ cánh nó khoét cái lổ bên hông đọt cây, để lại cái thẹo nhỏ, hoặc nó moi ngược mở cửa hang chui ra. Mới đầu khi đuôn mới ăn, chỉ có đọt non nhứt héo, con đuôn còn nhỏ, từ từ có thêm vài đọt nửa chết thì con đuôn đã lớn. Khi thấy cái thẹo bên hông thì không còn nó trong đó. Một điều may mắn cho nhà vườn là không phải cây dừa nào cũng có đuôn. Tuy nhiên người ta vẫn cẩn thận tìm bắt nó khi vừa thấy héo chút đọt, trước khi nó chun vô sâu. Và cũng không phải cây chà là nào cũng có đuôn. Nhiều khi quần cả mấy buội mà chưa tìm được một con.

Dụng cụ đốn đuôn thường là cây dao mác lưởi thẳng, cán dài, ba bốn thước. Có người mang thêm cây câu liêm nhỏ, nhưng không hay bằng dao xắn. Cây chà là mọc thành khúm có khi rộng bằng mấy chiếc giường, cây nào cũng gai không nên không đến gần được, không đốn từ gốc mà phải đứng xa xắn cái ngọn, chổ mềm, như xắn măng. Phải phát quang, chặt bỏ bớt tàu cho gọn rồi xắn nguyên đọt đem ra, dùng dao ngắn chặt bỏ thêm râu ria, lột bỏ bớt bẹ, thẽo bỏ khúc già, quan sát không thấy thẹo, miệng hang còn kín phân khô, chắc chắn có đuôn, dùng dây cật bẹ dừa nước ngoai ngoai cho dẽo, sỏ sâu cột thành chùm cho dễ quảy. Ði tìm như vậy phải lội sình, băng buội, tránh gai, vác nặng, vượt xẽo, ô rô cóc kèn dày kín, từ khóm này qua khóm kia vòng vo mất cả chục cây số mới hy vọng có huê lợi trong ngày. Nắng, gai, sình, muỗi mòng... phải trãi qua để bắt một con đuôn !

Trên đời này, lắm của quí nằm trong tay người quí phái đều đi theo quá trình như vậy. Thợ đẽo ngọc thạch, người bắt bào ngư, kẽ tìm gổ cẩm..như nhau. Con đuôn từ giửa rừng hoang tiến về thành làm tăng cao lương mỹ vị cho khách sang.



4.- Thưởng thức đuôn:

Có phải vì tánh hiếu kỳ thích của lạ của vài loại khách giàu mà con đuôn thêm quí. Có nhiều người đáng được hưởng mà không được. Thứ nhứt là mấy bà sang, vì ông chồng ham vui hoặc xã giao, rũ rê mời mọc nhau đi nhà hàng sang như Ðồng Khánh trước nay chẳng hạng, ăn gan ngổng, móng vịt và đuôn chà là, ít khi dẫn bà xã theo. Không biết ông ăn bà có khen hay không. Thứ hai là chính những người đốn đuôn, thấy có giá, phải bán đi để xoay việc khác cho gia đình. Ở tiệm biến chế xào nấu nó ra sao không rõ, nhưng dân Trà Vinh thường có nhiều cách ăn.

Trước hết là ăn sống tại trận. Cắn cái đít con đuôn cho có lổ rồi đưa vô miệng mút, thịt nó đặc sệt hơn nhũ trấp của phèo heo, ngọt và béo, lợn cợn, dòn dòn như thịt trái thị chín, không cần biết ruột gan nó ra sao, và cứt nó thì cũng là thịt bọng chà là non, ăn được, không sao, ăn như ăn nhọng ong non. Khác hơn thì đem chiên, đem nướng. Bỏ con đuôn vô tô nước muối hoặc nước mắn nhĩ cho sang, để nó nhả bớt chất chát, lát sau đem chiên, không cần ướp xác hay đồ tẩm lịm gì cả. Chiên lửa áp nó sẽ phồng như cháo uẩy hay bánh phồng tôm, rồi cũng xẹp lại. Hoặc đem lăn bột chiên cho nó thêm chất độn, ăn bớt hao. Vẫn phải chiên lửa nhỏ. Cách nửa là đem nướng, nó teo lại thấy tiếc, tưỡng đâu bị mất phần. Làm cách gì, hương vị chính của đuôn là béo ngậy và ngọt chất đạm, sêm sêm nhọng tầm, món rất gần gũi với dân quê Việt Nam. Ăn nó như ăn chơi cho biết, ít khi ăn với cơm, năm khi mười hoạ mới có. Nhịn nó cũng không cảm thấy mất mác gì. Ða số dân Trà Vinh lơ là chuyện đó.



Phần kết.-

Kiến dương vẫn còn đầy nhưng con đuôn chà là đã sớm đi vào huyền thoại, nhứt là sau năm 1975. Gần đây bà con vùng duyên hải Trà Vinh đồn rằng, sau giãi phóng có mấy ông nguỵ quân nguỵ quyền Sàigòn xuống học tập cải tạo, có tới năm sáu ngàn người. Mấy ổng đã phát quang, phá rừng, đốn cây, đốn hết cây cối trong đó có cây chà là, mần lao động hùng hục mỗi ngày suốt gần mười năm, dọn sạch trơn, rồi lên líp làm vườn dừa, lập công trường 30/4, đào gốc ban đất cho bằng phẳng làm ruộng. Giờ thì vùng duyên hải trỡ nên trù phú, ruộng đồng bát ngát, phần lớn chia cho cán bộ và gia đình cách mạng. Có chút cây chà là vẫn còn, chưa tuyệt chũng, nhưng nó lại nằm trong đất của họ, và chưa chắc có đuôn. Những người chủ đất thời trước, xưa lắm rồi mà nhiều người đã nổi tiếng cấp quốc gia, không muốn về nhìn lại thổ cư của gia đình đã biến thành rừng và giờ này lọt vào tay người khác, đều nhắm mắt làm ngơ, bỏ đi hết. Mấy ông cải tạo có công với gia đình cách mạng lắm, giúp họ có đất, hửu sản hoá cho họ, thay vì vô sản chính chiên chuyên chính, nhưng ngược lại đã tiếp tay phá hoại môi sinh, tiêu diệt cây rừng và nhứt là làm cho đuôn chà là vượt biên mất hết. Ai có đi tới Long Toàn, nhìn thấy ruộng đồng xa mút, lắng tay nghe, chắc còn cảm thấy một số oan hồn của đám tù cải tạo vẫn phảng phất. Số sống sót không biết bây giờ tản lạc đi đâu. Cây chà là ? Còn đâu cái của quí, một thời đem tiếng tăm cho Trà Vinh, loại cây đặc biệt của Long Toàn một thời oanh liệt. Ôi đuôn chà là. Ðồng tuyết năm xưa nay còn đâu!./.

Thanh Lâm TV 9/2003 (Trích từ Hội Ái Hữu Trà Vinh)





Kính Chào
Linh Phượng
Go to Top of Page

Linh Phuong
Moderator

USA
97 Posts

Posted - 03/06/2006 :  17:34:11  Show Profile  Reply with Quote
VÚ SỮA TRÀ-VINH

Thanh Hương

Ðọc cái tựa bài quý vị muốn hiểu tôi nuốn nói cây vú sữa, trái vú sữa hay vú sữa suông suông gì cũng được. Xin mời cứ tiếp tục theo dõi câu chuyện thì sẽ thấy là tôi nói thiệt tình chớ không có giỡn.

Ðối với ai chớ dân Trà Vinh mà không biết cây trái vú sữa ra sao thì chắc biểu là mất gốc cũng chưa vừa tội. Quả thật vậy, vì ở Trà Vinh đi đâu cũng thấy trồng cây vú sữa. Từ giữa chợ ra tới ven tỉnh, Cây dầu Thanh Lệ Tri Tân, xa chút tới Vàm, Ðầu bờ, Ða Lộc, Chồm hổm.. rồi đi tới làng sóc xa hơn, đâu cũng có vú sữa. Khu nhà ông Bảy Khương tennis đường số 3 nè, nhà bà Cai Yến trong Tri Tân nè..có đám vú sữa như cái vườn mát rượi trước sân rất bắt mắt. Và rất nhiều gia đình khác cũng trồng, ít nhiều chừng đôi ba cây, bên he "ay trước sân vừa để làm bóng mát vừa có niềm vui cho con nít lấy cù móc thọc chơi. Vú sữa tràn lan đại hãi, ngập cà tha.

Cái cây gì mà dễ thương lạ.Trồng đâu cũng mọc, đất nào nó cũng có trái. Nếu trồng ở đất thịt thì gọi là vú sữa vườn. Trồng ở đất cát pha, đất giồng thì kêu là vú sữa giồng. Chẳng qua là do là đất vùng Cữu long mình nó màu mở." Cho nên không nghe ai nói bỏ phân vô vú sữa bao giờ. Người vùng ngoài nịnh nọt gọi nó là đặc sãn Trà Vinh. Rồi có một tay nào đó quảng cáo trong bài vỡ du lịch, đọc ra thì thấy hắn già mồm hết sức nói. Tôi đoan chắc là có nhiều đồng hương của chúng ta biết nhiều về vú sữa, có thể kể ngọn ngành cách trồng, phân loại cũng như những nguyên lý sinh trưởng của loại thực vật này một cách khoa học

Riêng trong bài này, trong khi chờ đợi quý vị chuyên gia về cây cỏ lên tiếng, tôi xin phép được kể vòng ngoài theo mắt thấy để đồng hương đọc đở buồn và giúp đám trẽ sanh ở xứ người biết được ít nhiều về quê hương Trà Vinh mình.

Vú sữa đối với dân mình không phải là loại trái cây quý. Bên cạnh nó còn vô số các thứ khác vừa ngon, bổ, quý hơn nhiều. Chính vì vậy mà ít có nhà vườn nào có kế hoạch lớn lao để trồng nó. Và nó đã êm ả rút về giồng, thâm căn cố đế ở đó. Mà Trà Vinh thuộc đất giồng. Nó thành đặc sản. So ra vú sữa giồng ngon hơn nhờ ở đất khô, cứng, ráo, chịu nhiều nắng cho nên nó rắn rõi dẽ dặt, trái nhỏ thon hơn. Nếu truy nguyên ra thì nó là thứ thổ sản lâu đời nhứt của đồng bào Khme, người Việt từ ngoài Trung trở ra ít có ai biết. Nếu thích có thể đem trồng đâu cũng được. Nó ít kén đất.

Cây vú sữa sống rất dai. Khi thấy nó lão, cho trái nhỏ, có người đốn làm củi, trồng cây con khác thế vô. Còn nếu để nó già thêm, thân lớn, có thể cưa xẻ ra làm ván, thịt màu vàng, đóng tủ bàn cũng đẹp lắm lắm. Lá nó cỡ bàn tay, hơi mo vãnh lên, mặt trên láng màu xanh, mặt dưới nhám có lông màu nâu da bò. Mùa trái, gió chướng thổi lung lay cành lá lấp loé đổi màu và những chùm trái vàng, tím thập thò nhúng nhẩy thì đám con nít vui hơn lúc nào hết.

Mới nhìn bề ngoài Trái vú sữa, ai cũng phân biệt được hai loại: trắng và tím. Nhưng đi vô chi tiết một chút thì thấy có gần chục loại. Còn nếu khảo sát sâu hơn thì chắc có nhiều thứ lắm. Nhìn vô hai loại phân biệt theo màu sắc nói trên, trong cả hai thấy có sự khác nhau về hình dáng và cở trái. Có trái to hơn cái chén, có loại nhỏ hơn. Có loại tròn, loại lùn dẹp, loại thon dài gần giống hình bầu dục. Riêng trong màu tím cũng có loại đậm loại lợt. Trái vừa vừa, tròn, màu tím đậm là ngon nhứt trong loại này. Trái dài đít thon xương xẩu, và tím lợt thì bở và lạt. Loại bự thấy vậy mà không ngon ngọt bằng. Còn loại trắng cũng vậy. Có loại trắng xanh, trắng ngà và vàng. Loại xanh thường nhỏ, thon dài, sai trái, có chùm cuống dài giống như là dây (vú sữa dây), da mềm thịt bở. Trái vú sữa vàng, nhỏ, cứng là ngon số một trong các loại. Con nít thì khoái leo cây để thoả mãn cái thú đươc leo vừa để hái ăn tại chổ, nhưng ít ai cho vì chùm trái ở ngoài đọt, vói sợ té, mà oằn nhánh vô thi gảy làm mất trái non, uổng. Còn người lớn đi du lịch mang giày, quần dài leo dễ bị rớt bất tữ thì không ai đền nhơn mạng. Bận xà lõn ma lên đứng ở chảng ba cắn mút thưởng thức thì đố có đàn bà con gái nào dám ngó lên. Bởi vậy, người ta bẻ bằng lồng.Trên đọt cây trúc, người ta chẽ ra, đương thành cái lồng hình bắp chuối hay hình cái quặng như tết trung thu đốt đèn búp sen. Chỉ cần đứng dưới đất mà móc mà thọc. Rất dễ phân biệt chín sống .Cứ tới tuổi tới thì thì cái đít nó bóng lưởng, càng láng càng chín. Càng chín, màu càng lan từ đít lên tới cuống, vàng tím giống nhau như vậy cả. Có điều là không phải trái càng chín thì càng ngon. Vừa thôi, tức ít ra cũng còn chút chổ trống cho màu xanh chung quanh cuống. Chín rục quá sanh mềm, bũn và có khi bị hôi ê. Nhưng càng chín nó càng bớt sữa- cái nước đục đục đó mà- nghĩa là nó bớt mủ, dễ ăn hơn. Ai sành ăn vú sữa thì phải giủ cái nước đục như sữa đó bỏ đi, rồi mới xoa nắn, rồi mới nút. Còn nếu lỡ dại mà bú sữa non thì coi chừng lát sau môi mép sẽ mọc râu, rửa bằng nước không sạch, mà phải kỳ cọ, se như se cục hồm, cuốn đi mấy cọng lông măng đau điếng đỏ con mắt nó mới chịu tróc ra. Ngoài ra nếu không khéo để sữa rớt vài giọt lên áo trắng thì cái bằng chứng quả tang đó khó mà chạy tội, giặt rất khó, bị vợ rầy hoặc bị má cho ăn bánh tét nhưn mây. Xoa bóp cho tới nhừ tữ thì sẽ cảm thấy như đụng khối cưng cứng sâu bên trong, giống chùm tuyến sữa thiệt vậy, hoặc giống cái cồi mục nhọt, nặn nó ra mà coi.một khối thịt dai, cứng hơn thạch sương sa, bám dính vô mấy cái hột dẹp lép xám hoặc đen như con dán đất. Không ngon bao nhiêu. Cái ngon ngọt nhứt trong trái sữa là phần mềm (xin đừng lầm với nhu liệu) nằm giữa võ và khối cứng này. Không phải ăn trái nào cũng rút cuống được. Trái non, phải cắn đít. Vì như đã biết cái đít chín trước, mềm hơn, láng hơn, ngọt hơn; ăn hết ngọt thì bỏ. Ông bà mình nói vú sữa lâu tiêu vì nó lạnh bụng. Nó còn có chất chát khiến dễ làm nghẹt cửa sau. Không tiêu, đau bụng chớ tào tháo không rượt nỗi.

Còn cách ăn khác vạt núm trái vú-sửa dùng muổn múc ăn hoặc xẻ thành nhiều miếng, lượn con dao tách phần vỏ ra rồi để trên dỉa, dùng nỉa hoặc cây tâm ghim ăn từng miếng, cách ăn nầy thường dùng để đải khách. Cũng có thể gọt bỏ vỏ, lải bỏ hột và cùi cho vào máy xay, thêm tí sửa vài cục nước đá ta sẽ có ly sinh-tố hết xẩy.

Nghe qua, trái vú sữa dễ bị xuyên tạc móc ngoéo.Chính cái thành tích bất hão như vậy mà nó không được dân mình trọng vọng lắm. Ít có ai coi nó là trái cây quý đặc biệt để cúng ông bà. Cúng thì cũng có nhưng ít khi chưng để lâu vì sữa sớm thành yaourt và lên men giấm. Vả lại còn thiếu gì trái cây, cam bưởi xoài mít măng cục chuối cao .v.v..

Dân Trà-vinh mình coi thường cây vú sữa.Vậy mà nó đã thành Cây Thánh. Vì Trà Vinh là cái vú sữa, nguyên do là mình không biết ta và để cho người ta quá biết mình. Cứ nhìn riêng về lúa gạo không thì đã thấy. Có nhiều nơi trên phần lớn đất nước Việt nam, nhân dân ta thi đua tăng gia sản xuất mà vẫn thiếu gạo, quanh năm ăn độn, một tháng có được 5,3 ngày ăn cơm trắng là phước, còn lai" khoai sắn làm chuẩn. Tình trạng này không phải mới nay, thời XHCN mới có, mà nó triền miên từ xưa. Tôi đã chứng kiến tận mắt. Trong khi đó người Trà-Vinh mình coi rẽ hột ngọc của trời, lấy gạo nuôi heo gà vịt thả dàn, lại đặt rượu ròng bằng gạo bằng nếp, rượu Xuân Thạnh, rươụ Ðầu bờ .... đủ thứ. Cá tép dư thừa đem làm phân. Vựa phân cái nào cũng to như bồ lúa. Hồi nhỏ tôi hay lựa mấy con phân lớn bằng 2,3 ngón tay nướng ăn chơi cho vui. Cây trái đủ thứ khiến mình bất công với trái vú sữa. Trong khi đó, ở một nơi văn vật nhứt nước, nó đã thành Thánh. Cây Vú Sửa Thánh. Giống như cuộc chiến tranh thần thánh, do một ông thánh cầm chầu, cây vú sữa đã đi vào lịch sử chiến đấu oai hùng của nhân dân ta, đi vô văn học, nằm chình ình trong tiểu sử của thánh nhân thời nay đó. Cây vú sữa được trồng giửa Thăng long thành hoài cổ do Bác mang giống từ trong Nam về. (chắc do anh hùng hào Kiệt tặng cho). Chiều chiều Bác đi dạo trong sân, không quên chăm sóc ngắm nghía cây vú sữa ( không biết Bác có tưới cây hay không"). Nó là hình ảnh của miền Nam đi trước về sau, nó tượng trưng cho một thâm tâm, một mưu đồ, thâm ý mục tiêu.. Và nó đã đi vào huyền sử ca một người mang tên Quốc. Nó là Trà Vinh Vĩnh Long. Nói ngược lại Cữu long là bầu sữa của dân tộc. Và vú sữa Trà vinh là số một. Nhưng dân Trà Vinh hiền hoà như Phật. Như cô gái quê rất thiên nhiên căng sữa, không biết mình là ai.

Có người dí dỏm nói vú sữa là thứ con nít rất thích mà nguòi già cũng mê khiến tôi có cái liên tưỡng làm rợn người. Chuyện là có một cô gái quê vì hoàn cảnh hoặc vì thế lực hắc ám mà đi làm vú sữa cho một lão già, bị bú tới võ xanh, được Ngô Tất Tố viết trong cuốn ""Tắt Ðèn"" từ thời nô lệ Tây. Nghỉ lại cái vú sữa Trà Vinh cũng không khác mấy. Sau một thời gian bị giành bú, thi đua chung nhau làm chủ, vú sữaTrà vinh có lúc cũng teo nhách. Dĩ nhiên được săn sóc kỷ nhờ có xuất khẩu nào tôm cá, nào lúa gạo, nào cây trái nhưng dân quê Trà-Vinh không đủ cơm gạo mà ăn. áo quần mặc không đủ ấm.

Không biết bây giờ ai thế Bác bón phân cho cây vú sữa miền Nam. Ai cũng mỡ rộng tầm mắt rồi. Hy vọng sự phân phối, bố trí lại lợi tức quốc gia sao cho công bằng hợp lý hơn để mọi người dân thương nhau và cùng tiến. Chớ có cặp vú Tiền Hậu quí báo, tươi mát nhứt mà mấy cha đòi mút riêng thì cô gái quê ngây thơ chắc chỉ còn xương với da. Bài học đó rất đáng để cho đồng hương Trà Vinh mình suy gẫm không thôi./.

Thanh Hương

8/2003


Kính Chào
Linh Phượng
Go to Top of Page

Linh Phuong
Moderator

USA
97 Posts

Posted - 03/06/2006 :  17:38:39  Show Profile  Reply with Quote
Một Mốc Lịch Sử
Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên.

Ðọc trong Bản Tin Tức Mùa Hè 2002 của Hội Ái Hữu TràVinh tôi thấy trong bài tựa là "Nhớ Chuyện Xưa" (không thấy tên tác giả ) ở trang 15 có đoạn văn như sau: " Hoàng Châu, với phần chú thích ngắn gọn, nhưng đã cho biết một móc lịch sử quan trọng. Một thí dụ đơn giản để biết Tỉnh của mình ở, thuộc thứ mấy trong Nam Kỳ Hăm Mốt Tỉnh thì cứ nhìn các mủi ghe lưu thông ở miệt Hậu Giang thấy bản số HF dính liền và con số là biết ngay. Như HF2 Châu Ðốc, HF3 Hà Tiên, HF5 Trà Vinh, HF6 Sa Ðéc, HF10 Sóc Trăng, HF17 Vĩnh Long, HF19 Cần Thơ,....."

Vì tác giả nói đây là "một mốc lịch sử quan trọng" nên hôm nay tôi xin phép bổ túc thêm cho đầy đủ hơn để giúp độc giả hiểu thêm câu chuyện.

Hồi xưa, cách nay gần 80 năm, khi đi học trường Tiểu Học tôi đã phải học thuộc lòng để trả bài :

"Gia, Châu, Hà, Rạch, Trà,
Sa, Bến, Long. Tân, Sóc,
Tây, Biên, Chợ, Mỹ, Bà,
Gò, Vĩnh, Thủ, Cần, Phước, Bạc."

Ðó là chữ đầu của "Hăm Mốt" tỉnh của Nam Kỳ sắp theo thứ tự chính thức.Tức là :

1-GiaÐịnh, 2- ChâuÐốc, 3-HàTiên, 4-RạchGía, 5-TràVinh, 6-SaÐéc, 7-BếnTre,

8-LongXuyên, 9-TânAn, 10-SócTrăng, 11-TâyNinh, 12-BiênHòa, 13-ChợLớn,

14-MỹTho, 15-BàRịa, 16-GòCông, 17-VĩnhLong, 18-ThủDầuMột, 19-CầnThơ;

20-Phước Tỉnh, và 21-BạcLiêu. (Ðảo PhúQuốc về mặt hành chánh thuộc tỉnh RạchGía. Ðảo Côn Sơn (Poulo Condor) về mặt hành chánh thuộc tỉnh BàRịa).

Tôi không biết tại sao có cái thứ tự chính thức này.Nhưng, hồi thời ấy, người nào có ghe thuyền thì phải lên tỉnh "đăng bộ"và đóng thuế. Thì tỉnh cho mổi chiếc ghe một con số bắt đầu bằng hai chữ HF ( là Hydrographie Fluviale = Hệ thống thủy-đạo sông ngòi ) và tiếp theo là con số thứ tự của tỉnh nhà, rồi mới tới con số trong sổ. Thí dụ như tôi ở TràVinh lên tỉnh xin đăng bộ cho chiếc ghe hầu của tôi thì sẽ được tỉnh cho một con số như sau: HF5-76432 chẳng hạn. Nếu ở ChâuÐốc thì HF2-0000, ở HàTiên thì HF3-0000 v.v. như tác giả bài báo nói trên đã nhắc tới.

Như vậy ở mỗi nơi, nhơn viên an ninh, như Ông Hương Quản trong làng, hay Ông "Cò", chỉ cần nhìn bảng số là biết xuất xứ ghe từ đâu đến, để chú ý hơn tới những ghe từ tỉnh khác đến, hầu phòng giữ an ninh cho kỷ hơn ( như bên Mỹ đây chỉ cần nhìn bảng số xe hơi cũng biết xuất xứ xe từ đâu đến, out of state).

Ðến thời Ðệ Nhứt Cộng Hòa Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, (theo nhà văn Hứa Hoành) có nói " Cà Mau thì nghe chẳng ra Tây, không ra Tàu và không Việt Nam chút nào", nên ra lịnh sửa đổi tên các tỉnh cho nghe văn-hoa hơn. Thì Ông Nguyễn Ðình Thuần Bộ Trưởng tại dinh Tổng Thống soạn thảo bản văn và trình cho Tổng Thống Diệm ký để ban hành vào năm 1958. Với sự thay đổi này, tên của các tỉnh của Miền Nam không còn theo thứ tự "Gia, Châu, Hà, Rạch, Tra" nữa. Một số còn giữ tên củ của mình, số lớn phải mang tên khác, hoặc biến mất vì bị sát nhập, bởi vì ranh giới của các tỉnh cũng bị thay đổi. Và tên của tỉnh-lỵ (chef-lieu) cũng bị thay đổi : hồi xưa tỉnh-lỵ (chef-lieu) của tỉnh nào thì mang cùng một tên với tỉnh ấy, như thành phố Trà Vinh là tỉnh-lỵ (chef-lieu) của tỉnh Trà Vinh, thành phố Bến Tre là tỉnh-lỵ của tỉnh Bến Tre,v.v. Thì bây giờ không còn như vậy nữa, mà thí dụ như tỉnh-lỵ của tỉnh Vĩnh Bình (tên mới của tỉnh TràVinh củ) thì bị đổi là Phú Vinh, tỉnh-lỵ của tỉnh Kiến Hòa (tên mới của tỉnh Bến Tre cũ thì bị đổi là Trúc Giang v.v... Kết quả là:

1-Các tỉnh không bị (hay không được ?) đổi tên là: Gia Ðịnh (tỉnh số 1 cũ) tên có từ trước thời Pháp thuộc,Hà Tiên (tỉnh số 3 cũ) tên có từ trước thời Pháp thuộc. Long Xuyên (tỉnh số 8 cũ) quê của Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, Tây Ninh (tỉnh số 11 cũ) có TòaThánh Cao Ðài, Biên Hòa (tỉnh số 12 cũ) tên có từ trước thời Pháp thuộc, GòCông (tỉnh số 16 cũ), quê của Bà Hoàng Hậu Nam Phương, Vĩnh Long (tỉnh số 17 cũ) tên có từ trước thời Pháp thuộc và Bạc Liêu (tỉnh số 21 cũ) nhưng tên của tỉnh-lỵ là thành phố Bạc Liêu thì bị đổi là Vĩnh Lợi.

2- C ác tỉnh bị (hay được?) đổi tên là : Châu Ðốc (tỉnh số 2 cũ) đổi thành An Giang, tên có từ trước thời Pháp thuộc,nhưng tên tỉnh-lỵ là thành phố Châu Ðốc thì bị đổi là Châu Phú, RạchGía (tỉnh số 4 cũ) đổi thành Kiên Giang, một tên mới , TràVinh (tỉnh số 5 cũ) đổi thành Vĩnh Bình, một tên mới, mà tỉnh-lỵ là thành phố TràVinh thì bị đổi là Phu Vinh, Bến Tre (tỉnh số 7 cũ) đổi thành Kiến Hòa, một tên mới, mà tỉnh-lỵ là thành phố Bến Tre thì bị đổi là Trúc Giang, TânAn (tỉnh số 9 cũ) đổi thành Long An, một tên mới, Sóc Trăng (tỉnh số 10 cũ) đổi thành Ba Xuyên, một tên mới, mà tỉnh-lỵ là thành phố Sóc Trăng, thì bị đổi là Khánh Hưng, MỹTho (tỉnh số 14 cũ) (hình như có nghĩa là gái đẹp ?) ( mà người Bắc hay gọi là MyThọ) đổi thành Ðịnh Tường tên có từ trước thời Pháp thuộc, BàRịa (tỉnh số 15 cũ) đổi thành Phước Tuy, một tên mới, mà tỉnh-lỵ là thành phố Bà Rịa thì bị đổi là Phước Lể, Thủ Dầu Một (tỉnh số 18 cũ) đổi thành Bình Dương, một tên mới, mà tỉnh-lỵ là thành phố Thủ Dầu Một thì bị đổi là Phú Cường, Cần Thơ (tỉnh số 19 cũ ) đổi thành Phong Dinh, một tên mới.

3-Các tỉnh không còn là một tỉnh nữa là: Sa Ðéc (tỉnh số 6 cũ) trở thành một quận của tỉnh Vĩnh Long mới rộng lớn hơn; ChợLớn (tỉnh số 13 cũ), thì tỉnh lỵ là thành phố Chợ Lớn được sát nhập với SàiGòn để thành Thủ Ðô VNCH. còn đất thì một phần nhập vào tỉnh LongAn, một phần nhập vào tỉnh Mộc Hóa mới thành lập, Phước Tỉnh (tỉnh số 20 cũ) trở thành một quận của tỉnh PhướcTuy.

4-Các tỉnh mới được thành lâp là: Cà Mau khi trước là một quận của tỉnh BạcLiêu, bây giờ là tỉnh AnXuyên, nhưng thành phố CàMau bị đổi tên là Quản Long. Mộc Hóa, khi trước là một quận của tỉnh Tân An nay thành tỉnh MộcHóa ở trong Ðồng Tháp Mười.

Nghĩ cho cùng, CàMau, củng như tên cũ của một số tỉnh trong Nam nghe không ra Tây, không ra Tàu, không ra Việt thực, nhưng có thể nó chứa đựng một sự tích lịch sử nào đó mà mình chưa khám phá ra chăng? Như tên tỉnh TràVinh của chúng ta theo chử Nho Hán tự thì không có nghĩa gì hết, nhưng nó chứa đựng bao nhiêu di tích lịch sử, vì TràVinh là xứ Phật, có tên từ chử Prah Prapăng, Prah Tropêng như Ông bạn đồng hương Hai Quẹo đã phân tách rõ ràng trong bài "Tôi Yêu Quê Tôi"( Ðặc San TràVinh Xuân Quý Mùi, 2003, trang 60-68). Hồi nhỏ nhờ chơi với trẽ con Miên trong làng nên tôi biết được chút ít tiếng Miên nên ngoài câu " cà bây xi xậu " (là trâu ăn lúa) còn biết hỏi bạn: "Tâuu na bòn ơi ?"( nghĩa là: "đi đâu đó bạn"?) thì có khi được nghe trả lời là :"Nhum tâuu leng Pratrapeng ná" ( nghĩa là :" Tôi đi chơi TràVinh đây.") . Và theo các Cụ nói lại, thì TràVinh hồi xa xưa, còn là kinh đô của phần đất ở NamKỳ của Vương Quốc Cao Mên khi trước, nơi có Ông Phó-Vương (Vice-Roi) ở, và Ao Bà-Om là cái ao dành để tắm các con voi của Phó-Vương. Vì vậy mà ở đó còn di tích nhửng trụ sắt và những cây cổ thụ để, hồi xưa, người nài cột voi vào rồi lấy nước dưới ao xối lên tắm nó. Ðổi tên Trà Vinh thành Vĩnh Bình nghe thì có vẽ Hán-tự văn hoa thật, nhưng không còn thấy một sự liên hệ gì với dĩ vãng PraTropêng TràVinh là xứ Phật nữa hết.

Còn nói gì đến tên Sa Ðéc ? Nghe chẳng ra Tây, không ra Tàu và không Việt Nam chút nào hết thì cũng dễ hiểu, vì nó là một phiên âm rất sát với tên Miên là Psa ( nghĩa là chợ) ( "Nhum tâuu psa" nghĩa là "tôi đi chợ") Dek (nghĩa là sắt) là một nơi có cái chợ bán đồ sắt để cho những người thợ rèn trong vùng đem đồ của mình làm ra đó bán.

Còn Sóc Trăng ? Ðược gọi như vậy là vì hồi xưa trên sóc ( là xóm của người Miên ở) đó, có một con trăn (python) rất lớn ai cũng phải sợ. Mà vì dốt chính tả nên viết chữ trăn có g thành ra trăng. Viêc này đối với người Nam là thường vì cũng không cần đi ngược dòng lịch sử xa xuôi, ngay như bà chị Sáu của tôi, được cha chúng tôi đặt cho tên là Ngọc Lan, mà rồi ông Chánh Lục Bộ trong làng viết trên giấy khai sanh là Ngọc Lang có g, nên suốt đời chị tôi phải mang tên Ngọc Lang với chữ Lang có g như lang thang qua đến tận xứ Mỹ này. Rồi bây giờ cái tỉnh SócTrăng được gọi là BaXuyên, còn thành phố Sóc Trăng thì là thành phố KhánhHưng, không dính dáng gì với cái "sóc" của người Miên có một con trăn khổng lồ.

Còn ở Miền Ðông, thì như tỉnh Thủ Dầu Một có tên như vậy là vì ở đó hồi xưa có một cái đồn (hồi xưa gọi là "thủ") trước sân có một cây dầu ( dipterocarpus) to lớn "số dách" nay đổi tên là tỉnh Bình Dương thì không còn nhớ khi trước ở đó có cái gì?

Còn Bà Rịa ? Hình như là tên của một người vợ bé của một ông quan trấn thủ BiênHòa hồi xưa, lập lên ở đó một cái chợ cho dân buôn bán nên dân gọi là Chợ Bà Rịa (cũng như trong tỉnh nhà có "chợ Thầy Phó", là do ông Thầy Phó Giang lập lên, và ở Ngả Tư Nhà Ðài trên Vũng Liêm có "chợ Ông Năm" là do Ông Chủ Năm lập lên (" Thầy Phó" là Ông Phó Tổng, nhơn vật số 2 trong tổng, sau "Thầy Cai" là ông Cai Tổng. "Ông Chủ " là người số 2 trong làng, sau Ông Cả). Rồi chợ Bà Rịa phát đạt lên,và về sau dưới thời Pháp thuộc trở thành trung tâm của một vùng được lập thành một tỉnh lấy luôn tên là tỉnh Bà Rịa.

Dầu sao việc đổi tên các tỉnh trong Nam lúc ấy được nhiều người cho là "một thành tích về văn hóa "
Chớ thật ra thì hồi lúc ấy tôi đã chứng kiến rất nhiều phản ứng mạnh mẽ , tức giận, buồn phiền hay là uất ức của một số không nhỏ của người Nam, khi họ thấy tên quê quán của họ đã bị thay đổi. Thí dụ như hồi lúc ấy có một hôm tôi đến chơi nhà Cụ Trần Văn Văn, môt nhân-sĩ rất có tiếng ở Saigon, tuổi lớn hơn tôi một con giáp, thì tôi gặp một người bà con của Cụ Văn từ dưới tỉnh lên thăm Cụ, thì người này kể chuyện rằng một hôm ổng đến ăn giỗ ở nhà một người bạn trong làng thì nghe ông chủ nhà đứng trước bàn thờ tổ tiên, sau khi khấn vái, thì thêm một câu: " Họ vô đây, họ thay đổi tên của xứ sở mình hết, không biết Ba có kiếm được đường để về ăn cái giỗ này không?".( Trong Nam người ta hay gọi quê quán của mình là " xứ sở " ) Một câu nói nghe "đứt ruột" và chứa đựng không biết bao nhiêu là uất hận! Và tôi còn nghe được nhiều câu khác ở những nơi khác nữa, mà không tiện nhắc lại đây, bởi vì lời nói trong lúc tức giận quá mức nên đâm ra khiếm nhã. Nhưng vì đa số người Nam nghĩ rằng một ông Tổng Thống như một ông Vua hồi xưa có quyền thay đổi địa-danh trong nước bất cứ ở đâu bất cứ lúc nào, nên lúc ấy không có những cuộc phản đối công khai ( Vã lại dưới thời Cụ Diệm thì không ai dám công khai phản đối) cho nên" người ta" cho rằng cuộc đổi tên địa danh của Miền Nam là một thành công lớn và là "một thành tích về văn hóa".

Rồi bây giờ miền Nam đã mất, người quốc gia phải di cư đến xứ lạ quê người, thì mỗi người chúng ta, tùy theo tuổi của mình, đem theo trong trí và trong tim của mình, hình ảnh của quê hương qua những địa danh với cái tên cũ bình dân mộc mạc, hay là với cái tên mới Hán tự nghe văn hoa hơn, thì cũng vậy thôi, vì đã mất hết rồi.

Ðến khi mình phải học địa dư của cái "quê hương mới của mình" để "thi" làm công dân Mỹ thì mình mới thấy rằng ở xứ Mỹ này, còn nhiều tên sông, tên núi, tên tiểu-bang, tên thành phố mà viết ra hay nói lên nghe không ra Tây, không ra Tàu, không ra Anh, không ra Pháp hay Ðức, bởi lẽ còn giữ nguyên tên mà người ÐaÐỏ, chủ cũ của đất này đã đặt ra từ trước.

Thí dụ như :

Haii con sông lớn nhứt của nước Mỹ và con sông chảy qua Thủ-đô nước Mỹ vẫn còn giữ tên ÐaDỏ là sông Mississippi tiếng của bộ lạc Algonquian có nghĩa là "big river"; sông Missouri nghĩa là "people of big canoes"; sông Potomac nghĩa là "where tribute is brought". hai dãy núi cao nhứt của Miền Ðông nước Mỹ là Appalachian và Allegheny Mountains.

24 Tiểu bang còn giữ tên ÐaDỏ là :1- Alabama ( là tên của bộ lạc); 2-Arkansas ( nghĩa là:downstream people) ;3-Connecticut ( nghĩa là place of long river); 4-Idaho (là tên của bộ lạc); 5-Illinois (nghĩa là man); 6-Iowa (nghĩa là sleepy ones); 7-Kansas (là tên của bộ lạc và của cái sông); 8-Kentucky (nghĩa là level land, plain); 9-Massachusetts (nghĩa là at the big hill); 10-Michigan (nghĩa là great water); 11-Minnesota (nghĩa là milky blue water); 12-Mississippi (nghĩa là big river); 13-Missouri (nghĩa là people of big canoes) ; 14-Nebraska (nghĩa là flat water); 15-16- North, South Dakota (nghĩa là to think as a friend); 17-Ohio (nghĩa là after the river); 18-Oklahoma (nghĩa là red people);19- Oregon (nghĩa là birch-bark dish); 20-Tennessee (là tên của một làng dân Cherokee); 21-Texas (nghĩa là allies ( against Apaches); 22-Utah (nghĩa là hill dwellers); 23-Wisconsin (là tên của cái sông ); 24-Wyoming ( nghĩa là large plain).

Ngoài ra một Tiểu Bang còn giữ tên người Eskimo là Alaska, và một Tiểu Bang còn giữ tên người Polynesian là Hawaii.

Thêm vào số trên có 8 kinh đô TiểuBang và thành phố lớn còn giữ tên ÐaDỏ là: Tallahassee ( Florida), Topeka (Kansas), Okhoma City (Oklahoma), Cheyenne (Wyoming), Wichita (Kansas), Omaha (Nebraska) Sioux Falls (South Dakota) và Milwakee (Wisconsin). Và còn nhiều quận và làng nhỏ khác vẫn còn giữ tên Ða Dỏ.

Nên để ý rằng dân Ða Dỏ không có chữ viết (écriture) nên những tên kể trên chắc chắn là phiên-âm tiếng Ða Dỏ, như tên TràVinh, Sa Ðéc là phiên âm tiếng Mên. Và có lẽ những tên Ất Ếch, O ?hác, Trà Cú, Trà Kha trong tỉnh nhà và tên Chắc Cà Ðao trong tỉnh Long Xuyên cũng vậy).

Vậy mà cho tới ngày hôm nay với Tổng Thống George W. Bush, là ông Tổng Thống thứ 43 của Mỹ, chưa có ông Tổng Thống Mỹ nào thấy có sự cần thiết phải thay đổi tên cho văn hoa hơn, những địa danh còn mang tên sặc mùi Ða Ðỏ để thực hiện " một thành tích về văn-hóa" cho nước Mỹ và cho dân Hoa-kỳ. Ðâm ra, ít nữa về phương diện này, dân Ða Ðỏ may mắn hơn dân Nam Kỳ là nếu họ có tục lệ cúng kiến tổ tiên thì ông bà của họ còn biết đường về ăn giỗ. Phải chăng đó cũng là một bài học ?

Tái bút. Nhắn tin Ông bạn đồng hương Hai Quẹo mà tôi không hân hạnh được quen biết.

Tôi rất cảm động và thích thú khi đọc bài "Tôi Yêu Quê Tôi" của Ông (Ðặc San TràVinh Xuân Quý Mùi 2003, tr.60-68). Ngoài việc Ông nhắc lại một cách rõ rệt nguồn gốc của tên tỉnh nhà (như đã nói ở đoạn trên), và nhắc tới những vùng đặc biệt trong tỉnh có các thứ trái cây ngọt, món ăn ngon, Ông còn có câu " của Cesar đã trả lại cho Cesar " về tên của tỉnh nhà, và đoạn văn phân tách được lối nói chữ V rất đặc biệt của người Nam mà tôi hết sức hoan nghinh nên tôi xin chép lại nguyên văn để cho độc giả của Ðăc San năm nay thưởng thức "Giọng nói của dân Nam nói chung, dân TràVinh nói riêng, nghe nó khô rom, gọn ơ, tròn vo như giọng Mỹ nói tiếng Anh vậy, không xẹp lép ở đầu lưởi ngoài môi, không dẽo nhẹo xì xèo vướng dầu mở của giọng Quảng Ðông, như cái kiểu : ông trjời, anh dzũng, ăn trjưa chjưa, con trjâu ăn rjơm trjong chjuồng....Cho nên không thể có mấy tiếng đi djìa hay dzề, đi dzô, thấy dzậy mà không phải dzậy vì đây là sự nhái giọng một cách thiếu thông minh của mấy tay nhà báo lá cải, ham ăn ham nói. Các bạn cũng biết được thầy dạy kỹ: vìa đọc là biìa, về đọc là biề, vào đọc là biào....Dân Vĩnh Long, Bến Tre, Mỹ Tho và Út Trà Ôn, Thành Ðược nói, ca đều phát âm y chang như vậy.Nghe có hơi hướm giọng Fải Fố xưa xưa?

Tôi xin thú nhận là mỗi khi tôi thấy "người ta" viết trong báo hay trong sách: đi dzô , đi dzề, như dzậy....để chế giễu lối nói chữ V của người Nam, thì tôi tức giận lắm, bởi vì cái "dz dz".. không hề có trong giọng nói chữ V của người Nam, nên tôi hết sức hoan nghinh đoạn văn trên đây của Ông bạn đồng hương Hai Quẹo, diễn tả được lối nói chữ TR và CH của "người ta" và lối nói chữ V đặc biệt của người Nam, mà "người ta", như Ông Hai viết, " vì ham ăn ham nói nên nhái giọng một cách thiếu thông minh."

Vỗ Tay Hoan Hô Bravo Ông Hai.

NGUYỄN LƯU VIÊN


Kính Chào
Linh Phượng
Go to Top of Page

Linh Phuong
Moderator

USA
97 Posts

Posted - 03/06/2006 :  18:15:47  Show Profile  Reply with Quote

Sự Hình Thành Đất Nam Kỳ Lục Tỉnh và Tỉnh Trà Vinh
Vĩnh Trường



Tại Miền Nam ngày nay, các dân tộc Việt, Miên và Hoa cùng sống chung hòa hợp như anh em một nhà, lẽ ra không nên khơi lại chuyện cũ . Nhưng đây là lịch sử, chúng tôi cố gắng y cứ vào sử liệu thuật lại vô tư và khách quan, để tránh mọi hiểu lầm, để chúng ta cùng tìm hiểu một giai đoạn lịch sử Nam tiến của dân tộc kéo dài khoảng 800 năm từ năm 939 đến năm 1759.

Một điều chúng ta cần hiểu rỏ thêm là đất “Nam Kỳ Lục Tỉnh” thật ra cũng không phải là lảnh thổ ”hương hỏa” hay “phụ ấm” của Vương quốc Khmer mà sự thật giống dân Phù Nam mới là cư dân tiên khởi của vùng nầy, và thủ phủ phồn thịnh một thời của họ từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VI là thương cảng Óc-Eo ( trong vùng núi Sập & Ba Thê, quận Thoại Sơn cách thành phố Long Xuyên độ chừng 30 km).

Đến thế kỷ thứ VII, Vương Quốc Khmer hùng mạnh chiếm lỉnh và tiêu diệt vương quốc Phù-Nam rồi lâu dần đồng hóa dân tộc ấy sống theo phong tục tập quán thành như người Khmer vậy.

I Sự Hình Thành Nam Kỳ Lục Tỉnh :

Kể từ năm 1558, sau khi bị Chúa Trịnh lấn lướt ở miền Bắc, Nguyển Hoàng tìm cách xin vào trấn thủ ở phương Nam và kín đáo xây dựng cho mình và con cháu một sự nghiệp riêng ở Xứ Đàng Trong từ dảy Hoành Sơn tới ranh giới của vương quốc Chiêm Thành. Mỗi khi các Chúa Trịnh ở phương Bắc lấn áp Chúa Nguyển thì vương quốc Chiêm Thành thường lảnh đủ các hậu quả đó. Chúa Nguyển ngoài việc chống đở với Chúa Trịnh, còn khai khẩn đất đai và mở rộng bờ cỏi về phương Nam. Lấy đất của Chiêm Thành và Chân Lạp để thành lập các Tỉnh Bình Định năm 1558, Phú Yên năm 1611, Khánh Hoà năm 1653, Biên Hòa và Gia Định năm 1698 và Hà Tiên năm 1708.

Chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu trong 34 năm ở ngôi chúa (1691-1725), ông đã có những đóng góp quan trọng đối với lịch sử mở mang đất đai của dân tộc. Năm 1698, người dưới trướng của chúa là Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh ( có sách ghi là Nguyển Hửu Kính) đã tiến về phương nam, thành lập trấn Gia Ðịnh, chính thức mở rộng biên cương với địa hình cơ bản như hiện nay.

Có nhiều tài liệu nói về giai đoạn này. Ngay từ đầu thế kỷ XVII tất cả các vùng có thể khai thác nông nghiệp đều đã thu hút di dân người Việt: châu thổ sông Đồng Nai, sông Mê Kông và cho tới sông Mê Nam của Thái Lan (đã có các làng người Việt ở Tonlé Sap và thậm chí ở Ayuthia, kinh đô Xiêm xưa.

Làn sóng di cư này càng mạnh kể từ khi vương quốc Chàm bị xóa sổ năm 1696. Bằng tàu bè người Việt đến định cư đầu tiên tại các vùng ven biển Bà Rịa, Đồng Nai trong đó có cả vùng đất Sài gòn. Đồng thời các dân tộc bản địa như Stieng, Mạ, Koho và Mnong rút về hướng Bắc. Riêng các làng Khmer thì rút về Tây ninh chung quanh núi Bà Đen.

Nguyên nhân khiến người Việt di cư về phương Nam một cách tự phát này là các khó khăn kinh tế, các ràng buộc khắt khe của đời sống và tổ chức xã hội và cũng vì tình hình cuộc chiến tranh kéo dài trên lãnh thổ Việt Nam lúc đó. Xét trên nhiều phương diện đây toàn là những người "có óc phiêu lưu", có bản lĩnh, do đó mới dám rời quê cha đất tổ.

Di dân người Việt luôn giữ được bản sắc của mình như phong tục tập quán nhưng cũng hội nhập dễ dàng với dân bản xứ. Định cư người Việt có hai cách: Thứ nhất là họ sống hòa nhập vào các trung tâm, phố xá của người Khmer qua các hoạt động thủ công nghiệp, thương mại và vận tải hàng hóa. Đặc biệt một số được triều đình Khmer trọng dụng trong công việc đóng tàu.

Dạng định cư thứ hai của người Việt là các thôn ấp đặc thù trên các vùng chính họ đã khai hoang để sinh sống bằng nghề nông. Ngay thời điểm này người Việt đã biến Sài gòn thành một trung tâm thương mại và thủ công nghiệp. Hoạt động chợ búa và thương điếm Sài gòn đã thực sự sánh vai ngang hàng với các kinh đô Phnom Penh và Ayuthia. Từ thế kỷ XVII, Sài gòn đã trở thành nơi thu hút các tàu buôn, ghe thuyền Việt, Trung cũng như tàu Mã Lai, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hòa Lan cạnh tranh dữ dội nhằm độc quyền buôn bán các tài nguyên trong vùng.

Từng bước một từ 1623 đến cuối thế kỷ 17, chủ quyền Việt Nam được khẳng định trên nền đất từng thuộc ảnh hưởng Khmer này. Đây có thể nói là một sự hợp thức hóa quá trình định cư tự phát của người Việt đã diễn ra từ rất lâu như vừa nêu ở trên. Triều đình Cao Miên vì sự đe dọa liên tục của Xiêm La nên luôn chủ động giao hảo tốt với nhà Nguyễn. Năm 1620 chẳng hạn, quốc vương Prey Chey Chetha II xin cầu thân và kết hôn cùng công chúa nhà Nguyễn là Công chúa Ngọc Vạn.Vua Chân Lạp tặng Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên ( 1613-1634) đất Đồng Nai để làm quà cưới, nhưng vì bận đối phó với chúa Trịnh nên chúa Nguyễn chưa thể đưa người vào khai phá ngoài những dân phiêu lưu và tội phạm bị đày xa xứ.Sau đó, năm 1623 Chúa Sải thiết lập trên đất Sài Gòn ( tức Prei Nokor ) này một trạm thu thuế nhập thị và thương chính.

Sự kiện này chứng minh tầm quan trọng về vị trí thương mại và chiến lược của Sài gòn trong các toan tính của Chúa Nguyển. Và theo các sử gia Tây phương, nếu đây không là một cuộc chinh phục được ngụy trang thì chỉ ít trạm thu thuế cũng là các đài quan sát luồng xuất nhập hàng hóa và do đó đo lường được sự trù phú về tài nguyên của toàn vùng. Lại có thêm nhiều trạm thuế khác rải rác vùng lục tỉnh tương lai mục đích không ngòai việc kiểm soát vùng đất mới này.

Theo các tài liệu Việt cũng như Khmer, đã có hai lần nhà Nguyễn động quân. Lần đầu vào năm 1658,Quốc Vương Chân Lạp là Nặc Ông Chân xua quân tàn sát người Việt lập nghiệp vùng Bà Rịa, Biên Hòa, Chúa Hiền Nguyển Phúc Tần ( 1648-1687) sai quan Khâm mạng Trấn Biên Dinh ( Phú Yên ) là Nguyển Phúc Yến đem 3000 quân đến Mô Xoài ( Bà Riạ ) đánh trả và bắt được Nặc Ông Chân đưa về Quảng Bình. Lần thứ hai năm 1672, khi vua Chey Groetha III ( Nặc Ông Đài ) làm loạn, giết cha vợ là vua Batom Reachea rồi dẩn quân Xiêm tiến chiếm thành phố Sài Côn và tàn sát những người Việt đang sinh sống khai phá ở Mô Xoài, Đồng Nai. Năm 1674, Chúa Nguyển cất quân bắt giết Nặc Ông Đài và đuổi quân Xiêm vế tận biên giới rồi lập Nặc Ông Thu lên làm vua, đóng tại Oudong, đồng thời buộc nhà vua chấp nhận một Phó vương đóng tại Sài gòn là Nặc Ông Nộn. Cả hai Chánh, Phó vương đều phải triều cống nhà Nguyễn. Bốn năm sau chủ quyền của họ ngày càng giảm nhất là từ khi đồn Tân Mỹ được lập nên, đánh dấu một bước tiến mới của việc thiết lập chủ quyền người Việt.

Trong cùng một toan tính, Chúa Nguyễn đã chủ động cho phép một nhóm khá đông di dân người Hoa đến lập nghiệp tại những vùng đất trên danh nghĩa vẫn còn dưới quyền cai trị của triều đình Cao Miên.

Năm 1680 có 2 Tướng Trần Thắng Tài, ( có nơi ghi là Trần Thượng Xuyên) Dương Ngạn Địch và khoảng 3.000 quân sĩ người Hoa trên 50 chiến thuyền cập bến Đà Nẵng. Các binh lính và gia đình của họ xin được quy phục nhà Nguyễn, lấy cớ là trung thành với nhà Minh ( tóc dài) nay họ không thể sống dưới nhà Thanh Mãn Châu ( cạo đầu và để đuôi sam ) mới lên... Trước vấn đề khó xử này chúa Nguyễn Hiền Vương đã nghĩ ra cách là nên sử dụng nhóm lâu la đó vào công cuộc Nam tiến bằng cách cho người hướng dẩn họ lập nghiệp tại một số vùng đồng bằng phương Nam là đất Biên Hòa và Mỷ Tho. Như vậy nhà Nguyễn vừa khéo léo đuổi được đám tàn quân khó kiểm soát đồng thời sử dụng họ chiếm giữ giùm cả một vùng lãnh thổ không thuộc chủ quyền của mình.

Một cánh người Hoa theo Trần Thăng Tài đến định cư ở Đồng Nai trên địa điểm gần Biên hòa ngày nay. Một cánh khác theo Dương Ngạn Địch về Tiền Giang vào sông Soai Rạp qua 2 cửa Tiểu và Đại rồi đồn trú tại Mỹ Tho và họ nhanh chóng làm chủ hoạt động giao thông vận tải suốt vùng đồng bằng Cửu Long (kể cả "hoạt động" hải tặc !). Mỗi ngày tàu bè ngoại quốc ra vào càng nhiều; di dân người Việt đổ về ngày càng đông. Nếu người Việt tập trung trong các ngành nông và thủ công nghiệp thì các ngành vận tải đường thủy và kinh doanh thóc gạo nằm toàn bộ trong tay người Hoa.

Vai trò của người Hoa trong sự củng cố ảnh hưởng của triều Nguyễn trên vùng đất mới là điều không thể chối cãi song cũng có lúc họ tỏ ra khó trị. Đặc biệt năm 1688, có sự bất hòa giửa hai phe người Hoa, Huỳnh Tấn là thủ hạ của Trần Thắng Tài kéo quân xuống Mỷ Tho bắt giết Dương Ngạn Địch, lập đồn lủy để chống nhau với Chân Lạp. Chúa Ngải Nguyển Phúc Thái (1687-1691) đã nhanh chân dụng mưu chận giết Huỳnh Tấn dẹp tan nhóm giặc khách tạo phản, và làm chủ tình thế hai thành phố tân tạo Đồng Nai và Mỹ Tho, rồi thuyết phục nhóm người Hoa trung thành tham gia vào cuộc chiến, kéo quân thẳng tới Oudong bắt vua Chân Lạp phải theo lệ triều cống.

Về phương diện kinh tế và chính trị nhóm người Khmer không có chỗ đứng đáng kể. Các trục trặc trong việc truyền ngôi của vương quốc Khmer đã từ từ dẫn đến hậu quả là Sài Gòn và kế đến là đồng bằng Cửu Long vĩnh viễn về tay Việt Nam: năm 1697 nhà vua ở Oudong băng hà, Nặc ÔngYêm là phó vương đóng tại Giản Phố (tức là Sàigòn) lên thay và chúa Nguyễn Phúc Chu chụp lấy cơ hội, năm 1698, bổ nhậm Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào chức phó vương bỏ trống này. Ngay sau đó Phủ Gia Định được thiết lập và chia ra thành nhiều đơn vị hành chính đứng đầu là các quan văn và võ.

Nguyển Hửu Cảnh chia đất Giản Phố ra làm dinh, huyện; lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long và xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, đặt ra hai dinh Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định, “Trấn” là khu vực quân sự, chưa ổn định việc cai trị ) cho quan vào cai trị. Từ đó, xứ Sài Gòn trở thành huyện Tân Bình và huyện sở đặt ở làng Tân Khai, là trụ sở của dinh Phiên Trấn. Những xóm làng đầu tiên của Sài Gòn là xóm Hòa Mỹ (tức xóm Thủy Trại, gần đường Cường Để) xóm Tân Khai (đường mé sông khoảng cầu Mống), xóm Long Điền, xóm Than, xóm Bàu Sen (cây Mai), xóm Phú Giáo, xóm Lò Bún, xóm cây Củi, xóm Rẫy Cải, xóm Ụ Ghe. Lại lấy xứ Lộc Dã (Đồng Nai) đặt làm huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên, rồi đưa dân từ Quảng Bình, Thuận Hóa trở vào cùng với người Minh khai lập đồn điền, đặt thôn ấp. Thanh Hà là xã đầu tiên của người Hoa, vùng Đồng Nai và Minh Hương là xả của người Hoa đầu tiên tại Tân Bình .



Vào năm 1679, Mạc Cửu lảnh đạo một nhóm người Hoa khác không thần phục nhà Mãn Thanh, chạy sang Chân Lạp, được vua Cao Miên là Nặc Ông Chân phong chức Ốc Nha (âm tiếng Oknha, chức vụ tương đương tỉnh trưởng) cho cai quản vùng đất Mang Khảm tức huyện lỵ Hà Tiên; nhưng Mạc Cửu thường bị quân Xiêm quấy phá, năm 1687 quân Xiêm đánh vào Hà Tiên, cướp phá và bắt Mạc Cửu đem về giam lỏng tại Muang Garabury nhưng Chân Lạp không giúp gì được. Năm 1700 Mạc Cửu đã trốn về được và từ đó Ông quyết định xin thần phục chúa Nguyễn để nhờ che chở (1708). Từ đó, đất Hà Tiên thuộc về nước ta và được kể là một trong sáu tỉnh của miền Nam vào đời Minh Mạng. Mạc Cửu vẫn được tự trị cai quản vùng đất này, rồi mở rộng đất đại và thành lập ra bảy thôn ấp ven biển từ Vủng Thơm ( Kompong Thom ), Trủng Kè ( Long Kỳ, Réam ), Cần Vọt ( Kampot, Cần Một ), Hà Tiên, Rạch Giá chí tới mủi Cà Mau, Phú Quốc, năm 1735 Ông bị bệnh

rồi mất. Sau đó, con ông là Mạc Thiên Tích tiếp nối chí ông, nới rộng thêm đất canh tác tới vùng sông Cái Lớn, sông Gành Hào ( Trấn Di ) và sông Ông Đốc…(Trấn Giang, Cần Thơ )

Năm 1737 thời Chúa Ninh Vương Nguyển Phúc Thụ (1725-1738) toàn cỏi phía Nam của sông Hậu từ mủi Cà Mau mở rộng đến Châu Đốc đều thuộc về chúa Nguyển.

Tuy vậy, còn một giải đất giửa hai Sông Tiền và sông Hậu gọi là Tầm Phong Long, còn nhiều người Khmer sinh sống vẫn còn thuộc chủ quyền của Chân Lạp.

Năm nhăm Tý (1732 ) chúa Nguyển Phúc Chu sai cắt một phần đất Gia Định để thành lập Châu Định Viển, dựng Dinh Long Hồ tại Cái Bè, gọi là Cái Bè Dinh. Bên kia sông Tiền Giang là nơi tập trung nhiều Sóc của người Miên vùng Trà Vang. Có thể đã có nhiều lưu dân Việt Nam đã đến đó làm ăn, khẩn hoang rải rác ở nhiều nơi.Năm 1753,nhân việc vua Chân Lạp là Nặc Ông Nguyên ( Ang Snguôn ) đàn áp người Côn Man ( Người Chàm di cư từ những năm 1693 )ở miền Nam, chúa Vỏ Vương Nguyển Phúc Khoát ( 1738-1765 ) liền sai Nguyển Cư Trinh điều khiển toàn quân 5 Dinh trong Nam gồm Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ, Bình Khương và Bình Thuận, Trương Phúc Du làm phó Tướng phụ giúp tổng tấn công Chân Lạp.Năm 1754, đại quân của chúa Nguyển tấn công dữ dội vào đất Lôi Lạp,Tầm Bôn, Ba Nam, Nam Vang. Quân của Nặc Ông Nguyên tan rả và chạy trốn. Năm 1755, Nặc Ông Nguyên chạy về Hà Tiên cầu Mạc Thiên Tứ che chở và tâu với Chúa Nguyển xin dâng 2 phủ Tầm Bôn (Tân An ) và Lôi Lâp ( Gò Công ) để chuộc tội.Chúa Nguyển không đồng ý, sau nhờ Nguyển Cư Trinh phân trần, chúa Nguyển mới chấp nhận, sát nhập hai phủ nầy vào Châu Định Viển, Long Hồ Dinh và cho Nặc Ông Nguyên về nước.

Năm 1757, Nặc Ông Nguyên mất, Chú là Nặc Nhuận ( Neac Ang Nhuan) lên thay, có ý kiêng nể triều đình ta nên dâng đất Trà Vang và Ba Thắc ( Sóc Trăng ) để cầu phong. Chúa cho lập Phủ Trà Vinh và Phủ Mân Thít ở Trà Vang. Lỵ sở của Phủ Trà Vinh được đặt tại thôn Vĩnh Trường (nay là Vĩnh Bảo,Vĩnh Trường,Xuân Thạnh xả Hòa Thuận, đình Vĩnh Trường vẫn còn sắc chỉ của chúa ) Chẳng bao lâu,Nặc Nhuận bị con rể là Nặc Hinh giết chết cướp ngôi. Con Nặc Nguyên là Nặc Tôn lên thay và chạy qua Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ dâng sớ tâu trình xin viện binh cứu giúp. Chúa Vỏ Vương y tấu sai Trương Phúc Du thống lảnh quân đội ở Long Hồ và Ngưu Chử (Bến Nghé ) đánh dẹp Nặc Hinh và đưa Nặc Tôn trở lại ngôi. Nặc Hinh thua chạy và bị thuộc hạ là Ốc Nha Uông hạ sát ở Tầm Phong Xoài, vợ con bỏ trốn sang Xiêm.

Đến năm 1759, Quốc Vương Chân Lạp là Nặc Tôn nhờ Chúa Nguyển đem quân sang trợ giúp để giử yên bờ cỏi, và cũng để nhờ bảo-hộ khỏi bị Xiêm La dòm ngó , Nặc Tôn cắt phần đất Tầm Phong Long còn lại (gồm 3 Tỉnh : Châu-Đốc, Sa-Đéc và Vỉnh Long) nhượng cho Chúa Nguyển và cũng được sát nhập vào Long Hồ Dinh. Đến năm nầy, cuộc Nam tiến của Dân Việt coi như hoàn tất về mặt chính trị. Toàn cánh đồng phì nhiêu mênh mông bát ngát, một vựa lúa to lớn của Việt Nam đều thuộc quyền cai quản của Chúa Nguyển.

II Đất Nam Kỳ Lục Tỉnh Dưới thời Chúa Nguyển và Tây Sơn :

Sau khi thi hành xong nhiệm vụ bình định, Nguyển Cư Trinh lại nghĩ đến kế hoạch phòng thủ lảnh thổ miền Nam. Ông đã xin với chúa dời Dinh Long Hồ về đất Tầm Bao ( tức là tỉnh lỵ Vĩnh Long ngày Nay) rồi đặt nhiều căn cứ quân sự gọi là đạo ở khắp miền Tây như Tây Ninh Đạo,Tân Châu Đạo ( cù lao Giêng ), Châu Đốc Đạo, Đông Khẩu Đạo ( Sa-Đéc) Kiên Giang Đạo ( Rạch Giá ) và Long Xuyên Đạo (Cà Mau ) để ngăn ngừa quân Xiêm xâm nhập.

Năm 1765 ở Đàng Trong, chúa Vỏ-Vương Nguyễn Phúc Khoát mất thì sinh rối loạn do quyền thần Trương Phúc Loan, hủy bỏ di chiếu của Chúa, phế lập bất minh. làm nhiều điều tàn ác, dân chúng oán giận.

Năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ khởi nghĩa ở làng Tây Sơn (Bình Định), đánh chiếm Quy Nhơn rồi lấy luôn từ Quảng Ngãi vào Bình Thuận.

Chúa Trịnh thừa cơ miền Nam rối loạn bèn sai quân vào đánh lấy Phú Xuân (1775). Chúa Nguyễn bị thua, chạy vào Quảng Nam, nhưng lại bị Nguyễn Nhạc đánh bại, nên phải trốn vào Gia Đinh.

Lúc đó, Nguyễn Nhạc thấy quân Trịnh đang mạnh bèn hàng thuận để khỏi lo mặt Bắc, rồi sai em là Nguyển Huệ và Nguyển Lử tiến quân đánh chúa Nguyễn. Chiếm lấy đất Gia Định (1777). chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần ( 1765-1777 ) bị giết chết tại Long Xuyên, các tùy tướng tôn Nguyển Ánh lên làm Đại Nguyên Soái, quyền coi việc nước ( tháng Giêng năm Canh Tý 1778 ).

Sau khi thắng miền Nam, Nguyễn Nhạc lên ngôi vua, xưng hiệu là Thái Đức, lập kinh đô ở thành Đồ Bàn năm 1778.Tháng 11 năm ấy, Nguyển Ánh sai Đổ Thành Nhơn cùng dốc toàn lực đánh lấy lại Sài Gòn, Nguyển Lử thua bỏ chạy về Qui Nhơn.

Tháng 11,năm Kỷ Hợi (1779) ,Nguyển Ánh duyệt lại bản đồ các Dinh thuộc Gia Định Thành, phân định lại ranh giới các Dinh, nâng đất Mỷ Tho lên làm Dinh Trường Đồn đồng thời dời Dinh Long Hồ về bải Hoằng Trấn hay còn gọi là Tân Dinh châu, tục gọi là bải Bà Lúa, dài 300 dậm, ngang 15 dậm, cách trấn lỵ Long Hồ trên 30 dậm về phía Nam, vốn là một con giồng đất cao rộng, có sông Tiền sông Hậu bao quanh, vị trí thuộc huyện Tuân Nghỉa, phủ Lạc Hoá tức là vùng phía dưới Trà-Vinh một đổi. nhằm mục đích chế ngự toàn vùng rộng lớn Ba Thắc, Cần Thơ, Trà Vinh và vùng bờ biển.

Năm 1780, Vì có lệnh tuyển mộ binh lính,Viên cai quản người Miên ở phủ Trà-Vinh là Ốc Nha Suốt chống lại mệnh lệnh. Dựa vào địa thế hiểm trở, rừng rú rậm rạm, giỏi nghề bắn nỏ, lại dùng trận phục ngưu, rình khi quân triều đình sơ hở, cởi trâu móng lớn chân dài, kết thành từng đội thả ra đánh giầy, xéo, húc, chọi, quân triều đình không sao thắng được suốt cả mấy tháng trời.Tháng Tư,Nguyển Ánh sai Tướng Đổ Thành Nhơn đánh dẹp. Đổ thành Nhơn nhờ hiểu rỏ địa thế, áp dụng chiến thuật khôn khéo xử dụng những quân tinh nhuệ, mộc da súng lớn, phát quang rừng rú, bức vây sào huyệt và đã bắt được viên thủ lảnh là Ốc Nha Suốt rồi chiêu dụ mấy tên dư đảng, ban phát lương gạo cho về nhà làm ăn; phủ Trà Vinh mới được an ổn.

Cùng năm nầy,bên Vương Quốc Chân Lạp có loạn, cầu cứu với Chúa Nguyển xin viện binh khẩn cấp, mãi đến 6 tháng sau mới có lệnh cho Đông Sơn Thượng Tướng Quân, Phương Quận Công Đổ Thành Nhân điều binh từ Dinh Hoằng Trấn sang đánh bắt Nặc Ông Vinh giết đi rồi đưa con Nặc Ông Tôn là Nặc Ông Ấn về nước. Sở dỉ chậm trể là vì lý do đường xá xa xôi Dinh Hoằng Trấn ở lệch một phương nên khi Cao Miên có việc, khó mà ứng phó kịp thời nên năm Canh Tý, Chúa cho dời Dinh về chốn củ tức là Long Hồ và đổi thành Dinh Vĩnh Trấn...

Năm Nhâm Dần 1782, tháng 3, hai anh em Tây Sơn là Nguyển Nhạc và Nguyển Huệ từ Qui Nhơn đem hơn 100 chiến thuyền vào cửa Cần Giờ, phá tan quân của Nguyển Ánh tại sông Thất Kỳ do Tống Phúc Thiêm chỉ huy,Chánh Cơ Mạn Hoè (Emanuel, một thủy thủ người Pháp ở Ma-Cao được giám mục Pigneau de Behaine đưa sang giúp cho Nguyển Ánh) phải bị chết cháy trên tàu. Nguyển Ánh nhờ Lê Văn Duyệt cứu giúp chạy trối chết về Trà Vinh qua ngã kinh Láng Thé rồi chạy ra đảo Phú Quốc và sang Xiêm cầu viện.

Lê Văn Duyệt sinh năm Giáp Thân (1764) tại Cù Lao Hổ, cạnh Vàm Trà Lọt nay thuộc làng Hòa Khánh, tĩnh Định Tường. Nội tổ là Lê Văn Hiếu di dân từ Quảng Ngải. Thân phụ là Lê Văn Toại, sau này rời Vàm Trà Lọt đến cư trú bên Rạch Ông Hổ (vùng Rạch Gầm) nay thuộc làng Long Hưng Tây tỉnh Định Tường.

Khi sinh ra đã mang tật kín (ái nam) nên tính khí cũng khác người thường.Rất khỏe mạnh, rất thông minh, giỏi võ thuật, tuy không có đi học nhiều, nhưng biết rất nhiều về truyện Tàu cùng các anh hùng hảo hán cũng như tư cách, tài năng và cách xử sự của họ ở trong đời. Ông có chí lớn, mới 15 tuổi đã có câu nói “sinh ở đời loạn, không hay dựng cờ trống đại tướng, chép công danh vào sử sách không phải là trượng phu.”

Năm 17 tuổi Ngài đã có dịp cứu Nguyễn Ánh cùng vài người tùy tùng khỏi tử thần. Đêm hôm đó Nguyễn Ánh bị quân Tây-Sơn săn đuổi gấp. Nhờ mưa to gió lớn thuyền của quân Nguyễn Lữ không đuổi theo kịp. Nhưng khi đến Vàm Trà Lọt thì thuyền chở Nguyễn Ánh và đoàn tùy tùng bị sóng lớn làm cho suýt bị chìm. Lê Văn Duyệt xuất hiện kịp lúc, đỡ thuyền Nguyễn Ánh đưa vào bờ, giúp Nguyễn Ánh thoát nạn. Biết Nguyễn Ánh là dòng dõi chúa Nguyễn, cụ Lê Văn Toại hết sức cung kính, giúp cho Nguyễn Ánh và đoàn tùy tùng tạm trú ở đây mấy hôm. Sau đó Nguyễn Ánh lại phải tiếp tục tìm đường lẩn trốn đoàn quân Tây Sơn đang lục soát các nơi lùng bắt. Lúc chia tay Nguyễn Ánh cám ơn ông bà Lê Văn Toại với lời hứa là sau này sẽ trở lại đem Lê Văn Duyệt theo.Giữ đúng lời hứa, năm 1786 sau khi lên ngôi Chúa và chuẩn bị tiến đánh thành Gia Định, Nguyễn Ánh trở lại Vàm Trà Lọt cám ơn vợ chồng ông Lê Văn Toại đã giúp ông trong cơn hoạn nạn, và tuyển dụng Lê Văn Duyệt làm thái giám. Từ đó Ngài xả thân phò Chúa Nguyễn Ánh,


Năm Giáp Thìn 1784, Châu văn Tiếp phò Nguyển Ánh, dẩn 2 vạn quân Xiêm và 300 Tháp thuyền ( chiến thuyền có phòng chỉ huy hình như cái tháp, có trí súng đại bác, thủy thủ ngoảnh mặt về phía lái mà chèo) do hai tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương chỉ huy,về chiếm Sóc Trăng rồi Trà Ôn, Mân Thít. Quân Xiêm đi đến đâu, cướp của giết người, hảm hiếp phụ nử đến đó, tàn ác không ai có thể ngăn cản nổi và khi kịch chiến với quân Tây Sơn tại vàm sông Mân Thít, Châu Văn Tiếp bị Tướng Tây Sơn là Chưởng Tiền Bảo đâm vào ngực một mủi gươm, ông thét to lên rồi ngã gục tại trận tiền. nhằm ngày 13/10 năm Giáp Thìn. Đại quân của Xiêm bị Long Nhưởng Tướng Quân Nguyển Huệ phá tan trên sông Rạch Gầm Mỷ Tho vào ngày 8 tháng Chạp sau đó.

Tại hai bờ Sầm Giang (tên của sông Rạch Gầm trước kia) rậm rạp, Nguyển Huệ đem hàng chục chiến thuyền giấu vào đây để mai phục. Những chiến thuyền lớn được trang bị 50, 60 khẩu thần công, hàng trăm súng hỏa hổ (súng phun lửa), khoảng 700 chiến binh trên một chiến thuyền. Phía trên bờ, cả bờ Tiền Giang, bờ Bến Tre, bờ cù lao Thới Sơn có hàng ngàn đại bác, xưa gọi là “thần công”. Hơn ba vạn quân được Nguyễn Huệ huy động vào một trận đánh chiến lược,đánh để tiêu diệt, đánh để kết thúc trận chiến. Khi nhử được 300 chiến thuyền Xiêm vào khúc sông rộng lớn, hàng ngàn khẩu thần công từ ba bờ nhả đạn. Tiếng gầm của hàng ngàn đại bác đã làm cho quân Xiêm kinh hồn, bạt vía, không biết làm gì để chống đỡ. Đội hình chiến thuyền của quân Xiêm bị rối loạn. Tiếp đó, mấy trăm chiến thuyền của Nguyễn Huệ xông ra, chận đầu, khóa đuôi, phóng hỏa hổ vào thuyền chiến Xiêm. Hỏa hổ là thứ vũ khí lợi hại nhất của thời ấy, gặp nước nó càng cháy, không cách gì dập tắt. Trận đánh chỉ diễn ra vài tiếng đồng hồ rạng ngày mùng 8 tháng Chạp năm Giáp Thìn (18/1/1785 ) không một thuyền chiến nào của quân Xiêm không bị bốc cháy. Hai vạn quân thủy bộ chỉ còn vài ngàn bơi được lên bờ, chạy thục mạng về đất Cao Miên rồi chạy thẳng luôn về Xiêm vì sợ quân Việt truy sát.

Năm 1788, Nguyển Ánh lại chiếm được Gia Định, Long Hồ Dinh được đổi tên lại là Vĩnh Trấn Dinh, rồi nhân cơ hội anh em Tây Sơn bất hoà, cùng nhờ được một số người Pháp như Cook, Moyse, Olivier, Dayot, Vannier, Laurent Barizy, De Forsans..giúp sức và luyện tập binh sĩ theo lối Tây phương nên tính việc đánh Bắc Hà.

Từ năm 1790 cứ theo mùa gió Nồm (thổi từ nam lên bắc) Nguyễn Ánh đem binh thuyền ra đánh phá Tây Sơn, khi đổi chiều gió thì rút đị Cho nên dân chúng gọi các trận ấy là "giặc mùa".

III Trà Vinh dưới Triều Nhà Nguyễn :

Nguyễn Ánh đánh Qui Nhơn 3 lần mới thắng (1799) rồi đổi tên là Bình Đinh.Năm 1801 Nguyễn Ánh mang toàn lực hạ thành Phú Xuân (Huế). Vua Cảnh Thịnh phải chạy ra Bắc. Chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, xưng là Gia Long năm 1802. Lập kinh đô ở Phú Xuân và đổi tên nước là Việt Nam.

Gia Long ra đánh Bắc Hà trong vòng một tháng thì toàn thắng, vua Quang Toản cùng các tướng đều bị bắt rồi bị giết. Thời Tây Sơn chấm dứt năm 1802, Nguyễn Ánh chiếm được Thăng Long và thống nhất đất nước ngày 20 tháng 7 năm 1802.

Dưới thời vua Gia Long, hải tặc Mã Lai và Tàu Ô thường khuấy phá những thuyền buôn người Việt lưu thông giữa bờ biển Trung phần với Sài Gòn. Triều đình cử ba đạo quân đến đóng ở mũi Vũng Tàu và đặt tên cho dinh trại đầu tiên là Phước Thắng.

Cho đến năm 1822, giặc cướp biển không còn dám léo hánh vùng này nữa. Để thưởng công, triều đình cho ba vị Đội trưởng giải ngũ và cai quản ba vùng đất để khai phá, lập nghiệp. Ông Phạm Văn Đinh coi làng Thắng Nhứt, ông Lê Văn Lộc giữ làng Thắng Nhì và ông Ngô Văn Huyền điều hành làng Thắng Tam. Tuy nhiên, dân chúng trong ba làng cũng lập thành lũy để ngăn ngừa giặc cướp trở lại. Ba làng này thuộc trấn Biên Hòa.

Năm 1820 Gia Long băng hà, Minh Mạng lên nối ngôi việc cai trị ở trấn Vĩnh Thanh vẩn giữ nguyên trạng. Đến năm 1832 mới đổi tên lại là Vĩnh Long Trấn, Vĩnh Long có tên từ đấy.và chia đất ra thành 4 phủ: Định Viển, Hoằng An, Hoằng Trị và Lạc Hóa. Phủ Lạc Hóa gồm 2 huyện: Tuân Nghỉa có 5 Tổng 76 xả; huyện Trà-Vinh có 6 Tổng và 70 xả.. Sau khi Lê Văn Duyệt mất (2.00 giờ ngày 1 tháng 8 1932 ) vua Minh Mạng bải bò chức Tổng Trấn Gia Định Thành và chia Nam Kỳ thành 6 Tỉnh trực thuộc Triều Đình Huế: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. ( Trà-Vinh vẩn là phủ Lạc Hóa thuộc tỉnh Vĩnh Long )

Đầu Tỉnh là Tuần Phủ, phụ tá có các quan Án Sát, Bố Chánh, Lảnh Binh để lo các việc hành chánh và quân sự. Trong toàn tỉnh Vỉnh Long có 3 quan- ái để thu thuế, một ải tên là Ải Thiện Mỷ ở bên tả ngạn sông Trà Vinh.

Năm Minh Mạng thứ tư (1823 ) nhận thấy thôn Vĩnh Trường quá gần sông lớn và biển tuy có lợi thế về giao thông ,buôn bán, thu thuế nhưng không thuận lợi về mặt phòng thủ của một thủ phủ, Triều đình cho dời lỵ sở Trà Vinh về Sóc Thanh Sái, ( Srok, Sóc là thị trấn lớn có nhiều người Miên quần tụ) cũng là một con giồng cao ráo rộng lớn, dể đi lại cách Vàm Trà-Vinh khoảng 2 cây số. Ngày nay Sóc Thanh Sái được đổi tên lại là Thanh Lệ.Ngôi đình Thanh Lệ là một kiến trúc cổ kính vẫn còn tồn tại.

IV Giặc Chà Gạt, Quan Bố Chánh Trần Trung Tiên tử trận. :

Năm 1841, đầu tháng Ba âm lịch, dưới thời Thiệu Trị nguyên niên, Một người tên là Lâm Sâm, (hay Sa Sầm) nổi loạn ở Lạc Hóa ( Tràvinh ), dùng tà thuyết bùa chú mà mê hoặc dân chúng, tụ tập bè đảng có đến bảy tám ngàn người, đánh chiếm huyện lỵ Nguyệt Lảng ( Nguyệt Lảng sau nầy cộng thêm ấp Đôn Hoá thành ra xả Nguyệt Hoá ) và một giải đất chạy dài khoảng 30 cây số từ Trà Vinh đến vùng Cầu Kè, Tiểu Cần ( Cần Chong ), Bắc Trang, Trà Điêu. Trận đánh dữ-dội nhất xảy ra tại Trà Tử nay gọi là làng Hiếu Tử, quan Bố Chánh tỉnh Vĩnh Long là Trần Trung Tiên và Tri Huyện Hoàng Hửu Quang đều tử trận.

Cuộc nổi dậy của Lâm Sâm kéo dài từ đầu tháng Ba đến cuối tháng Mười Một triều đình mới dẹp yên được. Người cầm đầu cuộc nổi loạn được dân địa phương gọi là Xà-no Som, tức là Viên Tướng tên Som. Thủ đoạn sách động của y là dùng các thầy bùa ngải tung

Quan Bố Chánh Trần Trung Tiên còn có tên là Trần Công Tuyên, sanh năm 1801, gốc người Quảng Trị thi đổ cử nhân, (Ông có một người con tên là Trần Xuân Hoà, năm 1862 được triều đình bổ nhiệm chức Thị Độc Học Sỉ coi đạo binh phòng ngự Định Tường, khi thành mất về tay giặc Pháp,ông cắn lưởi tự tử chết) Ông Trần Trung Tiên tử trận vào đêm 17 rạng ngày 18 tháng 3 âm lịch,năm Tân Sửu (1841) tại Ô-Đùng. Ngài rất linh hiển, người dân bản xứ rất kinh sợ và lập đền thờ tại nơi Ngài từ trận, và mỗi năm đến ngày giổ đều có tổ chức tế tự cầu Ngài phù hộ, đền thờ hiện vẫn còn tại Làng Hiếu Tử.( hình trang bìa ).

Ngày 12/9/1925, tức là ngày 25/7 năm Ất Sửu, Vua Khải Định năm thứ 9 sắc phong Ngài làm Thành Hoàng tại Hiếu Tử như sau :

“Sắc Trà Vinh tỉnh, Ngải Long Thượng tổng, Hiếu Tử xả phụng sự Bố Chánh Trần Công Tuyên chi Thần mạng giả linh ứng từ kim chánh trực vãng tứ tuần đại khánh tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân Lể long đăng trật trước phong di vực bảo trung hưng linh phù.

Tôn thần chuẩn kỳ phụng sự thần kỳ tương hộ bảo ngã lê-dân khâm thử”

Khải Định cửu niên, thất ngoạt nhị thập ngũ nhật.




Sắc phong của Vua Khải Định 12/9/1925

những tin đồn thất thiệt: ‘Ông ta là người từ cỏi trên, ai không theo thì sẽ bị Trời Phật hại, ai theo thì sẽ được cứu thoát’. Vũ khí thì gồm những dao mát, chà gạt và phản kéo ngay nên còn gọi là “ Giặc Chà Gạt”

Ngoài Lâm Sâm còn có Cai Tổng Cộng và một người nửa tự xưng là Phò Mả Đội. Vua Thiệu Trị sắc chỉ Tổng Đốc Long Tường Bùi Công Huyên tới đánh, tuy phá tan được 3 sở thành giặc nhưng đánh nơi nầy thì chổ khác lại nổi lên. Đến tháng Tư, lại sai Tham Tán Trấn Tây Thành là Nguyển Tấn Lâm cùng với Tướng Nguyển Tri Phương hội quân lại cùng dẹp loạn tại Rạch Cần Chong ( Tiểu Cần ). Sau đó Đoàn Văn Sách và Nguyển Công Trứ cũng được lệnh mang thêm 3,000 quân từ Trấn Tây Thành vừa rút về đến tăng viện cho chiến trận.

Sau khi phá tan loạn quân tại Cần Chong, thừa thắng quân triều đình kéo lên càn quét tận Bắc Trang, Xà-no Som bỏ chạy, các lọan tướng là Trần Hồng, Kiên Hồng, Thạch Đột tới trước cửa quân xin hàng khoảng 88 người đều bị bắt giữ bỏ củi giải về kinh, kỳ dư Nguyển Tấn Lâm và Nguyển Tri Phương sai người ra hiểu dụ cư dân ra đầu thú thì cấp phát gạo cho về nhà làm ăn. Rồi đem quân tiến đánh Trà Điêu.

Đến tháng 11, các Tướng Nguyển Tấn Lâm, Nguyển Tri Phương và Nguyển Công Trứ mới phá tan hết loạn quân tại xứ Sâm Đô, bắt được Lâm Sâm giết đi, tài sản của y thì tịch thu và phát chẩn cho dân nghèo. Huyện Trà Vinh trở lại an ổn và đượcVua Thiệu Trị cho dời lỵ sở về làng Minh Đức dọc theo bờ sông Trà Vinh và cách Thanh Lệ độ chừng 1000 thước. Làng Minh Đức sau kết hợp với xả Long Bình trở thành xả Long Đức, ngày nay Đình Long Đức vẫn còn.

V Trà Vinh dưới thời Pháp thuộc.

Ngày 20/6/1867 Quân Pháp từ Mỷ Tho đem 1000 lính Tây và 4000 lính tập, trên 8 pháo thuyền tiến đánh thành Vĩnh Long, cụ Phan Thanh Giản nghỉ không thể đánh lại giặc Pháp nên đã dâng thành đầu hàng và uống thuốc độc tự sát để tránh tổn hại xương máu dân lành.

Ngày 25/6/1867 De La Grandiere chính thức tuyên bố toàn cỏi Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp và chúng phân chia 6 Tỉnh Nam Kỳ thành 21 tỉnh ( Gia Định, Châu Đốc, Hà-Tiên, Rạch Giá, Trà-Vinh, Sa-Đéc,Bến Tre, Long Xuyên, Tân An, Sóc Trăng, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Biên Hoà, Chợ lớn, Mỷ Tho, Bà Riạ, Vĩnh Long, Gò-Công, Cần Thơ, Bạc Liêu và Cap saint Jacque ( Vũng Tàu ) và mỗi tỉnh có một sở tham biện ( Inspection) để cai trị. Trà Vinh là tỉnh số 5 trong 21 tỉnh, Pháp đặt 2 sở tham biện, một tại Bắc Trang và một tại Trà Vinh. Lỵ sở tham biện Bắc Trang đặt tại Bắc Trang nay là An Quảng Hửu. Lỵ sở Trà Vinh đặt tại làng Long Đức. Ngày 1/1/1868 thực dân Pháp cho sát nhập 2 sở tham biện Bắc Trang và Trà Vinh lại làm Sở tham Biện Trà Vinh và lỵ sở đặt tại làng Long Đức.

Năm 1876 Pháp đổi Sở Tham Biện thành Tiểu Khu Hành Chánh Trà Vinh. Ngày 20/12/1899 bải bỏ chức vụ tham biện mà đổi lại thành Chủ Tỉnh ( Chef de Province ) và đổi Tiểu khu hành chánh thành Tỉnh Trà Vinh ( Province de Trà Vinh ). Lỵ sở vẫn đặt tại làng Long Đức.

Dưới thời Pháp thuộc, Trà Vinh gồm 8 quận : Châu Thành, Cầu Ngang, Long Toàn,Trà Cú, Tiểu Cần, Cầu Kè, Trà Ôn, và Càng Long.

Ngày 8/10/1957 chính quyền Ngô Đình Diệm cho sát nhập quận Vũng Liêm vào Tỉnh Trà-Vinh.

Ngày 8/10/1957 chính quyền Ngô Đình Diệm cho sát nhập quận Vũng Liêm vào Tỉnh Trà-Vinh.

Để dễ dàng trong việc cai trị, người Pháp đã xây dựng những cơ sở dinh thự như tòa bố, tòa án, sở hiến binh,bệnh viện, trường học, chợ búa v.v.,nạo vét mở rộng lòng sông Trà-Vinh để tàu bè dể dàng di chuyển, xây đấp những tuyến đường giao thông từ thị xả Trà-Vinh đến các thành phố lân cận, biến lỵ sở Trà-Vinh thành một đô thị nhỏ như chúng ta đã trông thấy một phố cổ với những hàng cây Me, Sao, Dầu xanh mát, từ đường số 1 đến chùa Lưởng Xuyên và từ đường Lê Quang Liêm ( Cây Dầu Lớn) đến bờ sông Long Bình. Tạo cho Trà-Vinh có một sắc thái kiêu sa riêng biệt không nơi nào có.

Cũng trong thời Cộng Hòa, ngày 14/1/1967 bởi sắc lệnh số 06/SL/ĐUHC chính quyền tách rời hai quận Vũng Liêm và Trà Ôn ra khỏi tỉnh TV và chỉ còn lại bảy quận như bây giờ. Sau năm 1975, trải một thời gian dài Trà-Vinh bị coi là một huyện lẻ của Tỉnh Cửu Long, hầu hết những dinh thự kiểu xưa đã một thời tạo cho Trà Vinh một dáng vóc mỹ miều bị người ta tiêu hủy và xây cất lại, như muốn xóa bỏ đi những tàn tích cũ, nhiều cây cối hằng trăm năm bị tàn phá một cách thiếu suy nghĩ. Ngày nay Trà-Vinh đã được phục hồi như một đô thị công nghiệp đang phát triển và là một vị trí quan trọng trong các lãnh vực kinh tế, quân sự và văn hóa.nhưng vẻ đẹp cổ kính độc đáo của Trà-Vinh không còn nửa.


--------------------------------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo :

· Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức NXB Giáo Dục năm 1999.
· Quốc Triều chánh biên ( Nhóm nghiên cứu Sử Địa Việt Nam xuất bản tại Sài Gòn năm 1972)
· Bản Triều Bạn Nghịch Liệt Truyện của Giả Sơn Kiều Oánh Mậu ( Bộ QGGD xb tại Sài Gòn năm 1963 ).
· Vĩnh Long Xưa của Huỳnh Minh, NXB Thanh Niên năm 2002 .
· Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam của Sơn Nam, NXB Trẻ năm 2004.
· Thi Xả Trà-Vinh Xưa và Nay của Trần Dũng trên trang nhà vannghesongcuulong.org
· Sàigòn năm xưa của Vương Hồng Sển (1960) trên trang nhà thuvienvietnam.com/thuvien


Kính Chào
Linh Phượng
Go to Top of Page
  Previous Topic Topic Next Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam © cadaotucngu.com Go To Top Of Page
This page was generated in 0.67 seconds. Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.05