Print Page | Close Window

Huế: môi trường thiên nhiên ...

Printed from: Ca Dao Tục Ngữ
Topic URL: http://www.cadaotucngu.com/Phorum/topic.asp?TOPIC_ID=23
Printed on: 04/20/2014

Topic:


Topic author: admin
Subject: Huế: môi trường thiên nhiên ...
Posted on: 01/24/2006 11:21:15
Message:


Huế: môi trường thiên nhiên và môi trường nhân văn

Thái công Tụng

1.Tổng quan
Khi đề cập đến Huế, ta có thể nghĩ ngay đến một Huế Mậu Thân 1968 với tác phẩm Một giải khăn sô cho Huế của nhà văn nữ Nhã Ca, cũng có thể nhớ về Huế với Mùa hè đỏ lửa 1972 của nhà văn Phan Nhật Nam, cũng có thể nhớ về Huế với trận lụt lịch sử cuối 1999 v.v. Nhưng đi xa hơn nữa trong qúa khứ, thời tiền chiến, ta lại nhớ ngay đến một Huế mộng mơ thanh bình với vài vần thơ sau của thi sĩ Tản Đà c

Kinh thành gái lịch trai thanh
Lại thêm Hương thủy, Ngự bình điểm tô
Con người ngoài Bắc mới vô
Mừng nay được thấy đế đô một lần


hoặc:

Đuờng vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
(Tản Đà)

Vô hình chung, thi sĩ Tản Đà khi viết về non xanh nước biếc, Hương thủy, Ngự bình là nói về môi trường thiên nhiên như núi non, sông nước, thảo mộc, rừng và khi viết về gái lịch trai thanh chính là nói về môi trường nhân văn như con người, giáo dục, âm nhạc, nghệ thuật, di sản văn hoá khi

Sau đây là 4 phạm trù chính của môi trường: sinh thái học, ô nhiễm môi trường, thẩm mỹ và con người . Các phạm trù lại chia ra thành các nhóm và cuối cùng là các thông số . (xem sơ đồ 1)



Môi trường thiên nhiên với cái phức tạp, đa dạng, muôn vẻ, trước khi được nhận thức bằng khoa học đã được con người cảm nhận qua trực giác và thể hiện qua thi ca, ca dao, âm nhạc. Như vậy, khoa học và nghệ thuật không còn tách rời mà liên kết hỗ trợ nhau giúp con người thấu hiểu và cảm nhận mọi vẻ đẹp phong phú của thiên nhiên và cuộc đời của chúng ta .
Và chính bài nói chuyện hôm nay cũng chỉ đề cập đến 2 loại hình môi trường đó: thiên nhiên với núi đồi, sông suối, đầm phá; nhân văn với dòng lịch sử, ngôn ngữ, lăng tẩm, cung điện, âm nhạc, nghệ thuật, kiến trúc, tín ngưỡng . v.v. Cả hai môi trường này có liên quan đến nhau và để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử: trong quân sử, trong văn hoá sử, trong nhạc sử của Huế v.v. Nhưng thử hỏi trước tiên tại sao lại có địa danh tên Huế ?


Ngược lại dòng lịch sử xưa kia, đây là quận Nhật Nam, đời nhà Hán, bao gồm các tỉnh phía bắc đèo Hải Vân như Bình, Trị, Thiên lẫn phía Nam như Nam, Ngãi, Bình định . Năm 192 sau Công Nguyên, các huyện phía nam đèo Hải Vân như từ Quảng Nam đến Bình định nổi lên độc lập, trở thành nước Lâm Ấp .Vùng Huế từ đó trở thành địa bàn tranh chấp giữa Giao Châu và Lâm Ấp, trải qua nhiều triều đại Ngô, Tần, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường và mãi đến cuối đời Đường thì biên giới Bắc nước Lâm Ấp mới lên đến Đèo Ngang. Do đó, đời nhà Lý, khi nước ta giành lại nền tự chủ thì vùng Huế thuộc nước Chiêm thành, sử ta gọi là châu Lý (Rí).

Đến năm 1306, vua Chế Mân (tên Chăm là Jaya Simhacvarman ÌÌI của nước Lâm Ấp lấy Huyền Trân công chúa con vua Trần Nhân Tông, nhường châu Ô và châu Lý cho nước ta, và nhà vua đã đổi tên châu Ô thành châu Thuận (Thành Thuận châu nay thuộc huyện Triệu Phong Quảng Trị ) và châu Lý thành châu Hoá (thành Hoá còn di tích làng Thành Trung, huyện Hương Trà, Thừa Thiên ). Từ thế kỷ thứ 16, chúa Nguyễn Hoàng (1525-1613) từ Thanh Hoá di cư bằng dường biển vói một số đoàn tùy tùng, đầu tiên đóng tại Ái Tử, sau đó: - chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên (1563-1635) tức con trai rời vô PhướcYên (Quảng Điền, Thừa Thiên) năm 1626. - năm 1636, chúa Thượng Nguyễn Phước Lan chuyển về Kim Long - chúa Nghĩa Nguyễn Phước Thái (sử sách thường ghi là Nguyễn Phước Trân (1649-1691) xây dựng thủ phủ mới Phú Xuân (1687), khai sinh ra Huế ngày nay và trở thành chính thức kinh đô của nước Việt Nam thống nhất từ đầu triều đại nhà Nguyễn, vua Gia Long (1804).

Địa danh Huế bắt nguồn từ các địa danh Châu Hoá đời Trần, Thuận Hoá đời Lê, đọc tắt là Huế

2 Các miền thiên nhiên

2.1 Miền núi với các địa danh đi vào quân sử

Miền núi giáp giới với Ai Lao với các địa danh đi vào quân sử như A Shao, A Lưới, giáp ranh xứ Lào, với nhiều cao độ khác nhau, có nhiều loại đá acid như đá hoa cương, sa thạch, phiến thạch hoặc đá vôi. Đây là xứ sở các dân tộc thiểu số thuộc ngữ hệ Môn-Khmer như người Katu, người Bru, sinh sống nhờ nông nghiệp du canh, nương rẫy, ở nhà sàn, y phục váời B’ru,

2.2 Miền gò đồi với các kiến trúc đi vào văn hoá sử

Miền gò đồi là vùng giáp giữa núi non và đồng bằng duyên hải, với nhiều độ cao khác nhau, hình thái khác nhau, với các loài thảo mộc cằn cổi như cây sim, chủi rành, cây mua. đồi còn sót lại như Núi Ngự, trước tròn, sau méo, các đồi Thiên An, Vọng Cảnh. Mà các núi Thiên An, Núi Ngự này trước kia cũng chỉ là những hải đảo, ngày nay sát nhập vào bờ. Núi Ngự Bình, cao 103 m, nằm bờ phải sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế 4 km về phíi Ngự, Trước có tên Hòn Mô hay Bằng Sơn (Núi Bằng), vua Gia Long đổi là Ngự Bình. Chính tại địa mạo này có những lăng tẩm nhà Nguyễn, đàn Nam Giao v.v.,

2.3 Miền đồng bằng sông ngòi với các địa danh đi vào thi sử và nhạc sử

Nói đến Huế là nói ngay đến sông Hương.

Sông Hương do hai nhánh Hữu và Tả Trạch, bắt nguồn ở vùng giáp giới giữa hai tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên, trong huyện Nam Đông, phía sườn Đông giãy Trường Sơn, gặp nhau ở ngã ba Tuần- Bãng Lãng, chảy qua huyện Hương Thủy và thành phố Huế. Do có nhiều cây Thạch xương bồ mọc ở hai bên bờ sông, tỏa ra mùi thơm nên có tên sông Hương. Chỗ ngã ba Tuần Bãng Làng có lăng Minh Mạng và xưa kia, ngưòi thượng thường về đây trao đổi sản phẩm miền núi (mật ong, măng tre..) với miền xuôi (muối, chiêng đồng )

Sông chảy qua các vườn cây trái Nguyệt Biều, Long Thọ ở bờ nam (túc hữu ngạn sông Hương) và bên bờ bắc là chùa Thiên Mụ

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương

Rồi xóm đạo Kim Long:

Thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Long

Đến đây là ngã rẻ đôi dòng sau đó phố Huế với cầu Trường Tiền sáu vài, mười hai nhịp, chảy qua vùng Vĩ Dạ với bài thơ nổi tiếng của Hàờng Tiền “sáu vài,

Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

(Hàn Mặc Tử),

xuôi về Bao Vinh, bồi đắp phù sa cho các Làng Sình

Đò từ Đông Ba, đò qua Vỹ Dạ
Đò từ Vỹ Dạ thẳng ngã ba Sình

Lờ đờ bóng ngã trăng chênh
Tiếng hò xa vắng nặng tình nước non

Và tiếp tục về Dương Nổ trước khi ra phá Tam Giang

Ở đây, tưởng cũng nên mở dấu ngoặc: Đông Ba, vừa tên một cửa thành, vừa tên chợ ở Huế trước có tên là Đông Hoa, sau do kị húy, nên vua Minh Mạng đổi là Đông Ba Ngoài dòng sông chính chảy qua thành phố Huế, cũng có những sông đào khác, nhằm mục đích thủy nông tưới ruộng hoặc nhằm giao thông vận tải, hoặc thoát nước. Vài ví dụ :

- Sông An Cựu là sông đào, lấy nước từ sông Hương. Sông chảy vô tới Chợ Cống trước khi gặp sông Lợi Nông, một con sông đào khác .



- Sông Lợi Nông chảy song song với quốc lộ 1 rồi qua Phú Vang và Hương Thủy. Trên sông Lợi Nông giữa Phú Vang và Hương Thủy có cây cầu ngói Thanh Toàn:

Ai về cầu ngói Thanh Toàn
Cho em về với một đoàn cho vui

- Sông Hàng Bè, chảy về Bao Vinh. Đây là con sông đào, đào dưới đời vua Gia Long, chuyên chở tre nứa, thường bó lại từng bè, hình thành một chợ nổi tre nứa .. Nhưng khi nói về Huế, người ta hội ý ngay với sông Hương vì không có sông Hương thì không có hồn Huế. Đó thực là dòng sông thần thoại. Tâm hồn con người dễ rung động trước cảnh trí trữ tình. Cảm xúc rung cảm là tiền đề, là vec tơ đưa đến tác phẩm dù đó là thơ, là nhạc, là hội họa, kiến trúc. Sông Hương đã là dòng sông của âm nhạc và tình yêu Có những bài thơ kinh điển về dòng sông này, bất hủ, có thể nói đã đi vào thi sử

Nguyễn Du, từng làm quan ở Huế, nhìn dòng sông bồi hồi viết:

Hương giang nhất phiến nguyệt
Kim cổ hứa đa sầu (Nam trung thi tập)

Tạm dịch:

Một mảnh trăng chiếu dòng Hương
Xưa nay từng gợi sầu thương cho đời

Các nhà thơ tiền chiến như Huy Cận, Xuân Diệu, gốc Hà Tĩnh, nhưng học Trung học ở Huế, cũng đã vinh danh dòng sông này. Với Xuân Diệu, nhà thơ nhìn sông Hương mà liên tưởng đến bến Tầm Dương của Bạch Cư Dị.:

Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh
...
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người
(Nguyệt cầm)

Huy Cận trầm ngâm nhìn dòng sông cô liêu:

Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
(Truờng Giang)

Hàn Mạc Tử từng gắn bó một thời với thôn Vỹ Dạ nhìn màu xanh da trời với màu xanh thôn xóm:

Vườn ai mướt qúa xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
(Thôn Vỹ Dạ Hàn Mạc Tử )

hoặc:

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi
(Mùa xuân chín)

Có những bài nhạc bất hủ có thể nói không ngoa là đã đi vào nhạc sử Việt Nam như Tiếng sông Hương của Phạm Đình Chương, Đêm tàn bến Ngự của Dương Thiệu Tước.

2.4 miền đầm phá với những ca dao và bài hát quen thuộc.

Đầm phá là những vực nước được tạo ra do một hệ thống các cồn cát ngăn với biển và ăn thông với biển phía ngoài qua một hay nhiều cửa dẫn nước. Đó là phá Tam Giang với ca dao:

Nhớ em anh cung muốn vô
Sợ Truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang,

Một bài thơ của Tô Thùy Yên được phổ nhạc cũng dùng địa danh này: Chiều trên phá Tam Giang


3 Ảnh hưởng môi trường nhân văn lên môi trường thiên nhiên.

Có thể nói qua dòng lịch sử, con ngưòi Huế cũng đã dùng óc sáng tạo tô điểm thêm sắc đẹp lên cảnh quan thiên nhiên, từ thiết lập các kiến trúc vĩ đại huy hoàng như các cung điện, các lăng tẩm cho đến các chùa chiền mà vẫn hài hoà với cảnh trí thiên nhiên, từ đó làm cho môi trường thiên nhiên thêm khởi sắc và đa dạng, nhưng vẫn giữ phong cách kín đáo, thầm lặng, khiêm tốn.

3.1 Lăng tẩm

Lăng tẩm không phải là những cấu trúc beton vô hồn, lạnh lùng như nhiều nơi khác trên thế giới mà là những công trình hài hoà với rừng thông reo, với con suối có nước ngại ngùng chảy, với ngọn đồi thoai thoải, tóm lại những hệ sinh thái cân bằng. Lăng là chỗ mộ của vua gồm các công trình mang tính kỷ niệm như Bái đình, Bi đình. Tẩm là các kiến trúc nhà cửa làm nơi thờ phượng nhà vua. Tại phía Nam và tây nam Huế, có một vùng gò đồi chập chùng có sông Hương len lỏi uốn khúc là nơi có nhiều lăng tẩm. Dựa vào thuyết phong thủy, mỗi lăng xây trên một ngọn dồi lớn, nhưng toàn bộ chiếm cả một quần thể đồi núi: có núi án trước mặt làm bình phong, có núi chắn hai bên làm tay ngai và ngay trước khu lăng tẩm phải có ngòi lạch uốn khúc. Xung quanh là đồi thông rì rào như gợi nhớ tưởng niệm. Tuy nhiên mỗi lăng tẩm có một đặc trưng riêng, phảng phất đâu đó cá tính của các vị vua thuở sinh tiền như lăng Gia Long thì hùng tráng, lăng Minh Mạng thì oai nghiêm đường bệ, lăng Tự Đức thì nên thơ, lăng Khải Định thì có pha thêm văn hoá phương Tây v.v.

Lăng Gia Long ở xa nhất, xây trong 6 năm (1814-1820). Vị trí lăng này ở chỗ nhánh Hữu Trạch chưa gặp Tả Trạch để thành sông Hương và cách Huế chừng 16km.Từ bờ trái sông Hữu Trạch đi chừng vài km theo con đường mòn là vào tới khu vục lăng. Mở đầu là hai cột trụ cao vút bề thế và trang nghiêm, sân chầu với hai hàng tượng đá voi, ngựa, quan văn, quan võ to bằng thực, được chạm trau chuốt.

Lăng Minh Mạng. Minh Mạng lên ngôi được vài năm, khi mới 36 tuổi đã nghĩ đến chuyện xây lăng; lăng ở chỗ hai sông Tả Trạch và Hữu Trạch gặp nhau .Đến lăng, phải qua sông chính chỗ ngã ba chợ Tuần. Lăng đươc lựa chọn cũng theo các nguyên lý phong thủy, sử dụng các địa mạo (landform) khác nhau, các sườn dồi khác nhau làm rồng chầu, hổ phục. Và lăng có cổng chính, theo sau là sân chầu với các tượng đá voi ngựa, quan văn, quan võ, lính hầu, có điện chính, có nhà phụ thuộc đều nằm trên trục đối xứng Nam-Bắc .

Lăng Thiệu Trị. Tên thật là Nguyễn Phúc Miên Tông (1807-1847), con đầu vua Minh Mạng. Chỉ làm vua được 7 năm (1841-1847), chết 40 tuổi.

Lăng Tự Đức. Lăng Tự Đức chỉ cách thành phố Huế 5km phía Nam và là một thế giới trang nghiêm mà sống động, mang chất thơ. Nhà vua sai dân xây dựng lăng này rất vất vả nên nhiều người oán giận, nên kéo về kinh đem cả vác chày giã vôi về chống đối, nhưng bị thất bại . Lịch sử gọi binh biến này là giặc chày vôi. Đây là cả một quần thể hài hoà có hồ thả sen, có nhà thủy tạ, có đình câu cá; trong hồ đắp đảo nhỏ, có ?giặc chày vôi”. Đây là cả

Lăng Khải Định. Vua Khải Định thọ 41 tuổi, mất năm 1925. Ai đi thăm lăng Khải Định thì thấy trong chánh điện có tượng của vua mặc triều phục ngồi trên ngai. Chánh điện là một kiến trúc đồ sộ, xây hoàn toàn bằng gạch, sắt, xi măng. Kiến trúc lăng Khải Định ngoài phong cách Đông phương, như cũng có hai hàng văn võ hai bên sân chầu, có vẻ hơi pha Tây phương, vì khi đi hội chợ Pháp về, nhà vua có ý đưa vài sắc thái Tây phương vào lăng.

Lăng Đồng Khánh. Sau khi vua Hàm Nghi bị Pháp lưu đày qua Algérie thì vua Đồng Khánh lên ngôi, nhung chỉ làm vua được ba năm (1886-1889), mất khi mới 29 tuổi nên chưa có ý định xây lăng mộ cho mình do đó sau khi vua mất, vua kế vị là Thành Thái mới xây lăng trên một qủa đồi tây nam thành phố Huế Các lăng trên là cả một công trình sinh thái, hài hoà với môi trường vì gồm có hồ, cây cối, gò đồi, như Phạm Quỳnh đã diễn tả rất đúng: "nhưng không đâu có cái công dựng đặt của người ta với cái vẻ thiên nhiên của trời đất khéo điều hoà nhau bằng ở đây, cung điện dền tạ cùng một cảnh sắc như núi non, như cây cỏ; tưởng cây cỏ ấy, núi non ấy phải có đình tạ ấy, cung điện ấy mới xứng,mà cung điện ấy, đình tạ ấy phải có núi non ấy, cây cỏ ấy mới là g: ?nhưng"

3.2 Đàn Nam Giao, xây năm 1806 đời vua Gia Long để cúng tế Trời. Đàn có 3 tầng tượng trưng cho Thiên Địa Nhân (như Thiên Đàn ở Bắc Kinh)

Đàn này xây trên một khu đất hình chữ nhật, dài 390m, rộng 265m và có ba tầng, tượng trưng cho thuyết Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân . Tầng cao nhất hình tròn, gọi là Viên Đàn, tượng trưng cho trời, đưòng kính 42m, cao 2.80m, lan can xung quanh xây bằng gạch quét vôi màu xanh (thiên thanh). Tầng kế tiếp hình vuông, gọi là Phương Đàn, tượng trưng cho đất, mỗi cạnh 85m, cao 1m, lan can bốn phía quét vôi màu vàng (địa hoàng); tầng thấp nhất cũng hình vuông, mỗi cạnh 165m, cao 0.85m, lan can quét vôi màu đỏ, tượng trưng cho con người (xích tử : con đỏ ). Cả ba tầng cộng lại cao 4.65m .Xung quanh khu đất hình chữ nhật này rộng gần 25ha có khuôn tường xây bằng đá, cao khoảng 4m, quét vôi màu đen. Xung quanh đàn Nam Giao, cây thông được trồng khắp nơi vì cây thông tượng trưng cho người quân tử .

3.3 Thành Nội hoặc Hoàng Thành. Khi vua Gia Long lên ngôi, nhà vua quyết định xây kinh đô cũng ở làng Phú Xuân cũ nghĩa là bờ bắc sông Hương, lấy núi Ngự phía Nam làm bình phong, lấy 2 cồn trên sông Hương,-cồn Giã Viên và cồn Hến-,làm thế rồng chầu hổ phục, tả thanh long, hữu bạch hổ để che chở kinh thành .

Hoàng Thành, còn gọi nôm na là Thành Nội, xây cất theo hình vuông (kiểu Vauban) nghĩa là có những công sự khuỷu góc chỉa ra ngoài ở cả bốn mặt. Bao bọc bởi một lũy dài, cao 6.m60, rộng 20 m và chu vi gần 10km. Và bên ngoài có hào sâu 4m, rộng 22 m, thường đầy nước, có trồng sen... Hoàng Thành xây vào đời Gia Long năm thứ ba (1804) đến năm 1832 mới xong, nghĩa là gần 30 năm; hàng ngày có 30 ngàn đến 80 ngàn người thường trực xây dựng, còn vật liệu thì gỗ lim Nghệ An cung cấp, đá Thanh do Thanh Hoá nộp, gạch ngói do Quảng Nam đưa ra. Công cuộc xây dựng mãi qua trào Minh Mạng mới hoàn chỉnh.

Hoàng Thành có 8 cửa chính theo 8 hướng: Chính Đông (cửa Đông Ba), Chính Tây, Chính Nam (cửa Thượng Tứ), Chính Bắc (cửa Hậu), Tây Bắc (cửa An Hoà), Tây Nam (cửa Hữu), Đông Bắc (cửa Kẻ Trài), Đông Nam (cửa Nhà Đồ) và hai bên kỳ đài có cửa Quảng Đức (nhìn từ Sông Hương vào thì phía bên trái) và cửa Thể Nhơn (nhìn từ sông Hương vào thì bên phải). Cửa nào cũng có phần trên, gọi là Vọng Lâu (Mirador) để quân lính có thể nhìn ra xa .Như vậy tổng cọng Thành nội có muời cửa. Riêng cửa Quảng Đức hoàn tất xong năm 1829 thì năm 1953, Huế gặp bão lớn làm nền móng bị sụp đổ, bít kín lối ra vào nên dân gian gọi là cửa Sập, và chỉ được tái thiết lại nă ?cửa Sập?,

Hai Cửa Thượng Tứ và cửa Nhà Đồ thông ra bến Phu Văn Lâu và bến Thương bạc trên bờ sông Hương.

Đại Nội. Trong Thành Nội có Đại Nội, bố trí như ở Đại Nội Bắc Kinh. Đại Nội có mặt bằng hình vuông với mỗi cạnh dài trên dưới 600 m và có tường bao bọc, chiếm diện tích hơn 26ha, có 4 cửa trong đó có cửa Ngọ Môn dành cho vua đi ở mặt nam, và cửa Hoà Bình ở mặt bắc phía sau, cửa Hiển Nhơn phía Đông.

Cửa Ngọ Môn1, dựng năm 1833 dưới triều vua Minh Mạng có lầu, vua ra đó để thần dân chiêm bái và cũng là nơi xướng danh những người trúng tuyển kỳ thi Hội và thi Đình. Sau Ngọ Môn là hai hồ sen vuông rồi đến sân chầu và điện Thái Hoà, với hai bên là những miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn, với phía sau là điện Cần Chánh. Hai bên điện Cần Chánh có các điện Võ Hiển, Đông Các v.v là nơi các quan to Triều đình làm việc.

Điện Thái Hoà Xây từ đời vua Gia Long 1805 và được chỉnh trang đời vua Minh Mạng 1833. Nơi vua thiết đại triều mỗi tháng 2 lần ngày mồng một và ngày rằm. Đây là điện dùng tổ chức lễ đăng quang (Vua lên ngôi), lễ vạn thọ (sinh nhật vua), lễ chúc thọ ngày mồng một Tết.

Điện Cần Chánh: đây là nơi vua ban yến tiệc trong các đại lễ, tiếp sứ thần ngoại quốc và thường triều mỗi tháng 4 lần (Ngày 5, 10, 20, 25 Âm lịch)

Trong Đại Nội có lính Khố vàng canh gác. Lính này canh gác cung điện, dàn chào trong các buổi lễ có vua ngự. Lính này đóng trong Đại nội ở dãy nhà lầu gần cửa Hiển Nhơn.

Tử Cấm Thành Sau điện Cần Chánh là khu cung cấm,-Tử Cấm Thành-gồm các cung điện như điện Kiến Trung, điện Càn Thành (nơi vua ở ) nằm trên trục chính giữa của Đại Nội theo hướng Nam-Bắc.

Trong Đại Nội, các kiến trúc phân bố theo trục đối xứng: tả nam-hữu nữ, tả trước-hữu sau, tả văn-hữu võ. Ví dụ bên tả của cửa Ngọ Môn (phía Đông) có Thái Miếu2-Triệu Miếu3 thờ các chúa Nguyễn, bên hữu cửa Ngọ Môn (phía Tây) là Thế Miếu4-Hưng Miếu5 thờ các vua Nguyễn và cha vua Gia Long.

Cửu Đỉnh Trước Hiển Lâm Các trong Đại Nội có 9 cái đỉnh lớn đúc bằng đồng.Tại sao 9? Theo lịch sử Trung Hoa thời cổ, nhà Chu cho đúc 9 cái đỉnh, tượng trưng 9 châu quận chư hầu (Trú Cửu Đỉnh, dĩ tượng Cửu châu). Đây là một di sản văn hoá do vua Minh Mạng để lại; trên Cửu Đỉnh, có chạm trổ các hình thiên nhiên như núi, sông, cây cỏ, thú vật,tàu bè, cũng như có chạm khắc hình mặt trời, mặt trăng, sấm sét .. Mỗi Cửu đỉnh có một kiểu chạm riêng.

Cao đỉnh, tương ứng với vua Gia Long tức thế hệ mở đầu, có khắc hình mặt trời, tượng trưng sự cao cả.

Nhân đỉnh (vua Minh Mạng), có khắc hình mặt trăng Chương đỉnh (Thiệu Trị), có hình 5 vì sao.

Anh đỉnh (Tự đức), khắc hình Đại hùng tinh

Nghị đỉnh (Kiến Phúc), khắc hình tiểu hùng tinh Thuần đỉnh (Đồng Khánh),

Tuyên đỉnh (Khải định),

Dụ đỉnh (Hàm Nghi),

Huyền đỉnh (Duy Tân). Mỗi đỉnh nặng hơn 2000 kg, đúc bằng đồng do các thợ đúc đồng ở phưòng đúc ở làng Dương Xuân. Trên đỉnh có khắc những hình núi sông, cây cối, thú vật ở Việt Nam. Riêng thú vật thì con hổ khắc trên Cao Đỉnh, báo (beo) trên Nhân Đỉnh, tê (tây ngu) trên Chương Đỉnh, mã (ngựa) trên Anh Đỉnh, tượng (voi) trên Nghị đỉnh, bò tót trên Thuần Đỉnh, con heo (Thỉ) trên Tuyên Đỉnh, con dê (Dương) trên Dụ Đỉnh, con ngựa núi (Sơn mã) trên Huyền Đỉnh.

3.4 Các chùa Huế mà mật độ không đâu bằng : chùa Từ Đàm, Bảo Quốc, Từ Hiếu phía bờ phải, chùa Linh Mụ (Thiên Mụ) ở bờ trái; một số các chùa này đã đào tạo nên nhiều nhà tu uyên thâm... Cuộc sống người dân thường trầm lặng, nhuốm thiền vị, đạo vị, an bần lạc đạo, không khoe khoang cũng chính do ảnh hưởng tinh thần các chùa chiền. Chùa Thiên Mụ Trong cuốn Ô Châu Cận Lục viết năm 1553, Dương Văn An đã nhắc đến ngôi chùa nàỵ Tục truyền đây lúc đầu là một thảo am do người mới đến vùng này lập lên. Năm 1601, lúc đó chúa Nguyễn Hoàng đang làm trấn thủ hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam, có lần dừng chân ở đây nghe kể lại: có một bà tóc trắng, mặt đẹp như bông sen xuất hiện trên ngọn đồi này và nói rồi đây sẽ có một vị chân tu đến lập chùa để tụ linh khí cho bền long mạch. Vừa dứt lời, người đàn bà đó biến mất. Vì thế dân làng sở tại mới gọi ngọn đồi này là Thiên Mụ (ngườøi đàn bà của nhà trời). Nguyễn Hoàng vốn đã nung nấu tư tưởng làm chúa ở xứ Đàng Trong nên nhận là chân chúa và dựng chùa trên nền thảo am xưa. Sau này, vua Thiệu Trị xây tháp Phước Duyên 7 tầng cao 21 m vào năm 1844, quanh năm soi bóng xuống sông Hương êm đềm và là biểu tượng của Huế. Năm 1850, sợ phạm húy với trời nên vua Tự Đức gọi là Linh Mụ tự. Chùa này đã đuợc bất hủ hoá qua các câu sau:

Bao giờ cạn lạch Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền

Hoặc:

Tháp bảy tầng, Thánh Miếu, chùa Ông
Chuông ngân Diệu Đế, trống rung Tam Toà

Tháp bảy tầng chính là tháp Phước Duyên ở chùa Thiên Mụ !

Chùa Báo Quốc Chùa do Hoà Thượng Giác Phong khai sơn từ năm 1674 trên đồi Hàm Long nên lúc đầu gọi là Hàm Long tự; năm 1747, Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát cho trùng tu và ban biển đề Sắc Tứ Báo Quốc Tự. Năm 1808, chùa lại đưọc trùng tu hoàn chỉnh hơn và xây cửa tam quan, đồng thời lại đổi tên là Hàm Long Thiên Thọ Tự. Thời Minh Mạng, chùa có tên mới là Báo Quốc Tự. Từ năm 1948, đây là một trung tâm truyền dạy tăng tài nên cũng gọi là Phật học đường Báo Quốc

3.5 Các di tích khác

Hổ Quyền xây để đấu giữa voi và cọp .Ngược dòng thời gian, ta thấy từ đời nhà Trần (1225-1400), và nhất là dưới thời Hậu Lê (1428-1788), triều đình đã lập ra đấu trường ở Thăng Long để voi và cọp tranh tài nhau. Hổ Quyền được xây dưới trào Minh Mạng, dùng vừa là giải trí cho vua quan nhà Nguyễn, vừa tạo cơ hội để huấn luyện voi trở nên dũng cảm. Vua Minh Mạng không những rất dông con mà vương quyền rất mạnh vì dưới trào Minh Mạng, lãnh thổ nước ta tràn sang mãi Campuchia hiện nay và đến luôn vùng Sam Nua bên Ai Lao. Vua Minh Mạng thích dùng bạo lực để giải quyết các việc đối nội và đối ngoại, dùng trung ương tập quyền. Con voi tượng trưng cho sức mạnh của vương quyền và có ích cho xã hội còn cọp thì chuyên giết hại gia súc và người nên trong các trận đấu, voi phải giết được cọp.

Hổ Quyền đấu giữa voi và cọp, do vua Minh Mạng thiết lập và ở chân dồi Long Thọ (thuộc xã Thủy Biểu hiện nay). Đây là đấu trưòng lộ thiên kiến trúc đơn giản nhưng chắc chắn. Khán đài Vua ngồi quay mặt về hướng Nam, theo đúng kiến trúc cung đình Huế và Á Đông.. Đối diện với khán đài chính là cửa 5 chuồng cọp và trong mỗi chuồng có xây máng cho thức ăn hàng ngày.

Văn miếu Huế Ở Huế cũng có bia tiến sĩ như Hà Nội, nhưng chỉ có 32 tấm bia tiến sĩ thời Nguyễn, thay vì 82 tấm bia tiến sĩ thời Lê như ở Hà Nội. Văn Miếu nằm cách chùa Thiên Mụ khoảng 500m về phía thượng lưu sông Hương, được xây dựng vào năm 1808. Có khoảng 10 ngôi miếu, đình và nhà cửa được xây dựng bên trong phạm vi hai vòng tường gạch.Toà miếu chính thờ Khổng Tử, hai bên sân là hai dãy nhà để thờ thất thập nhị hiền và các tiên nho . Trước mặt hai dãy nhà này, có hai bia đá, mỗi dãy 16 tấm ghi khắc tên tuổi những vị đậu tiến sĩ thời nhà Nguyễn như Phan Thanh Giản, Dương Khuê, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng v.v Văn miếu Huế không được bảo trì và hiện nay xuống cấp so với Hà Nội .

3.6 Nhà-vườn Không phải chỉ vua chúa mà ngay người dân thành phố, với lối kiến trúc nhà vườn, nghĩa là tuy đô thị nhưng không phải nhà san sát bên nhau, mà nhà thường có vườn xung quanh, trồng cây ăn trái, có giàn thiên lý, có hòn non bộ, tạo ra một thành phố-vườn rất sinh thái, giúp tâm hồn thanh thản và đạo vị trong cuộc đời đầy sóng gió.

4 . Ảnh hưởng môi trường thiên nhiên đến môi trường nhân văn

Vùng Huế với một môi trường thiên nhiên ưu đãi với đủ loại địa mạo, đồng bằng có, gò đồi có, núi non có, dòng sông xanh có, với những buổi sáng mùa đông sương toả một tấm voan dịu dàng, những chiều vàng trên lưng đồi, mặt trăng phản chiếu xuống dòng sông v.v. làm toát lên sự trầm lắng dịu dàng đã làm tâm hồn rung cảm, tức một tiền đề hun đúc ra con người đa cảm, thanh lịch, trầm mặc, khoan thai, nhẹ nhàng khiến các thầy đồ xứ Nghệ6 khăn gói đến đây thi cử xong cũng chẳng muốn rời, y như:

Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không lành

cũng như nhiều người ngoại quốc đã lưu luyến đến nỗi lập ra Hội thân hữu Huế (Association des amis du Vieux Hue ) chứ không thấy các tỉnh khác.

Ngoài thiên nhiên, yếu tố lịch sử cũng đóng góp vào cuộc đời và nếp sống, từ giọng nói đến phong cách.

Cư dân Huế là gốc từ miền Thanh Nghệ Tỉnh nên ở vùng thôn quê trong ngôn ngữ dân gian vẫn có nhiều tiếng cổ xuất phát từ các vùng trên. Nào là nác (nước), cươi (sân), lú (ngủ), théc (ngủ), lả (lửa) v.v..

Điều kiện tranh đấu với thiên nhiên khắc nghiệt hàng trăm năm nay, tạo ra một con người Huế chịu đựng gian khổ, đào luyện ý chí kiên cường trong thầm lặng nên ngôn ngữ thường ngắn gọn trong khi tại đế đô, xã hội quan lại đòi hỏi một tác phong khác, quan trên trông xuống, ngưòi ta trông vào giọng nói trở nên chải chuốt hơn, bóng bẩy hơn, văn hoa hơn, nhẹ nhàng hơn. Người Huế có một gịọng đặc trưng riêng, nói tiếng nhỏ nhẹ, có sức truyền cảm với người nghe. Ngưòi Huế kín đáo, khiêm tốn và tính kín đáo ấy đã được Bích Lan phát hiện một cách lý thú qua các vần thơ c,

Người xứ Huế trang nghiêm và thầm lặng
Thường hay sầu giữa lúc thế nhân vui
Tâm sự nhiều mà ít hé trên môi
Thanh lịch thay bạn văn nhân xứ Huế !

Huế là thành phố tâm hồn với thơ, nhạc, họa. Tâm hồn đó còn có mang theo âm hưởng văn hoá Chàm với các loại nhạc cung đình, các điệu hát Nam Ai, tạo ra một căn cuớc Huế, một bản sắc Huế. Âm nhạc dân gian vùng Huế rất đa dạng và phong phú, từ các điệu hò ru em đến hò mái nhì, mái đẩy, chuyên chở những tâm tình trong mọi vẻ phức tạp của cuộc đời trước mắt.

Từ lúc lọt lòng ra, trẻ thơ được nuôi dưỡng với hò ru em:

Ru em em théc cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi Chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán quan

Khi khôn lớn, để khuây khỏa trong các việc lao động, ta có các điệu hò mái nhì, mái đẩy, hò giã gạo, hò xay lúa v.v.

Hò mái nhì khi chèo thuyền ăn nhịp với mái chèo đò trôi thong thả trên sông; điệu hò do đó lững lờ, bâng khuâng. Có khi hò một mình một thuyền, có khi hò đối đáp giữa nam nữ khi hai con thuyền tình cờ gặp nhau:

Thuyền ai trôi trước
Cho tôi lướt tới cùng
Chiều dã về trời đất mông lung
Có phải duyên thì xích lại cho đỡ não nùng tiếng sương

Hoặc:

Đất Thần kinh trai hiền gái lịch
Non xanh nước biếc, điện ngọc đền rồng
Tháp bảy tầng, miếu Thánh, Chùa ông
Chuông khua Diệu Đế, trống rung Tam Toà
Càu Trường Tiền mười hai nhịp bắc qua
Tả Thanh long, hữu Bạch Hổ đợi khách âu ca thái bình.

Tiếng hò của mối tình ngang trái:

Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược
Nước chảy ngược, con cá vượt lội ngang
Thuyền em xuống bến Thuận An
Thuyền anh lại trẩy lên ngàn anh ơi !

Câu hò mái nhì gợi nhiều rung cảm do tình yêu đôi lứa. Những điệu hò chèo thuyền, gửi gắm nỗi lòng của những cô lái đò đi suốt dòng sông:

Nước đầu cầu, khúc sâu khúc cạn
Chèo qua Ngọc Trản7, đến mạn Kim Long
Sương sa gió thổi lạnh lùng
Sóng xao trăng lặn, gợi lòng nhớ thương

Tình yêu chân thật, tình yêu không son phấn là những đề tài trong các câu hò dân gian:

Thiên sanh nhân, hà nhân vô lộc
Địa sanh thảo, hà thảo vô căn
Một mình em ngồi dựa lòng thuyền, dưới nưóc trên trăng
Biết cùng ai trao duyên gửi phận, cho được bằng thế gian

Hò mái đẩy trên khúc sông nước chảy mạnh, phá có sóng lớn thì phải có điệu hò với quãng ngân hơi ngắn hơn, nhưng vẫn là điệu hò tình tứ :

Hơ hơ hơ hơ ơ hời hơ hơ hơ hư hạ hô hô hô, trước bến hơ hơ hơ hơ hơ hơ hơ Văn Lâu, chiều hà ha hơ chiều hơ hư hơ hơ hơ hơ.. hơ

Chiều chiều trước bến Vân Lâu, ai ngồi, ai than, ai sầu, ai thảm, ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai mong hơ hơ hơ hơ
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Buông câu mái đẩy hà hy hơ hơ hơ hơ .. mái đẩy nên cho chạnh lòng ha hơ ha lòng hơ hơ hơ hơ hơ hơ hơ, chạnh lòng non nưóc là non hơ hơ hơ hơ hơ hơ hơ !

(Tự điển tiếng Huế Bùi Minh Đức) Những câu hò, câu hát cũng dùng sông để ví von, so sánh hoặc ghi lại nỗi buồn bâng quơ:

- Gặp nhau giữa ngã ba Sình
Anh xuôi, em ngược đem tình nhớ thương
-Bao giờ cho sóng bỏ gành
Cù lao bỏ biển, anh mới đành bỏ em .
-Cây đa cũ, bến dò xưa, Người thương có nghĩa, nắng mưa ta vẫn chờ
-Nào khi mô, em nói với anh :
Sông cạn, mà tình không cạn,
Vàng mòn, mà nghĩa chẳng mòn
Nay chừ nước lại xa non,
Đêm năm canh tơ tưởng, héo hon ruột tằm
-Muời hai bến nước là duyên
Em cũng muốn bến hiền thuyền đậu
Nhưng em trách cho hai bên phụ mẫu
Làm cho hai đứa không nên thất nên gia
Xa cách này bởi tại mẹ cha
Làm cho nên nỗi bướm hoa lìa cành

Hò nện để tăng năng suất:

A li khoan hò khoan, là hù là khoan, trăm năm là hù là khoan, ai chớ bỏ ai nì, là hù là khoan, hết hụi ta hò khoan là hò là khoan

5 Vùng Huế, nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa

Môi trường Huế là nơi hội tụ, giao thoa của bốn nền văn hoá khác nhau: văn hoá Việt, văn hoá Chăm (vì nơi này xưa kia có người Chăm ở), văn hoá bản địa còn gọi là văn hoá Đông Nam Á và văn hoá Trung Hoa.

Văn hoá Chàm còn để lại nhiều di tích:

- như thành Champa trên dồi ở Dương xuân Thuợng phía Nguyệt Biều Long Thọ (dân gian gọi là Thành Lồi),

- như nền thành một tháp chàm xưa kia mà nay có chùa Thiên Mụ được dựng lên

- như các giếng Chàm, các phế tích tượng đá Champa, di tích tháp Chàm, kiến trúc Chàm nhiều nhất ở huyện Phong Điền.

Tại Điện Hòn Chén (Ngọc Trản), dân gian vẫn thờ bà Thiên Y A Na (là tên Việt hoá của Po Y Nagar, Mẹ Xứ Sở, bà chúa xứ sở Chămpa vị nữ thần thiên liêng và thân thiết nhất của người Chăm) cùng với bà Liễu Hạnh công chúa đưọc dân chúng miền Bắc vào Huế lập nghiệp tôn thờ. Các đệ tử đền Ngọc Trản gọi chung cả hai vị này là Thánh Mẫu. Tại điện này, thường có lên đồng.

Văn hoá Việt. Các chúa Nguyễn, khởi đầu là chúa Nguyễn Hoàng (1525-1613) đã đưa di dân vùng Thanh-Nghệ-Tỉnh vào đây lập nghiệp và qua nhiều thế kỷ, dã hỗn dung, dung nạp văn hoá Chăm qua âm nhạc với các điệu Nam Ai, Nam Bình.

Văn hoá Trung Hoa. Sau khi nhà Thanh lật đổ được nhà Minh, có một phong trào di cư của người Hoa xuống Đông Nam Á (Indonesia, Mã Lai, Phi luật Tân, Việt Nam v.v.). Riêng Huế, họ định cư ở cảng Thanh Hà, nhưng sau này, cảng bị phù sa bồi lấp nên họ dời lên Bao Vinh, Gia Hội là các nơi di dân của người Hoa. Nhiều họ như Âu, Hầu, Trịnh v.v.... ở Huế chính là các họ người Việt gốc Hoa.

- Văn hoá bản địa Đông Nam Á. Nhiều phương ngữ Huế còn có nhiều đặc điểm với tiếng Việt cổ : lả (lửa), nác (nước), rú (rừng), cươi (sân), vv.v gần với tiếng Việt. Thực vậy, người Việt cổ có ngôn ngữ Việt Mường của dòng Nam Á, người Chàm cổ có dòng ngữ hệ Malayo-Polynésie, những dân thiểu số có dòng ngôn ngữ Môn-Khmer. Theo Nguyễn Từ Chi, trong La cosmologie Muong (LHarmattan 1996), thì trong cách ăn uống của Huế có nhiều yếu tố giống với cách ăn uống người Mường (pạnh la= bánh lá ). Theo giáo sư Từ Chi, rau sống Huế là hậu duệ của tập quán ăn rau dại của người Mường và các vị rau sống dùng hàng ngày của người Huế là tía tô, lá lốt, rau má, vả, khế, chuối chát cũng như bánh lá tức bánh nậm là gốc từ các món ăn của người Mưn-Khmer.

- Văn hoá cung đình với giọng đài các còn gọi giọng các mệ, với nhạc cung đình. Dòng hoàng tộc triều đình có tên khác người thường. Vua Minh Mạng (Nguyễn Phúc Miên Tông) có cả thảy 142 người con (78 hoàng tử và 64 công chúa) và có đặt bài đế hệ thi để chỉ tuần tự chữ lót của con cháu. Nhưng chỉ có con trong chánh hệ mới sử dụng: Miên, Hường, Ưng, Bửu, Vĩnh, Bảo, Qúy, Định, Long, Trường, Hiền, Nang, Kham, Kế, Thuật, Thế, Thoại, Quốc, Gia, Xương.
Ví dụ ông Ưng Qủa thì có con tên Bửu Giao, vua Bảo Đại (Vĩnh Thụy)thì con phải tên lót là Bảo Long v.v.



Như vậy, con người qua nhiều trào lưu lịch sử đã vừa biến cải thiên nhiên, vừa tạo ra những động lực thay đổi xã hội ; cả hai môi trường thiên nhiên và nhân văn có tác động qua lại như trong một hệ thống mở (open system), có thể tóm gọn trong giản đồ sau đây :



Con người khi từ Đàng Ngoài vào, đến dịnh cư vùng đất mới đã tiếp biến (acculturation) văn hoá sở tại, kiến tạo một xã hội với những giá trị khác (chế độ phụ hệ, nho giáo ), cải biến thiên nhiên theo triết lý Kinh dịch, hài hoà với thiên nhiên, làm thiên nhiên êm đẹp hơn, thoải mái hơn, có tác động gián tiếp đến tâm tư con người. Mặt khác, xã hội cũng biến cải như sự thành lập đế đô, một chế độ thư lại, một dân số đông hơn, như dân trí cao hơn, cũng có tác động trên con người Huế qua giọng nói, qua phong cách của con người Thượng kinh.


6 Kết luận

Khi nói đến vùng Huế, ta thường liên tưởng đến những cơn mưa dầm da diết, những ngày tháng oi bức với gió Lào, dọc "bờ sông trắng nắng chang chang" (Hàn Mạc Tử) với cảnh "mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu ăn", với "trời hành cơn lụt mỗi năm". Ngày nay, thiên nhiên đó lại càng bị nhiều chấn thương quan trọng như phá rừng (overcutting) làm xói mòn đất đai trên lưu vực khiến nạn lụt xảy ra nhiều hơn và cường độ lớn hơn; nạn săn bắn qúa độ (overhun-ting) khiến chim muông động vật hoang dã không còn nơi sinh sống; nạn nước mặn xâm nhập sâu hơn và sớm hơn vì đông dân hơn (overpopulation), phải bơm nước sinh hoạt để dùng (overpumping); nạn trâu bò dẫm chân qúa tải (overgrazing) khiến đất đai chai cứng, chưa kể đến nạn đánh cá qúa mức sinh sản (overfishing) miền cận duyên hải. Sáu chữ O nói trên gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Do đó, con nguời Huế bị cuốn lốc trong sự đô thị hoá lại càng phải gìn giữ môi trường thiên nhiên cho trong sạch vì ta phá hủy thiên nhiên thì thiên nhiên sẽ tàn phá lại con người, kkông phải chỉ tàn phá vật chất mà còn hủy hoại cái phần sâo, dọc ?bờ sông người, đó là phần tâm linh vốn là cốt lõi của con người.



Vị trí các di tích lịch sử vùng Huế

Giống người tên khoa học là Homo, xưa nay vốn là sapiens nay trở thành scientificus, technicus, industrialis ngày nay có khả năng hủy hoại luôn sông núi và biển cả, làm ô nhiễm núi rừng, sông ngòi . Con người Huế có bổn phận gìn giữ di sản cha ông để lại làm cho Huế trở thành một thủ đô tương lai của Việt Nam hùng cường trong bối cảnh ASEAN, một tập hợp nhiều xứ Đông Nam Á.

Thư tịch sơ lược

Hồ Văn Châm Quốc gia, dân tộc và địa phương phân quyền. Định Hưóng số 33 năm 2002
Phan Văn Dật. Tìm hiểu lăng tẩm ở Huế. Dòng Việt số 12 năm 2002
Bùi Minh Đức. Từ điển tiếng Huế 2001
Bửu Kế. Huệ-Nam điện hay là Điện Hòn chén. Dòng Việt số 12 năm 2002
Bửu Kế. Kinh thành Huế. Dòng Việt số 11-2002
Thái Văn Kiểm. Tìm hiểu ca nhạc cổ điển miền Trung. Dòng Việt số 12 năm 2002
Trần Sĩ Huân. Cửa Quảng Đức. Hương Văn số 14 2001
Nguyên Hương. Ngũ sắc Huế trong thi ca. Định Hướng số 34 Trung tâm văn hoá Nguyễn Trường Tộ năm 2003
Nguyên Hương. Cửu Đỉnh Tiếng Sông Hương 1997
Lê Văn Lân. Thần linh và hồn ma vẫn còn trên đất Huế! Dòng Việt số 12 năm 2002
Nguyễn Bá Lăng. Kiến trúc Huế Tiếng Sông Hương 1997
Võ Phiến. Giọng Huế. Dòng Việt số 12 năm 2002
Tập thể tác giả. Huế, ngàn năm văn vật.Viện Văn hoá nghệ thuật Việt Nam xb 1990
Tôn Thất Tuệ . Đôi nét tản mạn về Huế. Hương Văn số 6- 1999
Thái công Tụng. Vùng Bình Trị Thiên. Đặc tính địa lý và đa dạng sinh học. Tiếng Sông Hương 1997
Thái Công Tụng. Một thủ đô mới cho Việt Nam Tiếng Sông Hương 2000.

Phụ Chú

Sau đây là sơ kết dòng họ nhà Nguyễn, kéo dài gần 4 thế kỷ, ở miền Thuận Hoá

Chín chúa
Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên) (1558-1613)
Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi) (1613-1635)
Nguyễn Phúc Lan (chúa Thượng) (1635-1648)
Nguyền Phúc Tần (chúa Hiền) (1648-1687)
Nguyèn Phúc Thái (chúa Nghĩa) (1687-1691)
Nguyễn Phúc Chu (Quốc Chúa) (1691-1725)
Nguyền Phúc Thụ (Chúa Ninh) (1725-1739)
Nguyễn Phúc Khoát (chúa Vũ) (1739-1765)
Nguyễn Phúc Thuần (Chúa Định) (1765-1777)

Mười ba vua
1.Gia Long (1802-1820).
2. Minh Mạng (1820-1840)
3. Thiệu Trị ((1840-1847)
4. Tự Đức (1847-1883)
5. Dục Đức (1847-3 ngày)
6. Hiệp Hoà (1883-4 tháng 10 ngày)
7. Kiến Phúc (1883-1884)
8. Hàm Nghi (1884-1885)
9. Đồng Khánh (1885-1889)
10.Thành Thái (1889-1907)
11. Duy Tân (1907-1916)
12. Khải Định (1916-1925)
13. Bảo Đại (1925-1945)

1gọi như vậy vì đây là cửa chính ở phía Nam Đại Nội hướng Tý Ngọ là hướng Bắc Nam tượng trưng cái Lý, cái Đạo của kinh Dịch. 2thờ các Chúa; 3thờ Nguyễn Kim; 4thờ các Vua triều Nguyễn kể từ Vua Gia Long; 5thờ cha Vua Gia Long; 6thân sinh Hồ Chí Minh là một thầy đồ xứ Nghệ vào Huế; 7Ngọc Trản là chén ngọc, tức Điện Hòn Chén

Thái công Tụng

Trân Trọng
Hà Phương Hoài


Ca Dao Tục Ngữ : http://www.cadaotucngu.com/Phorum/

© Hà PhÆ°Æ¡ng Hoài

Close Window