Ca Dao Tục Ngữ
Ca Dao Tục Ngữ
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Phong Tục Tập Quán
 Toàn Bộ Phong Tục
 Tôn kính Ông Bà Tổ Tiên
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Topic  

admin
Forum Admin

USA
135 Posts

Posted - 01/25/2006 :  09:32:13  Show Profile  Visit admin's Homepage  Reply with Quote
Tôn kính Ông Bà Tổ Tiên giữa người Công Giáo

Peter Võ Tá Ðề, SVD

Việc tôn kính Ông Bà Tổ Tiên (ÔBTT) và Khổng Tử được mệnh danh "Nghi Lễ Trung Hoa" (NLTH). Vấn đề này đã gây tranh luận sôi nổi một thời gian dài trong lịch sử Giáo hội. Suốt ba thế kỷ (17-20) với bao triều đại giáo hoàng và bao văn kiện tòa thánh ngăn cấm NLTH, bắt đầu từ 1645, mãi đến 1939 vấn đề mới được giải quyết.1 Với huấn dụ Plane compertum ngày 8 tháng 12 năm 1939,2 Giáo hội Công giáo chính thức chấp nhận NLTH, cho phép người Công giáo tham gia trong nghi thức tôn kính Khổng Tử và cử hành các nghi thức tôn kính ÔBTT. Mãi đến 1965 Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam xin Tòa Thánh áp dụng huấn dụ Plane compertum.
Vì vậy, từ xưa và ngay cả thời gian gần đây, người ngoài Công giáo vẫn cho rằng người Công giáo bỏ Ông bỏ Bà, quên Tổ quên Tiên, không khói không hương, không nhang không đèn.                            
                        
                                    Lấy người Công giáo làm chi?
Chết thì ai cúng? Giỗ thì ai lo?
Lấy ai săn sóc mả mồ?
Lấy ai lo lắng bàn thờ Tổ Tiên?
Thực ra người Công giáo vẫn kính Ông kính Bà, vẫn nhớ Tổ nhớ Tiên, vẫn nến vẫn hương, nhưng với cách thức khác người ngoài Công giáo. Cũng nên biết, một cách nào đó, người Công giáo cho những nghi thức cúng giỗ nơi người ngoài Công giáo mang tính cách dị đoan, mê tín.
Bài viết này sẽ đề cập ba điểm chính trong việc tôn kính ÔBTT giữa người Công Giáo: 1) Những dịp lễ tôn kính ÔBTT trong Phụng vụ Công giáo; 2) Các văn kiện Tòa thánh và văn thư mục vụ của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam (HÐGMVN) về tôn kính ÔBTT; 3) Một vài đề nghị về tôn kính ÔBTT trong cưới hỏi và tang chế. Bài viết này cho người Công giáo, đồng thời cũng cho những người ngoài Công giáo với hy vọng xóa tan sự hiểu lầm nhau từ xưa nay trong lãnh vực tôn kính ÔBTT.
 
I. Những Dịp Tôn Kính ÔBTT Trong Phụng Vụ Công Giáo
 
A. Các Lễ
 Giáo hội Công giáo có những ngày dành riêng để kính nhớ những người đã ly trần. Trong ngày 2 tháng 11 hằng năm, ba thánh lễ được cử hành cầu nguyện cho những người đã khuất; cũng là ngày người sống viếng nghĩa trang cầu cho kẻ chết. Hơn nữa, trọn tháng 11 được dành riêng để cầu nguyện cho những người đã qua đời. Thêm vào đó, Giáo hội Việt Nam nhớ đến ÔBTT, người qua đời, trong ngày mồng hai đầu năm Âm lịch.3 Ðó là chưa kể đến mỗi ngày giỗ, ngày kỵ riêng trong từng gia đình, ngày người sống tưởng nhớ người đã khuất bằng cách tham dự thánh lễ và cầu nguyện cho họ. Cũng nên biết, lễ Thánh Gia Thất, được cử hành vào Chúa nhật trong tuần bát nhật của lễ Giáng Sinh, nói lên lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.
 
B. Lời Nguyện Trong Thánh Lễ
Thử nhìn vào một số lời nguyện trong những ngày dành riêng cho ÔBTT cũng như người đã qua đời để biết người Công giáo nhớ đến các ngài như thế nào. Các lời nguyện trong thánh lễ I ngày 2 tháng 11:
"... Giờ đây, xin Chúa thương nhận lời chúng con khẩn nguyện mà làm cho lòng chúng con luôn trông cậy vững vàng: chính Ðức Giêsu sẽ cho các tín hữu đã lìa cõi thế được phục sinh vinh hiển...” (Nhập lễ).4
"Lạy Chúa, xin thương nhìn đến lễ vật chúng con dâng, và cho mọi tín hữu đã qua đời vào chung hưởng vinh quang với Con Một Chúa...” (Tiến lễ).5
"Lạy Chúa, chúng con vừa cử hành bí tích Vượt Qua để cầu cho anh chị em tín hữu đã qua đời. Xin thương đón nhận họ vào nhà Chúa, nơi đầy ánh sáng và bình an...” (Hiệp lễ).6
Qua các lời nguyện trên người Công giáo biểu lộ niềm tin vào Ðức Kitô, Ðấng đã phục sinh từ cõi chết, Ðấng sẽ cho ÔBTT và người qua đời được phục sinh như Người và được chung hưởng vinh quang muôn đời bên Người.
Trong thánh lễ mồng hai Tết âm lịch, các lời nguyện cũng diễn tả lòng hiếu thảo của con cháu đối với ÔBTT và cầu nguyện cho các ngài:
"...Hôm nay nhân dịp đầu năm mới chúng con họp nhau để kính nhớ tô tiên và ông bà cha mẹ. Xin Chúa trả công bội hậu cho những bậc đã sinh thành dưỡng dục chúng con, và giúp chúng con luôn sống cho phải đạo đối với các ngài...” (Nhập lễ).7
"Lạy Chúa, chúng con hoan hỷ dâng lên Chúa lễ vật đầu xuân này. Cúi xin Chúa vui lòng chấp nhận mà tuôn đô hồng ân xuống trên tô tiên và ông bà cha mẹ chúng con, để chúng con cũng được thừa hưởng phúc ấm của các ngài...” (Tiến lễ).8
"...Chớ gì nguồn sinh lực thần linh này giúp chúng con ngày nay sống sao cho tròn chữ hiếu đối vớ tô tiên và ông bà cha mẹ, để mai sau được cùng các ngài vui hưởng phúc trường sinh...” (Kết lễ).9
Các lời nguyện cách này hoặc cách kia đều nói lên lòng hiếu thảo của con cháu đối với tô tiên, ông bà, cha mẹ. Các lời nguyện cũng diễn tả niềm tin vào sự tái hợp của người đang sống với tô tiên trong cuôc sống vinh phúc mai sau.
Trong thánh lễ an táng mùa Phục Sinh, các lời nguyện đặc biệt chỉ cho người qua đời. Các lời nguyện cầu cho người anh chị em tín hữu qua đời "cùng được sống lại," "được hưởng ơn cứu độ," "được vào Nước Chúa":
"... (Hôm nay) ÔBACE T. là người tín hữu Chúa và là người anh (chị) em của chúng con đã cùng an giấc với Ðức Giê-su, Con Một Chúa. Nhưng chúng con biết rằng Chúa đã cho Ðức Giê-su sống lại, Chúa cũng sẽ cho ÔBACE được cùng sống lại với Người. Vì vậy, chúng con tin tưởng cầu xin Chúa cho ÔBACE được chia sẻ vinh quang với Ðấng đã từ cõi chết sống lại...” (Nhập lễ).10
"Lạy Chúa, chúng con dâng những lễ vật này để cầu cho ÔBACE T. được hưởng ơn cứu độ. Khi còn sống, ÔBACE đã vững tin Ðức Giê-su Con Chúa là Vị Cứu Tinh nhân hậu, thì giờ đây, xin Chúa cho ÔBACE được thấy rằng Người cũng là Vị Thẩm Phán khoan dung...” (Dâng lễ).11
"Lạy Chúa, Ðức Giê-su Con Chúa đã để lại cho chúng con bí tích Thánh Thể làm lương thực đi đường giúp chúng con đủ sức tiến về nhà Chúa, ước chi nhờ bí tích này, người anh (chị) em tín hữu của chúng con là T. được vào Nước Chúa dự tiệc vui muôn đời...” (Kết lễ).12
Trong thánh lễ giỗ, các lời nguyện vẫn tiếp tục cầu xin cho người qua đời hưởng lòng từ bi vô biên của Chúa, được "thứ tha... thanh tẩy" nếu còn vướng mắc, và được "sum họp cùng các thánh":
"Lạy Chúa, hôm nay, nhân ngày giỗ (đầu) của ÔBACE T., chúng con họp nhau đây, để một lần nữa, phó thác người anh (chị) em tín hữu này cho Chúa. Người thân yêu này, chúng con không thể quên, lẽ nào Chúa lại không nhớ đến! Xin cho ÔBACE được hưởng ân tình vô biên của Chúa là được sống với Chúa giữa cộng đoàn các thánh trên trời...” (Nhập lễ).13
"Lạy Chúa, nhân ngày kỷ niệm ÔBACE T. qua đời, chúng con dâng lễ tế tạ ơn và xá tội này lên trước Tôn Nhan. Cúi xin Chúa vui lòng chấp nhận và ban cho ÔBACE được về sum họp cùng các thánh...” (Dâng lễ).14
"Lạy Chúa, chúng con đã dâng lễ tạ ơn để cầu cho ÔBACE T. Vậy nếu người anh (chị) em tín hữu này còn mang vết nhơ tội lỗi, xin Chúa cũng rộng lượng thứ tha và khoan hồng thanh tẩy...” (Kết lễ).15
Các Kinh Tiền Tụng cầu cho tín hữu đã qua đời nói lên niềm tin vào Ðức Kitô phục sinh, Ðấng sẽ ban phúc trường sinh cho các tín hữu đã yên nghỉ.16
Thêm vào đó, các Kinh Nguyện Thánh Thể (KNTT) đều dâng lời cầu xin cho những người đã qua đời, xin cho họ được vào chốn trường sinh với Chúa:
"Lạy Cha, xin nhớ đến ÔBACE T. là (các) tôi tớ Cha được ghi dấu đức tin, đã ra đi trước chúng con và đang nghỉ giấc bình an. Lạy Cha, xin cho (những) người tín hữu ấy và các bậc tổâ tiên17 cùng thân bằng quyến thuộc chúng con cũng như tất cả những ai đang an nghỉ trong Ðức Ki-tô, được vào nơi hạnh phúc đầy ánh sáng và bình an." (KNTT I).18
 
C. Bài Ðọc Trong Thánh Lễ
Nhìn vào một vài bài đọc để thấy được niềm tin của người Công giáo đứng trước sự chết và mối liên hệ giữa người sống và kẻ chết. Bài đọc I trong thánh lễ I ngày 2 tháng 11, thánh Phaolô khuyên tín hữu thành Roma vững tin vào Ðức Giêsu Kitô phục sinh để cùng được phục sinh như Người:
"... Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại như vậy... Mà nếu chúng ta đã chết với Ðức Kitô, chúng ta tin rằng chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người..." (Rom 6:5.8).19
Trong thánh lễ II ngày 2 tháng 11, sách Khôn Ngoan cho chúng ta một cái nhìn tích cực và lạc quan trước sự chết của người thân yêu:
"... Ðối với con mắt người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt. Nhưng thật ra các ngài sống trong bình an..." (Kn 3: 2-3).20
Bài Phúc âm trong thánh lễ I ngày 2 tháng 11 nói lên niềm tin vào Chúa Giêsu, Ðấng ban bánh hằng sống, và hứa ban sự sống đời đời cho những ai đón nhận Người, là của ăn và của uống thiêng liêng:
"Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này sẽ sống đời đời... Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết..." (Ga 6:51.54).21
 
Bài Phúc âm trong thánh lễ III ngày 2 tháng 11 diễn tả lời nguyện xin tha thiết của Chúa Giêsu với Chúa Cha để các tín hữu được hiệp nhất với Người:
"Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con thì Con muốn rằng: Con ở đâu chúng cũng ở đãy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con..." (Ga 17:24).22
Lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ được diễn tả qua sách Huấn Ca trong lễ Thánh Gia Thất:
"Ai yêu mến cha mình, thì đền bù tội lỗi, ai thảo kính mẹ mình thì như người thu được một kho tàng. Ai thảo kính cha mình, sẽ được vui mừng trong con cái... Ai thảo kính cha mình, sẽ được sống lâu dài... Hỡi kẻ làm con, hãy gánh lấy tuôi già cha ngươi, chớ làm phiền lòng người khi người còn sống." (Hc 3:3-6a.12).
 
D. Các Kinh và Giáo Huấn             
Nói về các kinh giữa người Công Giáo, có nhiều kinh liên hệ đến người sắp qua đời cũng như người đã qua đời. Chẳng hạn: "Kinh cầu cho người hấp hối,”Kinh cầu cho người vừa tắt thở (sinh thì)," "Kinh cầu lúc tẩm liệm" v.v... "Kinh Vực Sâu," một dạng phóng dịch của thánh vịnh 130 (129), cầu cho người đã qua đời, vẫn được người Việt đọc hằng ngày: "... Lạy Chúa tôi [con], xin ban cho các linh hồn được nghỉ ngơi đời đời và được sáng soi vô cùng. Lạy Chúa tôi [con], xin cho cứu lấy các linh hồn cho khỏi tù ngục mà được nghỉ yên. Amen." Ý nghĩa "Kinh Vực Sâu" cũng đã được các nhạc sĩ sáng tác để tín hữu có thể hát; chẳng hạn: "Từ vực sâu u tối...” Hơn nữa, "Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ, xin cho các đẳng linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi—Hằng xem thấy mặt Ðức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. Amen " vẫn là câu kết thúc kinh nguyện trong nhiều gia đình. Khi có ai qua đời, người trong gia đình mời những người trong giáo xứ, trong làng, hoặc láng giềng đọc kinh tại gia đình cầu cho người vừa qua đời, và tiếp tục 3 ngày sau khi đã chôn cất (đương nhiên người trong gia đình tiếp tục cầu nguyện cho người qua đời hằng ngày). Thêm vào đó, về chữ hiếu, "Kinh Mười Ðiều Răn" lấy từ sách Xuất Hành, vẫn được đọc mỗi Chúa nhật. Mười điều răn gồm ba điều qui về Thiên Chúa và bảy điều qui về con người; kính nhớ ÔBTT được xếp vào hàng đầu trong các điều qui về con người (điều răn thứ tư). Ðiều răn này Gia-vê truyền cho dân Israel và các dân các nước thuộc muôn muôn thế hệ về sau: "Hãy thảo kính cha mẹ để bạn được sống lâu trong đãt Chúa ban" (Xh 20:12). Ðó là chưa nói đến những giáo huấn của thánh Phaolô nhắc nhở con cái vâng lời hiếu thảo với mẹ cha: "Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Ðó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này." (Eph 6:1-3).23
Ngoài việc cầu nguyện, tham dự thánh lễ, người Công giáo cũng có các bữa cơm gia đình chia sẻ giữa những người còn sống trong tinh thần tư"ng nhớ người đã khuất.
 
II. Các Văn Kiện Tòa Thánh và Thông cáo của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam
 
Việc tôn kính ÔBTT của người Việt Nam không thể tách rời khỏi hoàn cảnh lịch sử "Nghi Lễ Trung Hoa" (NLTH). Trong thời gian Matteo Ricci, bề trên dòng Tên (S.J.) còn sống chẳng có vấn đề tranh chấp về NLTH. Sau khi Mattheo Ricci qua đời (1610), vấn đề được đặt ra ngay giữa nhóm dòng Tên. Khi thừa sai các dòng khác (Ðaminh, Augustinô, Phanxicô, Thừa Sai Ba Lê) đến Trung Hoa (từ 1630 trở đi), vấn đề tranh tụng trở nên sôi bỏng. Diễn tiến cuộc tranh chấp qua các triều Giáo hoàng khác nhau và những quyết định được ghi lại trong các văn kiện tòa thánh. Các văn kiện về NLTH đều ảnh hưởng đến Việt Nam và các nước lân cận. Bài viết nầy không thể đi vào chi tiết hoàn cảnh lịch sử của cuộc tranh chấp, từng văn kiện cũng như giáo huấn liên hệ đến NLTH. Sau đây là những nét chính trong cuộc tranh chấp về NLTH.
 
A. Văn Kiện Tòa Thánh
1.         Juan Bautista Morales, dòng Ðaminh (O.P.) đến Trung Hoa năm 1633. Trong cơn bách hại 1637, Morales bị trục xuất khỏi Trung Hoa. Về đến Roma năm 1643, Morales phúc trình lên Bộ Truyền Bá Ðức Tin (TBÐT) những gì các Cha Dòng Tên (S.J.) cho phép người Trung Hoa thực hiện trong NLTH. Trong bản phúc trình, Morales đưa ra 17 câu hỏi24 trong đó 11 câu hỏi liên hệ đến NLTH, dùng những từ mang tính cách tôn giáo, chẳng hạn: "đền thờ,”bàn thờ,”hy lễ," "chủ tế," "vái lạy," v.v... Chính vì thế, ngày 12 tháng 9 năm 1645,25 Bộ TBÐT, được Ðức Giáo Hoàng (ÐGH) Innocent X phê chuẩn, đã ra sắc cấm NLTH. Nhưng mãi đến năm 1649 sắc này mới đến Trung Hoa.
2.         Nhóm các cha Dòng Tên không vừa lòng với sắc 1645, nên năm 1651 đã cử cha Martin Martini, S.J. qua Tòa Thánh để biện hộ cho họ. Bản phúc trình, hay đúng hơn là bản biện hộ của Martini nói không có chủ tế; không ở trong "đền thờ," nhưng ở trong "hội trường"; không phải "bàn thờ," nhưng chỉ là "bàn." Vì thế, nghi lễ không mang màu sắc tôn giáo, nhưng chỉ có tính cách dân sự và xã hội. Dựa vào phúc trình của Martini, ngày 23 tháng 3 năm 1656 Tòa Thánh, được ÐGH Alexandre VII phê chuẩn, ban sắc cho thi hành NLTH.26
 
3.         Juan de Polanco, O.P. thắc mắc sắc 1656 có hủy sắc 1645 hay không. Ngày 20 tháng 11 năm 1669, Tòa Thánh, với sự phê chuẩn của ÐGH Clement IX, trả lời cả hai sắc đều có gía trị.27 Nếu NLTH được nhìn dưới tính cách tôn giáo, thì sẽ bị cấm như sắc 1645. Ngược lại, nếu NLTH được nhìn theo tính cách dân sự và xã hội, thì sẽ được chấp nhận như sắc 1656.
4.         Ngày 26 tháng 3 năm 1693, Ðại diện Tông Tòa tại Phúc Kiến, Charles Maigrot, thuộc Hội Thừa Sai Ba Lê (M.E.P.), ra chiếu chỉ với 7 điều khoản, buộc các thừa sai trong vùng trách nhiệm của ngài phải tuân giữ.28 Chiếu chỉ này cấm NLTH và kết án Martini, S.J. không trình bày với Tòa Thánh tất cả sự thực về NLTH. Chiếu chỉ này gây bất bình với nhóm Dòng Tên và ngay cả một số thừa sai khác (nhóm Augustino, Phanxicô, và một vài thừa sai dòng Ðaminh). Chiếu chỉ này được trình lên Tòa Thánh duyệt xét. Sau khi duyệt xét, năm 1697 Tòa Thánh thiết lập một nhóm đặc biệt gồm 4 Hồng Y và 4 chuyên gia thần học để mở lại hồ sơ của NLTH dưới thời ÐGH Innocent XII. Vấn đề bị đình trệ vì ÐGH Innocent XII qua đời năm 1700.
Cũng nên biết rằng trong thời gian vấn đề được cứu xét, một nhóm gồm 4 cha dòng Tên viết thư cho vua Khang Hy để thỉnh ý nhà vua về ý nghĩa của NLTH. Ngày 30 tháng 11 năm 1700, 29 vua Khang Hy trả lời các cha dòng Tên với xác định rằng việc thờ Trời, phục vụ các nhà cầm quyền và cha mẹ, lễ phép với thầy giáo và các bậc cao niên là luật của toàn dân trong nước. Ðồng thời, nhà vua cũng xác định những gì 4 cha dòng Tên viết trong thư là đúng và phải lẽ (việc tôn kính ÔBTT là để tỏ lòng hiếu thảo, linh hồn người quá cố không ngự trong các bài vị, dâng lễ phẩm là để nhớ người qua đời dường như họ hiện diện với người sống).
 
5.         Sau 7 năm nghiên cứu vấn đề, với sự phê chuẩn của ÐGH Clement XI, ngày 20 tháng 11 năm 1704 Tòa Thánh ra sắc hỗ trợ chiếu chỉ của Maigrot và cấm NLTH vì NLTH mang màu sắc dị đoan. 30 Cũng trong sắc này, ÐGH cử thượng phụ Antioch, Charles Thomas Maillard de Tournon, mang sắc sang Trung Hoa và với tư cách "đại diện toàn quyền" (legatus a latere) của Tòa Thánh để dàn xếp vấn đề giữa các thừa sai và với chính quyền Trung Hoa. Tournon đến Bắc Kinh vào tháng 12 năm 1705.
 
6.         Sau 3 lần hội kiến với vua Khang Hy không thành công, Tournon về Nam Kinh. Tháng 12 năm 1706, vua Khang Hy ra lệnh các thừa sai muốn làm việc ở Trung Hoa phải qua sự khảo hạch của vua và vua chỉ ban phép cho thừa sai nào theo các thực hành của cha Matteo Ricci và các cha dòng Tên trong vấn đề NLTH. Trước tình thế này, ngày 25 tháng 1 năm 1707, Tournon ra một bản điều lệ cho các thừa sai biết cách trả lời nhà vua về niềm tin và thực hành Kitô giáo trong vấn đề NLTH; sau hai tuần, bản điều lệ được phô biến ngày 7 tháng 2. 31 Các câu trả lời về NLTH đều mang tính cách tiêu cực; nói một cách khác, NLTH bị cấm theo tinh thần của sắc 1704. Các thừa sai phải tuân theo bản điều luật; nếu không, sẽ mắc vạ tuyệt thông. Ngày 3 tháng 7 năm 1708, Tournon lại ra lệnh cho tất cả các thừa sai muốn làm việc tại Trung Hoa, hay rời Trung Hoa, hoặc làm bề trên các Dòng trên đất Trung Hoa, phải có phép của ngài. 32 Lệnh này gây khó chịu cho vua Khang Hy.
 
7.         Các thừa sai ở Trung Hoa khó lòng quyết định hoặc theo lệnh nhà vua, hoặc theo lệnh của Tournon và ÐGH Clement XI. Trước tình thế này, ngày 25 tháng 9 năm 1710, ÐGH Clement XI ra sắc tuyên bố sắc 1704 và lệnh của Tournon ngày 25 tháng 1 năm 1707 phải được tuân theo triệt để. 33 Như thế NLTH vẫn bị cấm ngặt với vạ tuyệt thông đi kèm cho những ai bất tuân.
 
8.         Tình thế cũng không tốt hơn, vẫn có những cách giải thích khác với sắc của ÐGH. Chính vì thế, ngày 19 tháng 3 năm 1715 ÐGH Clement XI ra sắc Ex illa die34 với ý định kết thúc cuộc tranh chấp về NLTH. Trong sắc này, ÐGH muốn mọi người phải tuân theo sắc 1704, 1710 và lệnh 1707 của Tournon. Sắc cũng cho phép sử dụng từ "Thiên Chủ" để gọi Chúa trong Kitô giáo. Tuy nhiên, các từ "thiên, hoàng thiên," hoặc "kính thiên" không được phép sử dụng. Sắc kèm theo vạ tuyệt thông cho những ai bất tuân. Ðồng thời, sắc buộc các thừa sai ở Trung Hoa tuyên thệ chống lại NLTH theo mẫu đính kèm trong sắc.
 
9.         Sắc Ex illa die gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực. Người ngoài Công giáo, đặc biệt các Nho sĩ, ghét Kitô giáo, và các cuộc bách hại người Công giáo xảy ra. Tình hình càng ngày càng tệ. Do đó, ÐGH muốn gửi một đặc sứ khác là Carlo Ambrogio Mezzabarba, thượng phụ của Alexandria, sang Trung Hoa để dàn xếp vấn đề. Mezzabarba đến Bắc Kinh ngày 26 tháng 12 năm 1720. Sau vài lần hội kiến với vua Khang Hy, Mezzabarba rời Bắc Kinh về Roma để trình bày vấn đề. Trên đường về, Mezzabarba ngừng chân tại Macao. Chính tại Macao, ngày 4 tháng 11 năm 1721, 35 Mezzabarba viết thư mục vụ khuyến khích các thừa sai tuân giữ sắc Ex illa die, đồng thời kèm theo 8 phép rộng liên quan đến việc áp dụng sắc Ex illa die. 36 Mezzabarba ra lệnh cho các thừa sai không dịch thư mục vụ này sang tiếng Trung Hoa, và chỉ lưu hành nội bộ với tính cách thận trọng.
 
10.       Thư mục vụ của Mezzabarba làm cho nhiều thừa sai khó xử. Một số theo, một số chống. Ngày 6 tháng 7 và ngày 23 tháng 12 năm 1733, Giám mục Bắc Kinh, François de la Purification, viết hai thư mục vụ ra lệnh các thừa sai trong vùng trách nhiệm phải tuân giữ sắc Ex illa die theo tinh thần 8 phép rộng của Mezzabarba. Ngày 26 tháng 9 năm 1735, 37 ÐGH Clement XII vô hiệu hóa hai thư mục vụ của François de la Purification, với ý hướng chấm dứt tranh chấp, nhưng ÐGH Clement XII qua đời để lại công việc cho đấng kế vị, ÐGH Benedict XIV.
 
11.       Nối tiếp ý hướng của đấng tiền nhiệm, muốn giải quyết dứt khóat vấn đề NLTH, ngày 5 tháng 7 năm 1742, ÐGH Benedict XIV ra sắc Ex quo singulari cấm ngặt NLTH. 38 Trong sắc này ÐGH nhắc lại các sắc của các thời trước, kể từ sắc 1645. Sắc này vô hiệu hóa hoặc rút lại các phép đã cho trước đây trong NLTH: sắc 1656, 8 phép rộng của Mezzabarba, 2 thư mục vụ của Giám mục Bắc Kinh. Sắc này cấm bàn thảo vấn đề dưới mọi hình thức, kèm theo bản tuyên thệ chống lại NLTH, cũng như vạ tuyệt thông tức khắc cho những ai bất tuân. Với sắc Ex quo singulari, ÐGH Benedict khóa sổ vấn đề NLTH, nhưng không thực sự giải quyết được vấn đề. Nghi vấn vẫn còn đặt ra từ các thừa sai tại các xứ truyền giáo dưới nhiều hình thức.
 
12.       Hai biến cố quan trọng trong lịch sử đưa đến việc toà thánh cho phép NLTH cần được nhắc lại đây:
 
1) Trường hợp thứ nhất xảy ra tại Nhật Bản. Ngày 5 tháng 5 năm 1932 sinh viên Công giáo thuộc Ðại học Sophia ở Tokyo khước từ bái đầu trong đền Yasukuni, nơi tôn kính các anh hùng liệt sĩ hy sinh vì quốc gia. Trong tình thế đó, giám mục Johannes Ross, cắt nghĩa giáo luật khoản 1258, cho phép người Công giáo Nhật tham dự nghi thức viếng thăm đền Yasukumi và sau đó trình bày vấn đề cho giám mục Tokyo, Jean Alexis Chambon. Ngày 22 tháng 9 năm 1932, giám mục Chambon hỏi chính quyền Nhật Bản về tính chất của việc viếng đền các anh hùng liệt sĩ; giám mục muốn biết viếng đền có tính chất tôn giáo hay dân sự. Ngày 30 tháng 9, chính quyền trả lời cho biết việc viếng đền các anh hùng liệt sĩ chỉ mang tính cách dân sự, để bày tỏ lòng ái quốc. 39 Chính vì thế, tháng 1 năm 1933, đại diện tông tòa tại Nhật, giám mục Edward Mooney, cho phép người Công giáo Nhật Bản tham dự các nghi thức trong đền các anh hùng liệt sĩ.
2) Trường hợp thứ hai xảy ra tại Mãn Châu. Chính quyền muốn áp dụng chính sách "Hoàng Ðạo." Theo chính sách này người dân phải bái mình trước tượng hay bài vị của Khổng Tử. Ngày 27 tháng 2 năm 1935, giám mục tại thủ đô Kirin, Augustin Ernest Pierre Gaspais, hỏi chính quyền về tính chất của việc bái mình này. Ngày 5 tháng 3 năm 1935, Bộ trưởng Giáo dục cho biết việc vái mình trước tượng hay bài vị Khổng Tử là chỉ tỏ lòng tôn kính và gợi lên tinh thần ái quốc. 40 Ngày 12 tháng 3 năm 1935, giám mục Gaspais triệu tập các đấng bản quyền về họp tại tân thủ đô, Ksinking, để xét lại vấn đề người Công giáo tham dự nghi thức của người ngoài Công giáo dưới ánh sáng giáo luật khoản 1258.2. Biên bản cuộc họp được chính giám mục Gaspais nộp về Thánh Bộ Truyền Bá Ðức Tin. Sau khi duyệt xét biên bản, ngày 28 tháng 5 năm 1935 tông trưởng Bộ Truyền Bá Ðức Tin, Hồng Y Fumasoni-Biondi, với sự chuẩn y của ÐGH Pius XI, cho phép dân Công giáo Mãn Châu được tham dự nghi thức tôn kính Khổng Tử. 41 Kết quả đi kèm là ngày 26 tháng 5 năm 1936, Bộ Truyền Bá Ðức Tin ra huấn dụ Pluries instanterque cho phép người Công giáo Nhật thi hành nghĩa vụ công dân đối với các anh hùng liệt sĩ, được phép tham dự các nghi thức tống táng, cưới hỏi, cũng như các nghi thức khác có tính cách dân sự và xã hội. 42 Tòa thánh cho phép dân Nhật Bản một phần chính có lẽ với lý do chính trị bởi vì lúc bấy giờ thế lực quân sự của Nhật Bản quá mạnh.
 
13.       Huấn dụ 1935 cho Mãn Châu và huấn dụ 1936 cho Nhật Bản đã trở thành nguyên do chính để Bộ Truyền Bá Ðức Tin, với sự phê chuẩn của ÐGH Pius XII, ra huấn dụ Plane compertum ngày 8 tháng 12 năm 1939 cho Trung Hoa. 43 Huấn dụ này cho phép người Công giáo Trung Hoa tôn kính Khổng Tử trước tượng hay bài vị, được thiết lập hình ảnh hoặc bài vị Khổng Tử để bái chào, được tham dự các nghi thức công cộng không mang tính cách dị đoan, và được bái trước người chết, hình ảnh hay bài vị người chết. Lý do cho phép NLTH được xác định rõ trong phần mở đầu của huấn dụ:
 
"Ở nhiều miền bên Phương Ðông, người ta nhận thấy có một vài lễ nghi, dù xa xưa có liên hệ đến lễ điển tôn giáo, nhưng trong hiện tại, vì tập quán và tâm tình đã biến đổi theo thời gian, chỉ còn nói lên lòng hiếu thảo đối với tiền nhân, lòng ái quốc hay sự lịch thiệp đối với tha nhân." 44
Oái oăm thay, ý kiến của vua Khang Hy ngày 30 tháng 11 năm 1700 về NLTH đã không được chấp nhận; nhưng thời điểm này sau bao đau thương tranh chấp, lý do cho phép NLTH chính là những gì vua Khang Hy đã trình bày trước đây. 45 Ðó cũng là những gì vua Gia Long bày tỏ với giám mục Bá Ða Lộc về việc tôn kính ông bà tổ tiên. 46
 
B. Văn kiện liên hệ, Thông cáo của HÐGMVN và THÐGM Á Châu 1998
 
Thiết tưởng cũng nên đi qua lịch sử dẫn đến thông cáo của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam (HÐGMVN) về vấn đề tôn kính ÔBTT.
1.         Huấn dụ Plane compertum ngày 8 tháng 12 năm 1939 đã cho phép Trung Hoa và các nước phụ cận thực hành việc tôn kính Khổng Tử, các anh hùng liệt sĩ, và ông bà tô tiên. Không rõ lý do tại sao mãi đến năm 1964 Hàng Giám Mục Việt Nam mới xin phép áp dụng huấn thị Plane compertum. 47 Với văn thư số 3787/64 đề ngày 2 tháng 10 năm 1964, Ðức Hồng Y Grêgoriô Phêrô Agagianian thông báo cho Khâm sứ Tòa Thánh tại Sàigòn, Angelo Palmas, biết trong cuộc triều yết ngày 29 tháng 9 năm 1964 ÐGH Phaolô VI đã chấp thuận lời thỉnh cầu của Hàng Giám Mục VN, cho phép Giáo hội VN áp dụng huấn dụ Plane compertum. 48
2.         Ngày 15 tháng 11 năm 1964 TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình loan tin vui cho toàn thể Giáo hội VN: "Ðây thực là một ngày lịch sử, một hiện tượng mới cho toàn thể Giáo hội Việt Nam. Chúng tôi, đại diện cho Hàng Giám mục Việt Nam, xin long trọng công bố tin mừng này..."49 TGM cũng kèm theo lời căn dặn: "Còn việc đưa áp dụng thực hành, chúng tôi sẽ ban bố sau những chỉ thị và mẹo mực cho từng trường hợp." 50
3.         Cuối khóa họp hai ngày tại Ðà Lạt, ngày 14 tháng 6 năm 1965 HÐGMVN ra thông cáo về việc tôn kính ÔBTT và các bậc anh hùng liệt sĩ. 51 Thông cáo gồm hai phần:
1) "Giáo-hội Công-giáo đối với nền Văn-hóa và Truyền-thống các Dân-tộc"
Giáo hội không khinh chê tư tưởng, nghệ thuật của người ngoài Công giáo. Trái lại Giáo hội thanh luyện và thánh hóa phong tục tập quán của các dân tộc; Giáo hội đã đưa vào Phụng vụ của mình những nghi lễ của các dân nước trong việc tưởng nhớ mầu nhiệm hoặc tôn kính các thánh (trích dẫn Evangelii praecones, 2-6-1951 của ÐGH Piô XII và Princeps Pastorum, 28-11-1959 của ÐGH Gioan XXIII). Thêm vào đó, Giáo hội tôn trọng giá trị tinh thần và luân lý của các tôn giáo khác (trích Ecclesiam suam, 6-8-1964 của ÐGH Phaolô VI).
2) "Thể thức áp dụng Huấn-thị Plane compertum est"
Phần hai chia làm ba khoản. Khoản đầu cho phép và hầu như trích lại phần dẫn nhập của Plane compertum:
Nhiều hành vi cử chỉ xưa kia, tại Việt Nam, có tính cách tôn giáo, nhưng nay vì sự tiếp xúc với bên ngoài và vì tâm tình, tập quán, đã thay đổi nhiều, nên chỉ còn là những phương cách biểu lộ lòng hiếu thảo tôn kính đối với Tổ-tiên và các bậc Anh-hùng liệt sĩ. Những cử chỉ, thái độ, nghi lễ, có tính cách thế tục, lịch sự, và xã giao đó, Giáo hội Công giáo chẳng những không ngăn cấm mà còn mong muốn và khuyến khích cho nó được diễn tả bằng các cử chỉ riêng biệt của mỗi nước, mỗi xứ, và tùy theo trường hợp. 52
Theo đó, việc treo hình, ảnh, tượng, nghiêng mình bái, trưng hoa, thắp nến, tô chức ngày giỗ kỵ cho người qua đời đều được phép.
Việc cho phép bởi vì những việc xưa có tính cách tôn giáo, nhưng nay chỉ còn là "phương cách biểu lộ lòng hiếu thảo tôn kính đối với Tổ-tiên..." Nói một cách khác, việc tôn giáo ngày xưa bị cấm đoán, nay đã mất ý nghĩa tôn giáo hay bị tục hóa, vì thế "việc đó" ngày nay được phép. Nhưng thử hỏi việc vái lạy trước bàn thờ ÔBTT, theo tâm thức của người Việt hôm nay, có phải chỉ có tính cách dân sự và xã hội vì đã mất hết ý nghĩa tôn giáo? Chắc hẳn là không! Việc vái lạy trước bàn thờ ÔBTT đương nhiên khác hẳn với việc vái trước người sống. Việc vái lạy trước bàn thờ ÔBTT là một hành vi rất ư tôn giáo. 53 Hơn nữa, vấn đề có thể hiểu ngược lại, nghĩa là một hành vi nào đó đầu tiên mang tính cách dân sự và xã hội, nhưng với thời gian hành vi đó mang lấy một ý nghĩa mới, một ý nghĩa tôn giáo. Ðiều này chúng ta thấy rõ trong sinh hoạt Phụng vụ của Giáo hội; chẳng hạn trong thánh lễ việc thêm nước vào rượu54 và việc linh mục rửa tay55 ban đầu chỉ là việc bình thường, nhưng với thời gian ý nghĩa thiêng liêng được thêm vào; Giáo hội cũng "rửa tội" các tập tục hay cử hành của người ngoại làm của riêng mình, chẳng hạn lễ Giáng sinh, 56 bí tích khai tâm... Cũng trong chiều hướng này ta có thể lý luận rằng, nếu ban đầu việc tôn kính ÔBTT là việc để tỏ lòng hiếu thảo, chỉ có tính cách dân sự và xã hội, thì với thời gian, việc tôn kính ÔBTT đã mang một ý nghĩa thiêng liêng và trở thành rất tôn giáo.
Chính vì thế, việc cho phép NLTH với lý do đó là "nói lên lòng hiếu thảo đối với tiền nhân, lòng ái quốc hay sự lịch thiệp đối với tha nhân" như huấn dụ Plane compertum, hoặc chỉ là "phương cách biểu lộ lòng hiếu thảo tôn kính đói với Tổ-tiên...” như thông cáo 1965 của HÐGMVN, xem ra không mấy vững chắc.
Khoản hai, để "bảo vệ cho Ðức tin Công giáo,"thông cáo cũng cấm một số việc làm "không phù hợp với giáo lý Công giáo," chẳng hạn: nghi lễ diễn tả phục tùng và lệ thuộc vào thụ tạo như đối với Thiên Chúa, việc đốt vàng mã, và cử hành ở những nơi dành riêng cho việc tế tự...
Khoản ba, thông cáo cũng đề cập đến những việc làm không rõ mang tính cách tôn giáo hay dân sự. Trong trường hợp này cần dựa "theo dư luận dân chúng địa phương," nếu đó không phải là việc biểu lộ niềm tin của một tôn giáo ngoài Kitô giáo, thì được phép tham dự. Nếu hồ nghi, hành động theo tiếng lương tâm và hoàn cảnh. Phần này không rõ ràng hoặc gây khó xử cho tín hữu vì thông cáo nói thêm: "Trong trường hợp hồ nghi, mọi người liên hệ không được theo ý riêng mình, mà sẽ phán đoán theo chỉ thị của Tòa thánh và bàn hỏi với các Giáo sĩ thành thạo." Nếu chỉ thị của Tòa thánh rõ ràng rồi, làm sao còn hồ nghi được? Hơn nữa, trong trường hợp cụ thể người tín hữu tìm đâu ra "giáo sĩ thành thạo" tại chỗ để tham khảo ý kiến?
 
4.         Ngày 19 tháng 4 năm 1972, 57 Ủy Ban Giám-mục về Truyền Bá Phúc Âm (TBPÂ) ra quyết nghị liên hệ đến việc tôn kính ÔBTT và anh hùng liệt sĩ để áp dụng huấn dụ Plane compertum. Trong phần dẫn nhập, Ủy Ban TBPÂ trích lại khoản một của phần thứ hai trong thông cáo 1965 của HÐGMVN, đồng thời thêm một câu trước và một câu sau lời trích dẫn:
Ðể đồng bào lương dân dễ chấp nhận Tin Mừng, hội nghị xét rằng: một ít "cử chỉ, thái độ, lễ nghi sau đây có tính cách thế tục, lịch sự, xã giao, để tỏ lòng hiếu thảo, tôn kính và tưởng niệm các Tổ-tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ" (TC/HÐGMVN/14-6-1965), nên được thi hành và tham dự cách chủ động.
 
Tiếp đến Ủy Ban liệt kê những gì được phép:
a) Ðặt bàn thờ Tổ-tiên (gia tiên) dưới bàn thờ Chúa trong gia đình.
b) Ðốt nhang (hương), đốt đèn (nến), xá lạy, trước bàn thờ Tổ-tiên.
c) Ngày giỗ được cúng giỗ theo phong tục cha ông, nhưng không được đốt vàng mã.
d) Tham dự nghi lễ tôn kính vị Thành-Hoàng "lành" tại đình làng, để tỏ lòng cung kính, biết ơn những vị đã có công sáng lập làng ấp, chứ không phải để cầu bái xin ơn phù hộ.
đ) Trong việc hôn nhân, được lạy giường thờ vì đó là nghi lễ do lòng hiếu kính ông bà.
e) Trong tang lễ, được xá lạy thi hài người quá cố, đốt hương, xá lạy theo phong tục Á-đông, để tỏ lòng cung kính người chết, giống như Giáo-hội cho đốt đèn nến, xông hương trên thi hài người quá cố.
Cuối cùng Ủy Ban đề nghị nên giải thích, nếu sợ hiểu lầm, cho giáo dân rõ việc tôn kính ÔBTT là "một nghĩa vụ hiếu thảo... chứ không phải là những hành động Tôn-giáo của một Tín-ngưỡng" và đó là "bôn phận sau việc tôn thờ Thiên Chúa."
 
5.         Khóa hội thảo VII về Truyền Bá Phúc Âm toàn quốc họp tại Nha Trang từ ngày 12 đến 14 tháng 11 năm 1974. Kết thúc khóa, 7 giám mục tham dự ra thông cáo về "Lễ Nghi Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên." 58 Các giám mục chấp thuận và cho thi hành quyết nghị của Ủy Ban Giám Mục về TBPÂ ngày 19 tháng 4 năm 1972.
Nội dung của thông cáo chỉ lặp lại 6 điểm của quyết nghị 19-4-1972. Về phần thứ tự, việc tôn kính Thành Hoàng được xếp sau cùng (điểm 6), thay vì điểm 4 như quyết nghị 1972. Danh từ "bôn phận" trong câu cuối cùng của quyết nghị được thay thế bằng "giới răn" nói lên tính cách bó buộc hơn của việc tôn kính ÔBTT. Thông cáo giải thích thêm 6 điểm của quyết nghị 1972:
1) Bàn thờ Gia Tiên để kính Ông bà Tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ không bày biện điều gì dị đoan, như hồn bạch... 59
2) Việc đốt nhang hương, đèn nến trên bàn thờ Gia Tiên, và bái lạy trước bàn thờ, giường thờ Tổ tiên là những cử chỉ, thái độ hiếu thảo tôn kính được phép làm
3) Ngày giỗ cũng là ngày "Kỵ nhậtỏ được cúng giỗ trong gia đình theo phong tục địa phương, miễn là loại bỏ những gì là dị đoan mê tín, như đốt vàng mã... và giảm thiểu canh cải những lễ vật để biểu dương đúng ý nghĩa thành kính biết ơn Ông bà như dâng hoa trái hương đèn.
4) Trong hôn lễ, dâu rể được làm "Lễ Tổ, lễ Gia Tiên" trước bàn thờ, giường thờ Tổ Tiên, vì đó là nghi lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình diện với ông bà.
5) Trong tang lễ được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để tỏ lòng cung kính người đã khuất, cũng như Giáo hội cho đốt đèn nến xông hương, nghiêng mình trước thi hài người quá cố.
6) Ðược tham dự nghi lễ tôn kính vị Thành Hoàng, quen gọi là "Phúc Thần" tại đình làng, để tỏ lòng cung kính biết ơn những vị mà theo lịch sử đã có công với dân tộc hoặc là ân nhân của dân làng, chứ không phải vì mê tín như đối với các "yêu thần tà thần."
Thông cáo đưa ra những chỉ dẫn tổng quát, vì thế tạo tình trạng khó xử cho những ai muốn thi hành thông cáo, đặc biệt là giáo dân. Hơn nữa, những gì Giáo hội ngăn cấm trước đây vẫn in sâu trong tâm khảm nhiều người. Vì thế cần có những chỉ dẫn chi tiết và giải thích để người thi hành không e ngại. Nhưng thực ra, thông cáo không chỉ dẫn cách trình bày trang trí bàn thờ tô tiên, không nói đến tô tiên bao nhiêu đời được tôn kính trong gia đình. Thông cáo cho phép vái lạy, nhưng không nói vái lạy như thế nào, vái lạy bao nhiêu lần, v.v... Trong hôn lễ đôi tân hôn vái lạy Tổ tiên, nhưng không đề cập vấn đề vái lạy ông bà cha mẹ còn sống. Về Thành Hoàng, người Công giáo được phép tham dự nghi thức tôn kính, nhưng thông cáo không nói đến việc người Công giáo tô chức hay đóng vai trò chủ động.
Một vấn đề được nêu ra trong việc cưới hỏi và tang chế là liệu có thể một nghi thức nào được cử hành trong thánh đường, giữa cộng đoàn những kẻ tin, thay thế cho việc cử hành tại gia đình?
 
6.         Các giám mục Việt Nam tham dự Thượng Hội Ðồng Giám Mục Á Châu (THÐGMAC) họp tại Roma từ ngày 19 tháng 4 đến 17 tháng 5 năm 1998, đã phát biểu tầm quan trọng của việc tôn kính ÔBTT giữa người Công giáo. Trong khóa họp thứ 9, ngày 24 tháng 4, Étienne Nguyễn Như Thể, TGM Huế, cho biết tam giáo (Không giáo, Lão giáo và Phật giáo) đã hội nhập niềm tin căn bản trong dân gian, đó là việc tôn kính ÔBTT, trong khi đó Giáo hội Công giáo phải đau khô dằng co trong vấn đề tôn kính ÔBTT. Giám mục nói: "Giữa người Công giáo, thật không dễ áp dụng tập tục này, và đôi khi tạo nên chia rẽ trong gia đình. Tôn kính ÔBTT vẫn còn là một khó khăn nhất trong mục vụ và là một chướng ngại thực sự trong việc truyền giáo." 60 Thật khó xử cho người Công giáo trong nghi lễ tôn kính ÔBTT, Phaolô Nguyễn Văn Hòa, GM Nha Trang, trong khóa họp thứ 3, ngày 21 tháng 4, cho biết: "Ðối với tín đồ của vài tôn giáo... thì việc trở thành người Công giáo có nghĩa là một sự phản bội đối với gia đình và cả đối với đất nước của họ nữa." 61 Tương tự, Bartholomeo Nguyễn Sơn Lâm, GM Thanh Hóa, phát biểu: "Bên Việt Nam, việc ngăn cấm Kitô hữu tôn kính ÔBTT suốt 3 thế kỷ đã làm cho các Kitô hữu cắt đứt với những gì căn bản nhất của xã hội Việt Nam. Ðiều này cho biết tại sao họ bị coi như những kẻ xa lạ trong chính đất nước của họ, và họ đã bị bách hại." 62       
Nhìn chung, các giám mục VN tại THÐGMAC nói lên tính cách quan trọng của việc tôn kính ÔBTT, cũng như ảnh hưởng của việc tôn kính ÔBTT trong vấn đề truyền giáo.
 
Tiện đây xin khai triển thêm tại sao các GMVN tại THÐGMAC đã cho rằng tôn kính ÔBTT là một cản trở cho vấn đề truyền giáo trong quá khứ? Tại sao cho phép nghi thức tôn kính lại là một phương tiện tốt cho truyền giáo trong hiện tại và tương lai?
a. Cản Trở
Việc tranh chấp về NLTH kéo dài suốt ba thế kỷ trong lịch sử Giáo hội đã gây ra nhiều cản trở trong việc truyền giáo và là nguyên do cho bao cuộc bách hại các tín hữ63 Việc tôn kính ÔBTT đã là nguyên do tạo ra chia rẽ trong nhiều gia đình, gây nên căng thẳng giữa các phần tử của đại gia đình với người trong theo đạo Công giáo. 64 Ðây cũng là trường hợp cụ thể xảy ra trong gia đình của nữ tu Mai Thành, với 72 tuôi đời, 54 năm làm con Chúa và 50 năm trong tu viện; cha con căng thẳng khi người con gái muốn vào đạo Công giáo. 65 Biết bao thanh niên thanh nữ đã không nên vợ thành chồng cũng vì ngăn cách giữa người Công giáo và người ngoài Công giáo trong việc tôn kính ÔBTT. Trong phương diện này, việc tôn kính ÔBTT của người Công giáo đã là một cản trở cho việc truyền giáo mãi cho đến năm 1965.
b. Phương tiện
May mắn thay, sau hai ngày họp tại Ðà Lạt, HÐGMVN đã ra thông cáo ngày 14 tháng 6 năm 1965 cho phép việc tôn kính ÔBTT theo phong tục Việt Nam và 9 năm sau tại Nha Trang, một thông cáo khác ngày 14 tháng 11 năm 1974 khuyến khích việc tôn kính ÔBTT theo tinh thần Ðạo Hiếu. Thêm vào đó, các giám mục Việt Nam tại THÐGMAC năm 1998 đã nhìn nhận khó khăn trong truyền giáo khi cấm việc tôn kính ÔBTT và là phương tiện truyền giáo, nếu biết áp dụng theo tinh thần hội nhập văn hóa... Buồn thay, cho đến lúc này nhiều phần tử của Giáo hội Việt Nam vẫn rất xa lạ hoặc chưa hề nghe đến hai thông cáo quan trọng và những lời phát biểu của các giám mục tại THÐGMAC về việc tôn kính ÔBTT. Vì thế những ai đã biết hai thông cáo này và những lời phát biểu của các giám mục đều có trách nhiệm chia sẻ cho các anh chị em khác cũng như những người ngoài Công giáo để nhờ đó "đồng bào lương dân dễ dàng chấp nhận Tin Mừng." 66 Riêng người viết cùng với người anh linh mục tại Việt Nam đã liên hệ với một nhóm anh chị em ngoài Công giáo từ 11 năm nay để đả thông về việc tôn kính ÔBTT. Kết quả có thể tạm nhìn thấy, nghĩa là, khoảng 100 cuốn Thánh Kinh được làm quà tặng cho nhóm anh chị em này. Họ đã vui lòng đón nhận. Tạ ơn Chúa. Xin cho hạt giống Ngôi Lời đâm rễ nơi những người anh chị em này. Phải chăng việc tôn kính ÔBTT là một phương tiện truyền giáo? Câu trả lời không cần phải suy nghĩ lâu...
 
IV. Ðề Nghị/Gợi Ý Về Tôn Kính ÔBTT
 
Ngày nay vấn đề "Hội nhập Văn hóa" (HNVH) đang được chú trọng trong mọi lãnh vực của cuộc sống con người. Những gì mang tính cách ngoại lai hoặc bị áp đặt cần phải được xét lại. Trước khi đi vào gợi ý hay đề nghị cho HNVH, thiết tưởng cũng nên nhìn vào cụm từ HNVH, rồi từ đó chúng ta có thể gợi ý cho việc áp dụng HNVH trong việc tôn kính ÔBTT qua cưới hỏi và tang lễ.
Có nhiều định nghĩa về "Hội Nhập Văn Hóa" cũng như phương pháp. 67 Chính ÐGH Gioan Phaolô II là người đầu tiên dùng chữ HNVH trong văn kiện của Giáo hội. 68 Trong thông điệp Slavorum Apostolici, số 21, ngày 2 tháng 6 năm 1985, ngài nói: "Hội nhập văn hóa là sự nhập thể của Tin Mừng vào trong các nền văn hóa tự lập và đồng thời giới thiệu những nền văn hóa này vào trong đời sống của Giáo hội." 69 Sau đó 5 năm, ngày 7 tháng 12 năm 1990, trong thông điệp Redemptoris Missio, số 52, ngài nói: "Hội nhập văn hóa là một động thái hai chiều trong đó Giáo hội làm cho Tin Mừng nhập thể vào các nền văn hóa khác nhau, đồng thời Giáo hội giới thiệu các dân tộc cùng văn hóa của họ vào trong chính cộng đoàn riêng của Giáo hội." Ở định nghĩa thứ hai này, ÐGH thêm yếu tố "các dân tộc" vào định nghĩa thứ nhất.
Trong cuộc sống Kitô hữu, chúng ta đã đưa những sinh hoạt của Giáo hội vào sinh hoạt gia đình, chẳng hạn đọc kinh và dùng Lời Chúa trong các nghi thức cưới hỏi hoặc trong các dịp cầu nguyện cho người đã qua đời. 70 Ðó là chiều thứ nhất. Nhưng còn chiều thứ hai cũng không kém quan trọng, nghĩa là cần phải đưa sinh hoạt gia đình, hay nói cách khác, "giới thiệu dân tộc cùng văn hoá... vào trong chính cộng đoàn riêng của Giáo hội [cử hành phụng vụ]." Ðiều này chúng ta rất ít thấy hay chưa thấy thực hiện; hoặc nếu có thực hiện, cũng tùy ý riêng mỗi vị mỗi miền...
Vì thế những gì sau đây chỉ là gợi ý cho việc tôn kính ÔBTT trong Phụng vụ. Còn việc quyết định vẫn thuộc quyền Tông tòa (Sacrosanctum Concilium [SC] 22.1) hay quyền của Hội Ðồng Giám Mục (SC 22.2), vì không ai, ngay cả linh mục, có thể tự quyền thêm bớt hoặc thay đổi điều gì trong Phụng vụ (SC 22.3).
 
A. Cưới Hỏi
1. Nguyên tắc trong Phụng vụ
Về cưới hỏi, Hiến chế Phụng vụ (SC) xác định: "Nếu ở miền nào có những tập tục và nghi lễ xứng đáng khác trong khi cử hành Bí Tích Hôn Phối, Thánh Công Ðồng tha thiết mong ước họ cứ giữ nguyên những tập tục và nghi lễ đó" (SC 77). 71 Ðương nhiên có nhiều "tập tục" trong văn hóa Việt Nam "xứng đáng" được đưa vào trong Bí tích Hôn phối, nhưng chưa được đưa vào, huống chi nói đến "giữ nguyên." Vì bài viết nhằm đến tôn kính ÔBTT, nên chỉ đề nghị đưa việc này vào trong Bí tích Hôn phối. Hy vọng một dịp nào đó người viết sẽ đề nghị đưa các tập tục "xứng đáng" khác vào Bí tích Hôn phối.
Tại sao lại đề nghị đưa tôn kính ÔBTT vào Bí tích Hôn phối? Ðó là điều phải đạo, đó là thi hành điều răn thứ bốn. Dựa vào nguyên tắc nào? Dựa vào những gì Hiến chế Phụng vụ (SC) cho phép, chẳng hạn:
"Thẩm Quyền Giáo Hội địa phương, như đã nói trong khoản 22.2 [Hội Ðồng Giám Mục] của Hiến Chế này, có quyền soạn thảo, theo khoản 63 [dùng tiếng bản quốc], một nghi lễ riêng, thích hợp với tập quán các địa phương và các dân tộc. Tuy nhiên, phải duy trì luật này là vị linh mục chủ tọa phải hỏi và nhận lời ưng thuận của vợ chồng hết ước." 72
Ðạo hiếu, việc tôn kính ÔBTT không phải là thích hợp với tập quán... địa phương và... dân tộc sao?
Theo phương pháp nào? Theo phương pháp hội nhập văn hóa trong Phụng vụ (liturgical inculturation). Phương pháp này có thể được diễn tả theo công thức sau đây: A + B = C. Phụng vụ Roma [nghi thức Bí tích Hôn phối] (A) hòa hợp với nghi thức tôn kính ÔBTT (B) của văn hóa Việt Nam sẽ thành một yếu tố mới, một hình thức mới (C). A không còn chỉ là A như trước đây nữa, nhưng là C; cũng thế, B không còn là B như trước đây nữa, nhưng là C. Trong C, cả hai A và B được bảo tồn, không mất căn tính của mình. 73
Lại nữa, trong Phụng vụ có "phần bất biến do Thiên Chúa thiết lập, và những phần có thể thay đổi; những phần này có thể hoặc phải sửa đổi theo dòng thời gian" (SC 21). Thêm vào đó, những gì đưa vào trong Phụng vụ không mang tính cách mê tín hoặc sai lạc, nhưng phải hòa hợp với tinh thần Phụng vụ (SC 37). 74 Nhìn vào Bí tích hôn phối, điều quan trọng mà Thánh Công Ðồng yêu cầu là "vị linh mục chủ tọa phải hỏi và nhận lời ưng thuận của vợ chồng kết ước" (SC 77) 75 và lời chúc hôn (SC 78). Những phần còn lại chỉ là phụ thuộc, chỉ để làm tăng thêm hoặc giải thích rõ ý nghĩa của nghi thức hôn phối (explanatory rites), chẳng hạn: làm phép nhẫn và trao nhẫn. 76 Chính vì thế, phần gợi ý hoặc đề nghị đưa việc tôn kính ÔBTT vào trong Bí tích Hôn phối không thay đổi căn tính của Bí tích Hôn phối, nhưng là "để phù hợp với phong tục và nhu cầu của các địa phương"77
2. Gợi Ý
Việc tôn kính ÔBTT, nếu được, xin đưa vào sau phần trao nhẫn78 trong nghi thức hôn phối. Nên thiết lập một bàn thờ tạm thời cho ÔBTT của cô dâu chú rể vào một chỗ thuận tiện trong nhà thờ, chẳng hạn bên phải hoặc bên trái của cung thánh, hoặc bên ngoài phần cung thánh. Trên bàn thờ ÔBTT, nên đặt hình ông bà cha mẹ đã qua đời; còn những vị Tổ Tiên xa, nên dùng bài vị. Nên nhớ sắp xếp thế nào để bàn thờ ÔBTT không chiếm một vị thế quá quan trọng đến nỗi làm lu mờ các bàn thờ khác. Sau phần trao nhẫn, cô dâu và chú rể đến trước bàn thờ ÔBTT, thắp hương, vái 3 vái, cáo ÔBTT về tin vui của một gia đình mới, đồng thời dâng lời tri ân đến các ngài vì món quà sự sống mà các ngài đã truyền sinh qua các bậc sinh thành gần nhất. Lời cáo và tri ân ÔBTT có thể đại để như sau:
Hôm nay ngày... tháng... năm... Chúng con là... và... đến trước ÔBTT để báo tin vui là chúng con vừa thành hôn theo phép Hội thánh. Chúng con xin thắp nén hương dâng lên ÔBTT để tỏ lòng hiếu thảo và tri ân đối với ÔBTT hai bên. Xin ÔBTT cầu cùng Chúa cho chúng con để chúng con luôn biết yêu thương, thông cảm, thứ tha cho nhau trong suốt cuộc sống hôn nhân, tạo lập một gia đình mới theo gương thánh gia thất, luôn mến Chúa yêu người, làm vui lòng cha mẹ và họ hàng đôi bên, chu toàn bôn phận theo thánh ý Chúa... và chúng con hy vọng sẽ gặp lại ÔBTT trong cuộc sống mai sau, nơi vĩnh phúc... 79
Bái chào và rời bàn thờ ÔBTT, cô dâu chú rể sẽ nhận họ hàng đôi bên, ít nhất là ông bà cha mẹ còn sống. Việc nhận họ này có thể được biểu hiện qua việc vái hai vái. 80
Lý do đề nghị đưa việc tôn kính ÔBTT vào trong Bí tích Hôn phối là điều được Thánh Công Ðồng khuyến khích "giữ nguyên." Làm sao giữ nguyên được tập tục và nghi lễ nếu trước tiên không đưa tập tục và nghi lễ vào trong Bí tích Hôn phối? Hơn nữa, việc đưa tập tục của địa phương vào trong Bí tích Hôn phối không phải là điều mới lạ, chẳng hạn vào khoảng năm 596 ÐGH Gregory Cả ra lệnh cho Augustine thành Canterbury đưa tập tục của nước Anh vào trong Bí tích Hôn phối. ÐHG nói: "Chọn trong mỗi giáo hội địa phương điều có tính cách đạo đức, có tính cách tôn giáo và lành mạnh, thâu tập tất cả với nhau vào trong một dĩa, dọn lên bàn của người Anh tùy theo khẩu vị quen dùng của họ.” 81 Thêm vào đó, Giáo hội Phi Luật Tân đã có nghi thức hôn phối riêng phù hợp với phong tục tập quán của họ từ năm 1983. 83 Trong nghi thức của người Phi Luật Tân có phần mano po, đặt tay vào tay người lớn, là một dấu chỉ truyền thống biểu lộ lòng tôn kính đối với ông bà cha mẹ, người đỡ đầu, và các vị cao niên của đôi bên. Việc này không khác gì đề nghị nhận họ đôi bên của bài viết này.
 
B. Nghi Thức An Táng
 
1. Nguyên tắc trong Phụng vụ
Hiến chế Phụng vụ (SC) số 81 xác định: "Nghi thức an táng cần diễn tả rõ ràng hơn tính chất vượt qua của cái chết Kitô hữu, và cần đáp ứng chặt chẽ với hoàn cảnh cũng như truyền thống trong các miền khác nhau..." 84 và số 82 nói về thánh lễ an táng nhi đồng.
Trong nghi thức an táng ngày 15 tháng 8 năm 1969, chủ yếu là phó thác người qua đời trong tay Chúa, đồng thời trợ giúp niềm hy vọng của người sống, cũng như làm chứng nhân cho niềm tin vào sự phục sinh trong tương lai của những ai đã cùng chịu phép Rửa với Ðức Kitô. Một yếu tố quan trọng khác là trong lúc xác tín niềm hy vọng vào cuộc sống vĩnh cửu, không nên coi nhẹ hoặc bỏ qua những đau buồn của tang quyến (số 2; 25.3).
Trong nghi thức 1969, số 4, nghi thức an táng gồm có 3 chương trình:
a. Với 3 chặng: tại tang gia, trong nhà thờ và ngoài nghĩa trang
b. Với 2 chặng: trong nguyện đường tại nghĩa trang và tại mộ phần
            c. Với 1 chặng: tại tang gia
Thông thường, nghi thức an táng được theo chương trình thứ nhất với 3 chặng (số 5):
a. Tại tang gia với canh thức
b. Tại nhà thờ với thánh lễ và tiễn biệt cuối cùng (nếu linh mục không ra nghĩa trang)
c. Tại nghĩa trang với làm phép mộ, tiễn biệt cuối cùng, và chôn cất
 
2. Gợi ý/ Ðề nghị trong tang lễ
Tiếp theo đây là điều đề nghị cho 3 chặng:
 
a. Tại tang gia
Tại tang gia thường tô chức những buôi đọc kinh cầu nguyện cho người đã qua đời trước và sau khi chôn cất. Các buôi đọc kinh có thể theo chương trình đã được ghi rõ trong Nghi Thức An Táng, hoặc theo hướng dẫn trong cuốn Kinh Nguyện Gia Ðình (trang 231-244).
Khi vào nhà, mỗi người khách có thể thắp hương vái 3 vái trước quan tài. Sau khi vái, mỗi người có thể rảy nước thánh trên quan tài (tang gia nên xếp đặt có bình nước thánh để sát quan tài). Trước khi ra về, mỗi người cũng vái 3 vái như lúc mới vào, để tỏ lòng tôn kính người qua đời. Sau ngày chôn cất, khách đến đọc kinh có thể thắp hương vái trước di ảnh người qua đời và trước khi ra về khách cũng nên vái như lúc mới vào.
Trước khi động quan và di quan đến nhà thờ, nên có giờ canh thức (xem Kinh Nguyện Gia Ðình, trang 246-247). Trước khi rời nhà, những người trong tang gia có thể đến trước quan tài, vái hoặc lạy sâu để chào từ biệt.
 
b. Tại nhà thờ                                                                                                 
Khi quan tài vào đến cửa nhà thờ, tang gia có thể vái hoặc lạy sâu trước quan tài 3 vái/lạy trước khi linh mục chào đón người qua đời vào trong nhà thờ. Sau lời tiễn biệt cuối cùng, trước khi di chuyển quan tài ra khỏi nhà thờ, tang gia cũng có thể vái hoặc lạy sâu trước quan tài. Lý do việc vái/lạy này là trước khi đến một nơi và rời nơi đó, tang gia vái/lạy để báo cáo, để tỏ lòng tôn kính người qua đời.
 
c. Tại nghĩa trang
Trước khi nghi thức làm phép huyệt bắt đầu, tang gia vái hoặc lạy sâu như tại nhà thờ. Sau khi mọi người đọc kinh Lạy Cha (trong trường hợp không có linh mục, hoặc Thầy Phó tế), hoặc sau lời nguyện cuối cùng của linh mục, đến phần điếu văn (nếu có), và quan tài được hạ xuống huyệt. Kế đến, mọi người tham dự có thể rảy nước thánh, hoặc bỏ hoa xuống huyệt cho người qua đời. Tang gia nên đợi đến cuối cùng để rảy nưóc thánh và vái hoặc lạy sâu trước khi lấp huyệt. 85
 
3. Ðề nghị về lịch Phụng vụ
 
a. Viếng nghĩa trang vào dịp Thanh Minh      
Nếu được, xin HÐGMVN đề nghị lên Tòa thánh/Thánh bộ Phụng tự cho phép thay vì viếng thăm nghĩa trang trong tháng 11 dương lịch, là tháng dành riêng cho các đẳng linh hồn theo niên lịch Phụng vụ, việc viếng thăm sẽ được chuyển vào dịp Thanh Minh:
Thanh Minh trong tiết tháng ba
Lễ là Tảo Mộ, hội là Ðạp Thanh
bởi lẽ trong dịp này cả nước ai nấy đều tảo mộ. 86 Như thế, hòa nhịp với mọi người dân trong nước, người Công giáo cũng viếng nghĩa trang, sửa sang mộ phần, để người Công giáo không cảm thấy mình là người xa lạ trong chính đất nước của mình như Giám mục Thanh hoá phát biểu tại THÐGMAC. 87 Việc viếng nghĩa địa trong dịp Thanh Minh đã được HÐGM Ðài Loan cho áp dụng trong nước của họ với sự chấp thuận của Tòa thánh. 88
 
b. Chuyển lễ Các Ðẳng Linh Hồn (2-11) vào Tết Trung Nguyên/Lễ Vu Lan (15-7 âm lịch) 89
Cũng trong chiều hướng hòa nhịp với dân tộc trong Tết Trung Nguyên còn gọi là lễ Vu Lan vào 15 tháng 7 âm lịch, và là mùa báo hiếu, nếu được, xin HÐGMVN đề nghị lên Tòa thánh/Thánh bộ Phụng tự xin chuyển lễ các đẳng linh hồn (2-11) vào ngày 15 tháng 7 âm lịch.
Có thể có người cho rằng lễ Vu Lan bắt nguồn từ Phật giáo và sẽ ngại ngùng. Nhưng xét cho cùng trong lịch sử Phụng vụ của Giáo hội biết bao cử hành đã được thu nhập từ dân ngoại rồi đặt cho một ý nghĩa của Kitô giáo như một vài ví dụ cụ thể đã ghi trong phần trước của bài này. 90 Ðây là việc làm có thể tạo thêm niềm cảm thông với anh chị em các tôn giáo bạn, đặc biệt Phật giáo.
Theo Những Quy Luật Tông Quát về Năm Phụng Vụ và Niên Lịch, vì lễ Các Ðẳng Linh Hồn (lễ cầu cho mọi tín hữu đã qua đời) không có kinh chiều I, nên không phải là lễ trọng (số 11) 91 và không phải là lễ buộc. Khi chuyển lễ chung của Giáo hội hoàn vũ vào ngày riêng của giáo hội địa phương, thánh lễ vẫn còn tính cách riêng của nó, miễn là ngày được chuyển đến không phải là lễ buộc, chẳng hạn lễ thánh Giuse (19-3) được dời vào một ngày khác ngoài Mùa Chay (số 56.e). 92
 
Kết Luận
 
Trên đây chúng ta đã đi qua bốn phần chính: Trước tiên, chúng ta đề cập đến các dịp tôn kính ÔBTT trong Phụng vụ Công Giáo, giờ này chúng ta có thể thưa với các anh chị em ngoài Công giáo rằng người Công giáo không bỏ Ông bỏ Bà, bỏ Tổ bỏ Tiên:
Lấy người Công giáo chẳng phiền,
Hằng năm kính nhớ Tổ Tiên trọn bề.
Mồng hai Mười Một, liệt kê:
Lại thêm suốt tháng ai chê được nào?
Mồng hai âm lịch quên sao?
Tổ Tiên, cha mẹ, anh hào kính luôn.
Nêu cao "uống nước nhớ nguồn,"
Gia đình giỗ kỵ luôn luôn hàng đầu.                                                  
Thứ đến, chúng ta cũng đã đi qua lịch sử tổng quát trong việc tranh chấp về Nghi Lễ Trung Hoa. Một cuộc tranh chấp đầy đau thương, kéo dài suốt ba thế kỷ tạo nên khó khăn cho các giáo hội địa phương với bao cấm cách bách hại. Nhìn lại lịch sử, ước mong các nhà truyền giáo hôm nay và ngày mai sẽ không vấp phải những lỗi lầm về phong tục tập quán, đặc biệt của những người mà các nhà truyền giáo được sai đến.
Hơn nữa, chúng ta cũng đi qua một vài căn bản thần học hỗ trợ cho việc tôn kính ÔBTT để chúng ta không ái ngại khi chúng ta tỏ lòng tôn kính ÔBTT; đặc biệt qua một vài nghi thức mà trước đây chúng ta cho là mang tính cách dị đoan mê tín, hoặc của người người ngoài Công giáo.
Cuối cùng, chúng ta nói đến một vài đề nghị để thích nghi trong việc tôn kính ÔBTT trong cưới hỏi và tang lễ, đồng thời đề nghị chuyển một ngày lễ trong niên lịch Phụng vụ. Nên nhớ Hiến chế Phụng vụ số 77 đã cho phép HÐGM địa phương soạn thảo một nghi thức hôn phối mới theo phong tục tập quán địa phương. Ðiều này cũng được nhắc lại trong Nghi Thức Hôn Phối 1969 số 17 và trong Huấn lệnh về "Hội Nhập Văn Hóa và Phụng vụ Roma" ngày 25 tháng 1 năm 1994, số 57.93
Ước mong những gì cho phép trong việc tôn kính ÔBTT qua Huấn thị Plane compertum (1939) và hai thông cáo của HÐGMVN (1965 và 1974) cũng như những phát biểu của các GMVN tại THÐGMAC năm 1998 không bị rơi vào quên lãng, nhưng được mọi người lưu tâm học hỏi và thi hành. Ðược như thế, người Công giáo sẽ thi hành điều răn thứ bốn một cách rõ ràng hơn và hòa nhịp với toàn dân, không còn mang mặc cảm là những kẻ xa lạ nơi quê hương mình. Thêm vào đó, việc tôn kính ÔBTT cũng sẽ là phương tiện truyền giáo hữu hiệu nơi quê nhà, một mảnh đất tốt không những đang chờ đợi Ngôi Lời đâm rễ sâu giữa các tín hữu, mà còn hội nhập nơi các anh chị em ngoài Công giáo nữa.
_____________________________
 

Ðể hiểu rõ vấn đề, xin xem George Minamiki, The Chinese Rites Controversy from Its Beginning to Modern Times. Chicago: Loyola University Press, 1985; D. E. Mungello, ed. The Chinese Rites Controversy: Its History and Meaning. Netteral: Steyler Verlag, 1994; Ray N. Noll, ed. 100 Roman Documents Concerning the Chinese Rites Controversy (1645-1941). San Francisco: The Ricci Institute for Chinese-Western Cultural History, 1992.

Acta Apostolicae Sedis; commentarium officiale. Vatican: Typis Polyglottis Vaticanis. (AAS), vol. 32 (1940), 24-26; Collectanea Commissionis Synodalis. Peiping: Commissio Synodalis in Sinis, vol. 13 (1940), 125-126.

Theo truyền thống dân Việt, ngày mồng một dành cho tổ tiên bên nội, ngày mồng hai cho tổ tiên bên ngoại, ngày mồng ba cho tổ tiên thày giáo.                                                                        Mồng một thì ở nhà cha,
                                                                        Mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thày.
(Nhất Thanh, Ðất Lề Quê Thói: Phong Tục Việt Nam. Sàigòn, 1968. Glendale, CA: Ðại Nam, in lại, nd., tr. 307).
Cha Alexandre de Rhodes (ở Bắc kỳ 1627-1630) đã "rửa tội" ba ngày đầu năm với ý nghĩa sau: Ngày mồng một dành riêng cho Chúa Cha qua công trình tạo dựng; ngày mồng hai cho Chúa Con qua chương trình cứu độ; ngày mồng ba cho Chúa Thánh Thần qua công cuộc thánh hóa. (Histoire dv royavme de Tunqvin, et des grands progrez que la prédication de l’Évangile y a faits en la conuersion des infidelles. Depuis l’année 1627 iusques à l’année 1646. Lyon: Jean Baptiste Devenet, 1651, p. 201).
Sách Lễ Roma, ấn bản 1970, với bản dịch tiếng Việt 1971, không có thánh lễ kính nhớ ÔBTT trong ngày mồng hai đầu năm âm lịch. Tuy nhiên, trong ấn bản 1975 kèm theo phần sửa đổi theo Notitiae 1983, với bản dịch tiếng Việt năm 1992, ngày mồng hai được dành riêng kính nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Sách Lễ Roma [SLR], Bản dịch của Ủy Ban Phụng Tự trực thuộc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam (Th. phố HCM: Lê Quang Lộc, 1992), tr. 1042-1044.

SLR, tr. 723.

SLR, tr. 723.

SLR, tr. 724. Xin xem thêm các lời nguyện trong thánh lễ II và III, 724-726.

SLR, tr. 1042.

SLR, tr. 1043.

SLR, tr. 1044.

SLR, tr. 999.

SLR, tr. 1000.

SLR, tr. 1000. Xin xem thêm các lời nguyện lễ an táng trong và ngoài mùa Phục Sinh, (SLR, 1000-1003).

SLR, tr. 1005.

nt.

nt. Xin xem thêm các lời nguyện thánh lễ an táng và giỗ cho các bậc các giới khác nhau và các hoàn cảnh riêng, (SLR, tr. 1006-1034).

Xem SLR, tr. 476-480.

SLR với ấn bản 1975 và bản dịch tiếng Việt 1992 thêm "các bậc tổ tiên", một yếu tố mới, không có trong bản dịch 1971. KNTT II & III cũng thêm "các bậc tổ tiên."

SLR, tr. 488. Trong KNTT II, "Xin Cha nhớ đến ÔBACE T. là (những) người con mà Cha đã (vừa) gọi ra khỏi đời này về với Cha. Nhờ bí tích thánh tẩy, (những) người tín hữu này đã cùng chết với Chúa Ki-tô, xin Cha cho được cùng sống lại với Người." (SLR, tr. 492); "Xin Cha cũng nhớ đến anh chị em tính hữu chúng con đang an nghỉ chờ ngày sống lại, và những người đã qua đời mà chỉ còn biết nhờ vào lòng thương xót của Cha. Ðặc biệt xin Cha nhớ đến các bậc tổ tiên và thân bằng quyến thuộc chúng con đã lìa cõi thế. Xin cho hết thảy được vui hưởng ánh sáng Tôn Nhan." (SLR, tr. 493). Trong KNTT III, "Lạy Cha, xin nhớ đến ÔBACE T. là (những) người tôi tớ Cha đã (vừa) gọi ra khỏi đời này về với Cha. Nhờ bí tích thánh tẩy, (những) người tín hữu này đã cùng chết với Chúa Ki-tô. Xin Cha cho được cùng sống lại với Người, khi Người cho kẻ chết sống lại và biến đôi xác phàm chúng con nên giống thân xác vinh hiển của Người. Xin Cha cũng nhớ dến anh chị em tín hữu chúng con đã lìa cõi thế, và mọi người sống đẹp lòng Cha mà nay đã ly trần. Ðặc biệt xin Cha nhớ đến các bậc tổ tiên và thân bằng quyến thuộc chúng con đã qua đời. Xin thương nhận tất cả vào Nước Cha, nơi chúng con hy vọng sẽ được cùng nhau vui hưởng vinh quang Cha muôn đời, khi Cha lau sạch nước mắt chúng con. Bấy giờ, chúng con sẽ được chiêm ngưỡng Cha tường tận, nên muôn đời sẽ được giống như Cha là Thiên Chúa chúng con, và sẽ dâng lời ca ngợi Cha không cùng..." (SLR, tr. 497-498). Trong KNTT IV, "Xin Cha cũng nhớ đến anh chị em tín hữu đã qua đời trong bình an của Ðức Ki-tô và tất cả mọi người đã quá cố mà chỉ một mình Cha biết họ tin tưởng vào Cha." (SLR, tr. 503). Trong KNTT của Thánh Lễ Hòa Giải I, lời cầu nguyện cho tín hữu đã qua đời không rõ ràng như bốn KNTT trên đây, nhưng diễn tả ước mong kết hợp với kẻ qua đời trong thế giới mai sau: "Ngày ấy, chúng con sẽ được nhập đoàn với thần thánh trên trời, bên cạnh Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a và các thánh Tông Ðồ, cùng với anh chị em tín hữu đã lìa cõi thế mà chúng con tin tưởng phó thác cho Cha (nhấn mạnh)" (SLR, tr. 514); trong KNTT của Thánh Lễ Hòa Giải II, các tín hữu qua đời không được nhắc đến rõ ràng, nhưng chỉ được hiểu chung trong "muôn người thuộc mọi đoàn thể và tầng lớp, mọi chủng tộc và ngôn ngữ" (SLR, tr. 518). Trong KNTT của Thánh Lễ Trẻ Em I, người qua đời được nhắc đến với những lời đơn sơ vắn gọn, "Sau hết, chúng con xin dâng lời cầu nguyện cho những người thân yêu đã qua đời, (nhất là cho ÔBACE T.)” (SLR, tr. 522). Trong KNTT của Thánh Lễ Trẻ Em II, người ly trần được nhắc đến như sau: "Xin Cha cũng nhớ đến những người đã chết (đặc biệt là ÔBACE T.) và âu yếm đón nhận vào nhà Cha." (SLR, tr. 526). Trong KNTT của Thánh Lễ Trẻ Em III, người qua đời không được nhắc rõ ràng. Ngoài ra, Ủy Ban Phụng Tự của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam cũng đã sáng tác bốn KNTT dùng trong các dịp hội họp. Lời nguyện cho người đã qua đời trong bốn KNTT này đồng nhất với nhau: "XinCha nhớ đến anh chị em tín hữu (là T.T.) đã qua đời trong bình an của Ðức Ki-tô và tất cả mọi người quá cố mà chỉ một mình Cha biết họ đã tin tưởng vào Cha. Xin cho hết thảy được vui hưởng ánh sáng Tôn Nhan và xin ban cho họ, khi sống lại, được sự sống viên mãn." (SLR, tr. 538, 543, 548, 553).

Sách Lễ Bài Ðọc: Mùa Quanh Năm II (SLBÐMQN II). (In lại, New Orleans: Dân Chúa, 1979), tr. 522.

SLBÐMQN II, tr. 524.

SLBÐMQN II, tr. 523.

SLBÐMQN II, tr. 528.

Kinh Thánh Trọn Bộ Cựu Ước và Tân Ước. Nhóm phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Hồ Chí Minh: nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr. 2182.

1)Giữ chay, xưng tội và chịu lễ hằng năm, các ngày nghỉ; 2) rửa tội và xức dầu; 3) cho vay ăn lãi 30%; 4 & 5) tiền vay và người cho vay; 6) đóng góp vào của cúng và các lễ của dân ngoại; 7) thờ thành hoàng; 8) thờ Khổng Tử; 9) thờ tổ tiên; 10) phục vụ và cho người chết ăn; 11) bài vị tổ tiên; 12) đám tang; 13) dạy tân tòng về bản chất bất hợp luật của các nghi thức tang ma; 14) dùng tĩnh từ "thánh"; 15) thờ và bái trước bài vị kính nhà vua; 16) hợp luật của kinh nguyện và của cúng cho thân nhân ngoại giáo qua đời; 17) giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh. (Fernandez Navarrette, Tratados, historicos, politicos, ethicos, y religiosos de la monarchia de China, vol.1, Madrid: Imprenta Real, 1676, pp. 451-459; trích lại trong Antonio Sisto Rosso, Apostolic Legations to China of Eigh_th Century, South Pasadena: P. D. and Ione Perkins, 1948, pp. 111-112).

Collectanea s. Congregatiois de Propaganda Fide seu Decreta Instructiones Rescripta pro Apostolicis Missionibus. Vol. I. (Roma: Ex Typographia Polyglotta S. C. de Propaganda Fide, 1907), 30-35. Từ đây về sau sẽ trích Collectanea, vol. I; Bullarium Pontificium Sacrae Congregationis de Propaganda Fide. Vol. I. (Roma: Collegium Urbanum, 1939), 123-131. Từ đây về sau sẽ trích Bullarium Pontificium, vol. I.

Collectanea, vol. I, 36-39; Bullarium Pontificium, vol. I, 131-137.

Collectanea, vol. I, 64; Bullarium Pontificium, vol. I, 174-175.

Magnum Bullarium Romanum, vol. 10. (Graz: Akadmische Druck-u. Verlagsanstalt, 1956), 129-130; A. Thomas, Histoire de la mission de Pékin, depuis les origines jusqu’à l’arrivée des Lazaristes, vol. I (Paris: Louis-Michaud, 1923), 166-170. Từ đây về sau sẽ trích La mission de Pékin.

Antonio Sisto Rosso, Apostolic Delegations to China (South Pasadena: P.D. and Ione Perkins, 1948), 143.

Magnum Bullarium Romanum, vol. 10, 130-138.

Xem tài liệu số 8 trong Ray R. Noll, 100 Roman Documents..., pp. 27-30; bản văn tiếng Pháp được ghi lại trong A. Thomas, La mission de Pékin, vol. 1, pp. 203-204.

Xem tài liệu số 9 trong 100 Roman Documents, p. 30. Tài liệu này được in lại trong tài liệu của ÐGH Clement XI, xác nhận và chuẩn y lệnh ngày 3 tháng 7 năm 1708 của Tournon (xem số 11 trong 100 Roman Documents, pp. 30-35).

Sắc này được in lại trong sắc Ex quo singulari của ÐGH Benedict XIV năm 1742, Benedict XIV, Bullarium (In quo continentur constitutiones, epistolae, aliaque edita abo initio pontificatus usque ad annum MDCCXLVI,) vol. I (Venice: Bartholomaei Occhi, 1768), p. 85.

Magnum Bullarium Romanum, vol. 10, pt. 1, pp. 50-53; Bulla Pontificium, vol. I, pp. 305-312; bản văn tiếng Pháp được ghi lại trong A. Thomas, La mission de Pékin, vol. 1, pp. 243-251.

Thư này được in lại trong sắc Ex quo singulari của ÐGH Benedict XIV, xem tài liệu số 24 trong 100 Roman Documents, pp. 56-58; bản văn tiếng Pháp được ghi lại trong A. Thomas, La mission de Pékin, vol. 1, pp. 298-301.

1) trong gia đình, được phép dùng bài vị chỉ khắc tên người qua đời, nhưng tránh những gì có vẻ mê tín; 2) được tham dự nghi thức dân sự tôn kính người qua đời miễn là không có tính cách dị đoan; 3) được tham dự nghi thức tôn kính Khổng Tử, dùng bài vị, và có thể thắp nến, dâng hương, và của cúng trước bài vị; 4) được phép dùng nến và hương trong tang lễ; 5) được bái gối hoặc phục lạy trước bài vị, trước quan tài, và trước người chết; 6) được dọn bàn với mâm cỗ trước hoặc chung quanh quan tài, nơi có bài vị, để kính trọng và tỏ lòng mến yêu đối với người chết, nhưng phải tránh những gì có vẻ mê tín; 7) được phục lạy trước bài vị trong dịp đầu xuân và những dịp khác; 8) được thắp nến, dâng hương trước bài vị, cũng như trước mộ phần, nơi có thể dâng mâm cỗ.

Ðoản sắc này được in trong sắc Ex quo singulari năm 1742 của ÐGH Benedict XIV, Collectanea S. Congregationis de Propaganda Fide seu Decreta Instructiones Rescripta pro Apostolicis Missionibus ex Tabulario Eiusdem Sacrae Congregationis Deprompta. (Roma: Ex Typographia Polyglotta S. C. de Propaganda Fide, 1893), 699. Từ đây về sau sẽ trích Collectanea [1893]; Bản dịch Anh ngữ trong 100 Roman Documents, p. 59.

Magnum Bullarium Romanum, vol. 1, pp. 188-204; Collectanea [1907], vol. 1, pp. 130-141; Collectanea [1893], pp. 690-701; 100 Roman Documents, pp. 47-62; A. Thomas, La mission de Pékin, pp. 365-374.

Magnino, Pontificia Nipponica, vol., [sic], pp. 149-151, n. 2, III, a) & b). Một phần thư của giám mục Chambon và thư trả lời của chính quyền được in lại trong Pluries instanterque do Thánh Bộ Truyền Bá Ðức Tin (Propaganda Fide) phô biến ngày 26 tháng 5 năm 1936, tài liệu này trích trong Minamiki, The Chinese Rites Controversy, p. 145.

Minamiki, The Chinese Rites Controversy, p. 177.

Collectanea Commissionis Synadolis, vol. 9 (1936), pp. 868-869; Sacrae Congregationis de Propaganda Fide Memoria Rerum, vol. 3/2, p. 786; Sylloge Praecipuorum Documentorum Recentium Summorum Pontificum et Sacrae Congregationis de Propaganda Fide necnon aliarum SS. Congregationum Romanarum (Rome: Typis Polyglottis Vaticanis, 1939), pp. 479-480; Minamiki, The Chinese Rites Controversy, p. 55.

Acta Apostolicae Sedis [AAS] vol. 28 (1936), pp. 406-409; Collectanea Commissionis Synadolis, vol. 9 (1936), pp. 872-874; Nouvelle Revue Théologique 64 (1937): 195-198; The Clergy Review 12 (1936): 250-251.

AAS, vol. 31 (1939), pp. 24-26; Collectanea Commissionis Synadolis, vol. 13 (1940), pp. 125-126; Sacrae Congregationis de Propaganda Fide Memoria Rerum, vol. 3/2, pp. 796-797.

Bản dịch trong Sacerdos (Linh Mục Nguyệt San) số 36, tháng 12 năm 1964, tr. 894.

Xem ghi chú số 29 trên đây.

Xem Achives des Missions Étrangères de Paris (AMEP), vol. 801, p. 283; Adrien Launay, Histoire de la mission de Cochinchine 1658-1823. Documents historiques. vol. 3 (1771-1823), (Paris: Maisonneuve Frères, 1925), p. 321.

Ngày 22 tháng 1 năm 1964, Hàng Giám Mục Việt Nam xin Bộ Truyền Giáo cho người Công giáo tham dự nghi lễ tôn kính tổ tiên. Sacerdos (Linh Mục Nguyệt San) số 36 tháng 12 năm 1964, tr. 892.

Sacerdos (Linh Mục Nguyệt San) số 36, tr. 892-893.

Sacerdos số 36, tr. 891.

Sacerdos số 36, tr. 892.

Sacerdos số 43, tháng 7 năm 1975, tr. 489-492; "L’Église du Vietnam et la question des rites," Missions Étrangères de Paris, n. 145 (mai-juin, 1966), pp. 7-8.10.

Sacerdos số 43, tr. 491.

Xem Léopole Cadière, Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens, vol. 1 (Saigon: Imprimerie Nouvelle d"Extrême-Orient, 1958), p. 41; Peter C. Phan, "The Christ of Asia: An essay on Jesus as the eldest son and ancestor," Studia Missionalia 45 (1996): 49.51; Peter C. Phan, Mission and Catechesis: Alexandre de Rhodes & Inculturation in Seven_th-Century Vietnam (New York: Orbis Books, 1998), p. 28.

Vì độ rượu quá mạnh nên phải pha nước vào để giảm bớt độ mạnh của rượu. Ý nghĩa thiêng liêng được thêm vào sau: "... xin cho chúng con được thông phần bản tính Thiên Chúa...”

Chủ tế nhận lễ vật không những bánh rượu, nhưng còn các hoa màu ruộng đất... nên phải rửa tay. Ý nghĩa thiêng liêng được thêm vào sau: "Lạy Chúa, xin rửa con sạch hết lỗi lầm...”

Năm 274 hoàng đế Aurelius thiết lập lễ thờ thần mặt trời trong đế quốc Roma gọi là "natalis solis invicti" (sinh nhật của mặt trời không ai có thể đánh bại) rơi vào Ðông chí (25-12). Năm 336 Giáo hội tại Roma dùng lễ này với ý nghĩa riêng của mình để tưởng nhớ sinh nhật của Chúa Giêsu, Ðấng được gọi là "Mặt Trời công chính" và là "ánh sáng thế gian" (Ga 8:12).

Tài liệu đánh máy người viết góp nhặt, không ghi rõ xuất xứ.

Bản Thông Tin Giáo Phận Qui Nhơn, số 83, tháng 3 năm 1975, tr. 25-26. Gồm 7 giám mục sau đây: 1)Philipphê Nguyễn Kim Ðiền, TGM Huế; 2) Giuse Trần Văn Thiên, GM Mỹ Tho; 3) Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang, GM Cần Thơ; 4) Giacôbê Nguyễn Văn Mầu, GM Vĩnh Long; 5) Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, GM Nha Trang; 6) Phêrô Nguyễn Huy Mai, GM Banmêthuột; 7) Phaolô Huỳnh Ðông Các, GM Qui Nhơn.

Phần chữ nghiêng người viết nhấn mạnh để nói lên điều giải thích thêm so với quyết nghị 1972.

TMG Étienne Nguyễn Như Thể, "Introducing the Veneration of Ancestors into Church Life," L’Osservatore Romano, English Edition, 13 May 1998, p. 13. Một cách tương tự, TGM Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, Phó Chủ tịch Ủy Ban Giáo Hoàng về Công lý và Hòa bình [ngày nay là Hồng Y và Chủ tịch], đã trả lời trong cuộc phỏng vấn của báo National Catholic Register (vol. 74, May 24-30, 1998, p. 7) rằng: "... Việc thờ cúng ÔBTT có ảnh hưởng rất mạnh. Trong quá khứ, các Kitô hữu bị bách hại vì họ không thờ cúng Tổ Tiên... Tại Á châu, không thờ cúng Tổ Tiên là phạm trọng tội... Ðây là một trong những khó khăn lớn nhất mà chúng tôi phải trực diện."

Xem Ðịnh Hướng 16 (1998), tr. 103.

Bartholomeo Nguyễn Sơn Lâm, "Christians Sense of Family Coincides with Tradition," L’Osservatore Romano, 13 May 1998, p. 14.

Xem ghi chú số 62 trên đây. Nhiều nguồn liệu khác cho biết lý do bách hại tín hữu chỉ vì cấm việc tôn kính ÔBTT: Piero Gheddo, The Cross and the Bo-Tree: Catholics and Buddhists in Vietnam, trans. Charles Underbill Quinn (New York: Sheed and Ward, 1970), p. 9; G. Cussac, "Les missions de la péninsule indochine et des Philippines," in S. Delacroix, ed. Histoire universelle des missions catholiques, vol. 3 (Paris: Grund, 1957), 242-243; A. Boünais et A. Paulus, Le culte des morts dans le Céleste Empire et l’Annam comparé au culte des ancêtres dans l’antiquité occidentale (Paris: Ernest LeRoux, 1893), pp. 58-59; Alexandre de Rhodes, Divers voyages et missions du P. Alexandre de Rhodes en la Chine, & autres Royaumes de l’Orient (Paris: Sébastien Cramoisy, 1653. Reprint, tp Hồ Chí Minh, Việt Nam: Tủ Sách Ðại Kết, 1994), pp. 76-77.

Xem Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp tháng 6 năm 1963.

Mai Thành, "Aspects of Christianity in Vietnam," trans. John Bowden, in Leonardo Boff and Virgil Elizondo, eds. Any Room for Christ in Asia? (Concilium 1993/2), (New York: Orbis Books, 1993), pp. 95-109; "Chứng từ Ðạo Hiếu trong một gia đình Nho giáo trước và sau Công Ðồng Vatican II," in trong Lm Ðặng Thanh Minh, Tôn Kính Tổ Tiên: Một Hướng Ði Hội Nhập Văn Hóa Khẩn Thiết của Giáo Hội Tại Việt Nam (Huế: không nxb, tháng 10/1999), tr. 1-13 (số trang ghi theo bài của nữ tu, không theo thứ tự từng trang của toàn tập).

Ủy Ban Giám Mục TBPÂ ngày 19-4-1972, được trích lại trong thông cáo ngày 14-11-1974.

Chỉ liệt kê đây một vài nguồn liệu: Anscar J. Chupungco, "Liturgy and Inculturation" in Anscar J. Chupungco, ed. Handbook for Liturgical Studies: Fundamental Liturgy, vol. 2. (Collegeville, Mn: Liturgical Press, 1998), pp. 337-375; Idem, Liturgical Inculturation: Sacramentals, Religiosity, and Catechesis. Collegeville, Mn: Liturgical Press, 1992; Aylward Shorter, Toward a Theology of Inculturation. New York: Orbis Books, 1988; Peter Schineller, A Handbook on Inculturation. New York: Paulist Press, 1990.

AAS. 77 (1985), pp. 802-803.

AAS. 83 (1991), p. 300.

Chương Trình Giáo Lý Phô Thông, Tòa Giám Mục Nha Trang, Kinh Nguyện Gia Ðình (tp Hồ Chí Minh: Thuận Hóa, 1997), về "Những Dịp Ðặc Biệt Trong Gia Ðình" tr. 201-220; về "Cầu Nguyện Cho Tín Hữu Ðã Qua Ðời" tr. 231-266.

Bản dịch của Giáo Hoàng Học Viện Piô X, Thánh Công Ðồng Chung Vaticano II, quyển 1. (Ðà Lạt: Phân KhoaThần Học, 1972. In lại tại Hoa Kỳ: nhà in Việt Nam, 1980), tr. 94.

Ibid. Chữ in nghiêng với ý nhấn mạnh. Những điểm này được ghi lại rõ ràng trong Nghi Thức Hôn Phối 19-3-1969, số 17.

Anscar J. Chupungco, Liturgical Inculturation: Sacramentals, Religiosity, and Catechesis, pp. 29-30.

Nghi Thức Hôn Phối 1969, số 16.

Bí tích hôn phối thành sự do sự ưng thuận giữa người nam và người nữ (Giáo luật 1057).

Anscar J. Chupungco, Liturgies of the Future: the Process and Methods of Inculturation (New York: Paulist Press, 1989), pp. 142-144. Trong nghi thức hôn phối của người Phi Luật Tân, sau phần trao nhẫn, chú rể đặt một số đồng tiền cắc (coins) trong tay cô dâu nói lên sự trợ giúp vật chất; chủ tế phủ đầu cô dâu và vai của chú rể bằng một tấm vải trắng và cột bao vòng cô dâu với chú rể bằng một sợi dây; cô dâu và chú rể cùng thắp hai cây nến. Ibid., p. 143.

Nghi Thức Hôn Phối 1969, số 12.

Việc dùng nhẫn trong hôn phối có lẽ bị ảnh hưởng Tây phương. Việt Nam trưóc đây đã dùng dây chuyền và đôi bông tai trong hôn phối trước đây. Vấn đề này sẽ được bàn đến trong một bài khác về gợi ý cho nghi thức hôn phối.

Cô dâu chú rể là thừa tác viên chính trong Bí tích Hôn phối, vì thế trước bàn thờ ÔBTT, cô dâu chú rể cũng đóng vai chính. Nếu được, cha mẹ hai bên đưa cô dâu chú rể đến trước bàn thờ ÔBTT trình cáo và khấn nguyện như chỉ dẫn trong sách Kinh Nguyện Gia Ðình, trang 213.

Hai vái dành cho người sống. Tùy theo địa phương, có thể vái một, hai, hoặc ba vái.

Epist. 64, Lib. XI, PL 77, col. 1187; được trích lại trong Chupungco, Liturgies of the Future, p. 145.

Ang Pagdiriwang ng Pag-iisang Dibdib, Manila, 1983. Một số quốc gia khác cũng cố gắng hội nhập văn hóa trong Bí tích Hôn phối, xem Rivista Liturgia 2-3 (1985): D. Borobio: "Matrimonio e inculturazione nella Chiesa ispania," pp. 238-92; M. Allard: "Inculturazione del Rituale canadese francofono del matrimonio," pp. 239-92 [sic]; C. Fernández: "Il matrimonio cristiano nelle diverse culture dell’ambiente messicano," pp. 302-12; L. Mpongo: "Una sintesi africano per un Rituale del Matrimonio cristiano inculturato," pp. 313-25; and P. Puthanangady: "Inserimento della liturgia del matrimonio nella cutura [sic] indiana," pp. 326-38. See L. Mpongo: Pour une anthropologie chrétienne du mariage au Congo, Kinshasa 1968, trích lại trong Chupungco, Liturgies of the Future, ghi chú số 101, pp.160-161.

Chupungco, Liturgies of the Future, p. 149.

Ðiều này được nhắc lại và khai triển thêm trong Nghi Thức An Táng 1970, số 21 và 22. Xin xem thêm, Congregation for Worship and Sacraments, "Instruction: Inculturation and the Roman Liturgy" Origins 23 (April 14, 1994), no. 58, p. 754.

Theo Toan Ánh, sau khi mộ được đắp xong, quan khách về, con cháu quì lạy làm "lễ thành phần." (Phong Tục Việt Nam: Từ Bản Thân Ðến Gia Ðình, sách in lại tại Los Alamitos, CA: Xuân Thu, không năm xb, tr. 524). Ở đây, phần vái hoặc lạy sâu được làm trong lúc mọi người đang hiện diện, nói lên tính cách cộng đoàn.

Xem Phan Kế Bính, Việt Nam Phong Tục, sách in lại tại Forth Smith, AR: Sống Mới, 1983, tr. 59; Toan Ánh, Tín Ngưỡng Việt Nam, quyển hạ, sách in lại tại Lancaster, PA: Xuân Thu, không năm xb, tr. 352-360.

Xem ghi chú 62 trên đây.

Người viết chỉ nghe qua phúc trình của giáo sư Trần Văn Ðoàn trong dịp Ðại Hội Triết Ðạo kỳ IV, nhưng chưa tìm được nguồn liệu để trích dẫn.

Phan Kế Bính, Việt Nam Phong Tục, tr. 50-51;Toan Ánh, Tín Ngưỡng Việt Nam, quyển hạ, tr. 380-382; Stephen F. Teiser, "Ghosts and Ancestors in Medieval Chinese Religion: The Yu-Lan-Pen Festival as Mortuary Ritual” History of Religion 26 (1986): 47-67.

Xem ghi chú 54, 55, 56 trên đây. Một trích dẫn tổng quát về việc thâu nhập các yếu tố từ dân ngoại vào trong Giáo hội đáng được ghi lại đây bằng Anh văn: "The use of temples, and these dedicated to particular saints, and ornamented on occasions with branches of trees; incense, lamps, and candles; votive offerings on recovery from illness; holy water; asylums; holy-days and seasons, use of calendars, processions, blessings on the fields; sacerdotal vestments, the tonsure, the ring in marriage, turning to the East, images at a later date, perhaps the ecclesiastical chant, and the Kyrie Eleison, are all of pagan origin, and sanctified by their adoption into the Church" (Dr. E. D. Clarke, Travels, vol. i. p. 352, quoted in John Henry Cardinal Newman, An Essay on the Development of Christian Doctrine, New York: Longmans, Green and Co., 1949, p. 349).

SLR, tr. 88.

SLR, tr. 96.

Congregation for Worship and Sacraments, "Instruction: Inculturation and the Roman Liturgy" Origins 23 (April 14, 1994): 753-754
 
 Chào Mừng
 
Chào Mừng Ðại Hội Triết Ðạo Kỳ Bốn
Hân hoan thay, cơ hội đến đây rồi
à này anh, này chị, hãy cùng tôi
"Oa oa" miệng, ca vang bài thân ái
Mình bên nhau học tập trong hăng hái
ừ phải rồi! Lòng tôn kính Tổ Tiên
Ngày mai đi, ta phổ biến khắp miền
Gieo rắc mãi muôn nơi lòng Ðạo Hiếu
Ðại hội này tạo cơ may tìm hiểu
Ai sinh ra nào không mẹ không cha?
In khắc sâu tâm khảm chẳng phai nhòa
Hiếu Ðạo đó quyết tâm ta bồi đắp
Ôi linh thiêng, hương hiếu này ta thắp
I như trầm nghi ngút tiến Tổ Tiên
Thầm khấn xin, trọn đạo cháu con hiền
Rồng Tiên gốc, hiên ngang người dân Việt
Im lặng sao? Ðâu tinh thần oanh liệt?
Ếm đi chăng? trong kiếp sống tha hương?
Trân trọng lấy Hiếu Ðạo với can trường
Ðể muôn dân tỏ tường ta hiếu thảo:
"Ạ mẹ cha!" nhé con, nghe dạy bảo
O chú dì, cậu mợ, phải vâng nghe
Không bướng ngang, hoặc cãi lại, kè nhè
Ỳ ạch nữa, điều không nên bắt chước
Bái Tổ Tiên, Hiếu Ðạo bao thời trước
Ối này anh, hỡi chị, tạ ơn Trên
Ngài cho ta ơn phúc, biết sao đền?
Ngày Ðại hội, ra về, xin vẫn nhớ
 
Vũ Tá


Trân Trọng
Hà Phương Hoài
  Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ © Hà Phương Hoài Go To Top Of Page
Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.06