Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
 
Ẩm Thực
Cảm Nghĩ
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Liên Mạng Thành Viên
Trang Chủ
Hồng Vũ Lan Nhi 1 & 2
Phong Thủy HKH
 

 
 

 

 
 

Bài 14 .      Sử thuyết họ HÙNG

*****

 6 . Hùng triều thứ 6 : Hùng Hy

          Vua khai sáng : – Viêm Lang hay Viên lang

          Danh hiệu khác trong Việt sử : Hùng anh vương – Đế Nghi

          Danh hiệu khác trong Hoa sử : Nghiêu đế, Đường Nghiêu

          Quốc hiệu :Hồng bang

          Niên đại  (2879 năm trước CN)

            Hùng Vũ – Đế Minh truyền ngôi vua cho con trưởng là Đế Nghi và phong cho Lộc Tục là “vương” phương Nam… đó là những thông tin của truyền thuyết lịch sử Việt Nam:

           

            Âm ‘Hy’ trong Hùng Hy  xuất phát từ âm gốc là số hai - 2 trấn phương Bắc của Hà thư.

            Hai→   hải-hà-hạ-hè-hồ-hời-hoa-huy

Tương tự, âm ‘Lục’ là đất và số 6, cũng có cả 1 hệ biến âm:

            Lục→  lộc-lạc-lịch-nác-nước

            .

            Triều đại Hùng Hy – Viêm Lang có 2 vương được truyền thuyết lịch sử Việt Nam nói tới:

            Đế Nghi – nối ngôi Đế Minh

            Đế Lai – con của Đế Nghi, là cha của bà Âu Cơ.

 

              Ta có âm Lửa→  -La-ly-lý-lê-lô-lai-lão

                                         

              Trong Hoa ngữ số 2 còn gọi là ƠN hay ÔN và biến âm thành an,ân,yên,anh ... tiếng Việt là ấm nên triều Hùng Hy còn được gọi là Hùng Anh vua khai sáng là Viêm lang, các từ : hy-hai, anh-ấm, viêm-nhiệt ,ly –lai đều liên quan tới chữ LỬA chỉ vùng nhiệt đới-xích đạo tức phương bắc của Hà thư,  đất ở đấy  tên là đất Đào và khi trung tâm quốc gia ở đất Đào  thì quốc hiệu nước ta  là Hồng bang, tất cả các từ dùng cho triều Hùng Hy đều là các đặc tính của quẻ LY như : lửa,sáng , nóng bức, màu đỏ.v.v.; người Hời ngày nay là con cháu chính dòng Hùng Hy.; nước lập trên đất ấy thời xuân thu- chiến quốc là nước Yên, cổ sử trung hoa thường gọi con cháu Hùng Hy là người Di-lão, từ lão ta đã biết còn Di chỉ là biến âm của chữ nhị-nhì hay số 2 mà thôi, loài thú làm biểu tượng dân tộc là con HỔ, hổ cũng  chỉ là biến âm của chữ hoả nghĩa là lửa đúng theo điểu thú văn mà ta đ̣ã từng nói đến.

ến.

 

                       

            Đế Lai được biết đến là cha của Âu Cơ, trong truyền thuyết Âu Cơ – Sùng Lãm. Về niên đại thời Hùng Hy Vương – Viêm Lang có thể ước đoán là thời kỳ đầu của đợt biển tiến Holocen Trung vào khoảng sau 3.000 năm và trước 2.000 năm trước Công nguyên.

           Truyền thuyết Việt nói Kinh dương vương không lên ngôi đế vì nhường cho anh....nhưng cổ sử Trung hoa lại nói khác : Sở dĩ đế Nghiêu có hiệu là Đường Nghiêu vì trước khi lên ngôi vua có tước hiệu là Đường vương hay vương đất Việt- thường, ta thấy Đường vương chỉ là cách gọi khác của Kinh dương vương mà thôi...

         Đế Nghi có công rất lớn khi cùng Thuấn đế  mở mang bờ cõi về phương nam...chỉ một câu ngắn gọn ... “mệnh hy Thúc trạch Nam giao...” so ra bằng hàng mấy trăm năm mồ hôi đổ và có thể là cả máu để tạo cho con cháu mảnh đất Nam giao ...( ở đây phải thêm vào chữ “chỉ ” mới trọn nghĩa cho câu) tức đất lĩnh nam ngày nay.,ở đây là phương Nam xưa theo dịch lý ngược với hiện nay.

         Người La như ta đã biết chính là người Chàm hay Chăm  còn gọi là Hời  hiện vẫn còn giữ cả 2 tập tục cổ xưa của con cháu Hùng vương là nhuộm răng ̣đen và ăn trầu, ăn trầu là đặc điểm rất quan trọng để nhân diện dòng giống khi xét theo ý nghĩa của tập tục này mà ta đã nói đến ở phần trước khi bàn về sự tích trầu cau : đấy  là qủe Ly và Hồng bang hay bàng và chính là những dấu tích của cộng đồng người họ Hùng thuở ban sơ đã ghi trong sử sách.

       Lưu ý : Lịch sử nước ta có 2 thời kỳ khác biệt hẳn nhưng lại trộn lẫn nhiều chi tiết đôi khi người đọc không hiểu nổi :

      - Thời dựng nước truyền thuyết lấy Hà thư làm chuẩn trong đó số  2 trấn phương Bắc (xích đạo ), số  6  trấn phương Nam . Do tính chất các dịch tượng nên :

          số 2 gắn liền với các thông tin :

                 qủe Ly, đất Đào, Hồng bang, triều Hùng Hy

          số  6 gắn liền với :

                 Quẻ khảm hay Cóng, đấ́t Việt thường hay Đường, Nam bang, Kinh dương vương.

       -qua thời Vương quốc cổ sử dùng Lạc đồ làm chuẩn số 2 chuyển về góc đông –bắc xưa theo dịch lý còn số 6 chuyển về góc đông –nam.

 


ein Bild 

       Hà thư đặt nằm ngang.

 


ein Bild

       

Nhưng các biểu thị của số 2 và 6 vẫn giữ nguyên nên ta có tới 2 đất Đào, 2 Hồng bang, 2 đất Việt thường hay Đường và 2 Kinh dương vương.

       Khi gặp các thông tin trên phải cẩn thận xem thuộc thời kỳ nào như :

                  - Hồng bang 1 là tên nước thời lập quốc khi trung tâm quốc gia ở đất Đào , triều  Hùng Hy.

                   -Hồng bang 2 là quốc hiệu thời  triều Hạ vương hay Hải lang- Linh lang , còn gọi là nước THAO.

                   - An dương vương xây thành ở đất Việt thường thì đó là Việt thường 1 ở bắc Việt ngày nay.

                   - nước Việt thường cống chim trĩ cho nhà Chu là Việt thường  2  ở vùng Trường giang.

          Nếu không phân định được thì có những tình tiết lịch sử đầy mâu thuẫn khiến ta không tài nào hiểu nổi .

 

          7 . Hùng triều thứ 7- Hùng Thuấn

           Vua khai sáng : Lâm lang.

           Danh hiệu khác trong Việt sử :  Hùng Quốc Vương –Hùng Lạc vương-Nam triều thánh tổ ngọc hoàng thượng đế-Nam bang triệu tổ.

           Danh hiệu khác trong Hoa sử : Thuấn đế- Ngu thuấn

           Quốc hiệu là : nam bang ,lạc quốc, Bách Việt đại liên bang

            Phương Nam (Nam của Dịch Lý là phương ngược với Nam của thời nay), các mã tin Dịch Lý của phương Nam là: màu đen, hành Thủy, phương 1 / 6 của Hà Thư.

            Nguyễn Hồng Sinh đã viết trong “Kinh Dịch Huyền diệu và Ứng nghiệm”: danh hiệu Hùng Thuấn Vương còn trong ‘Hùng Vương Thập Bát Chi Thế Truyền’ và các tư liệu khác thì ghi là Hùng Quốc Vương .

       Trong Việt ngữ chữ Nước có 2 nghĩa :

           - nước là  loại  chất lỏng  nền tảng cấu tạo nên  mọi sinh vật.,dịch lý dùng chỉ phương nam đối nghịch với phương lửa ở hướng xích đạo.

           -nước là Quốc gia

      Theo Hà thư : phương nước cũng là phương nam như ngôn ngữ ta dùng ngày nay, Nam bang cũng là Nước bang  hay Lạc quốc.; lạc là biến âm của :nước-nác-lạc.(nước vật chất).

          Hùng quốc vương là chữ dịch lầm của  từ Hùng Lạc tức Hùng nước; người dịch đã lẫn lộn nghĩa này  sang nghĩa kia.

         Như vậy từ “Nước” xưa là tên riêng của nước ta khi trung tâm quốc gia chuyển về phương nam, quốc gia Nước cũng là  Nam bang hay Lạc quốc. Ban đầu  là 1 danh từ riêng về sau người Việt đã biến nước thành danh từ chung đồng nghĩa với quốc gia , như vậy “Hùng quốc vương “hay“Hùng Lạc Vương” nghĩa là vương của quốc gia Nước dòng họ Hùng ., ở Việt nam chỉ thấy có ông Nguyễn Trãi nói đến nước Hùng Lạc này.

           Ta tìm hiểu chữ ‘thuần’ để xác định danh hiệu của vị vua này. Theo Hà Thư thì phương Nam (hướng Bắc hiện nay) được biểu tượng bằng cặp số 1 / 6, số 1 này cho ta từ  ‘thuần khiết’ hay ‘duy nhất’, như thế vua Nam bang phải là Hùng Thuần không phải là Thuấn như sách sử đã chép.. Hùng Thuần Vương còn được gọi là Lâm Lang; lâm là biến âm của nam, phương Nam; nam lam lâm; Lâm Lang nghĩa là chúa đất  phương Nam .  

            Chính sử Trung Hoa chép: “Kế vị Đế Nghiêu là Đế Thuấn, Đế Thuấn còn được Đế Nghiêu gã 2 công chúa là Nga Hoàng và Nữ Anh làm vợ. Tư liệu của Nguyễn Hồng Sinh nêu tên vợ của Hy Thúc hay Hy Hòa là Nữ Hoàng Anh, kết hợp 2 tư liệu này cho ta kết luận Đế Thuấn hay Thuần (Hùng Thuần Vương) chính là Hy Thúc người đã vâng mệnh vua Nghiêu “trạch Nam Giao” tức mở mang bờ cõi quốc gia về phương Nam (Dịch Lý). Nhưng tại sao lại là Ngu –Thuấn ? chỉ có dịch học mới mở được chữ Ngu này  :trong dịch học có cặp đối : con- thằng, cong- thẳng, cong vòng – ngay thẳng, từ kép ngay thẳng biến âm ra:

        -Thẳng→thàng→đàng→đường.

        -Ngay→ngây→ngô→ngu.

      Ta có 2 hình tròn và vuông là biểu tượng của dịch lý, tròn tượng trưng cho trời, vuông tượng trưng cho đất , tròn là nét cong  vuông là nét thẳng, luôn luôn tròn hoặc ở trên hoặc ở phương xích đạo tức phương bắc , vuông ở dưới hoặc phương nam (xưa- theo dịch lý); từ Ngu trong hiệu của Lâm lang là biến âm của Ngay trong ngay thẳng chỉ phương Nam.

      Đất  giao nam hay đất Đường hợp với đất mới khai phá là Nam giao (chỉ) thành đất LẠC hay LỤC= số 6 phương nam của Hà thư.

     Đất Nam giao về sau sử Trung hoa gọi là đất Lâm (Nam→lam→lâm) có vị trí rất đặc biệt nằm giữa 4 vùng đất chính nên trong lịch sử đã nhiều lần bị tách ghép:

      - ghép với đất Đường hay Việt thường thành “Đường lâm” quê của Ngô Quyền.

      - ghép với đất Tượng ở phía tây thành “Tượng lâm”.

      - ghép với Qúy châu thành ra “Quế lâm”.(Quý→Quế)

      - ghép với Quảng đông thành “Nam hải” (Nam=Lâm)         

 Trong ý nghĩa đất Nam giao (chỉ) ban đầu chỉ là phần đất tây nam quảng  tây về sau mở rộng thành cả vùng lĩnh nam .

Thủ đô của Nam bang thời Hùng Lạc hay Thuấn đế là Bồ bản ;

 từ Bản ở đây là danh từ chung chính là chữ bản trong bản làng

 , Bồ bản đồng nghĩa với làng Cả hay Đô ấp tất cả đều có

nghĩa là thủ đô hay kinh đô .

   Quá tr̀inh mở nước hàng ngàn năm được tóm gọn trong bài thơ 4 câu chưa rõ tác giả :

                             Văn hiến thiên niên quốc

                             Xa thư vạn lý đồ

                             Hồng bàng khai tịch hậu

                             Nam phục nhất Đường Ngu

 Trong bài thơ này đặc biệt câu : Nam phục nhất Đường Ngu ...nhiều bậc khoa bảng ̣đành chịu không hiểu nổi....không lẽ các vua Đường Nhiêu Ngu Thuấn lại đi mở nước về hướng nam  cho người Việt ...? .Riêng chúng ta trong sử thuyết họ Hùng này thì hiểu rất rõ ý nghía câu thơ đó.

     Đền Hùng  là chốn linh thiêng bậc nhất của người Việt tương truyền ngôi mộ ở đấy là mộ thật của  Hùng  vương thứ sáu ; qua thiên khảo luận này có thể xác định đấy là mộ của HÙNG LẠC VƯƠNG , người đời đã lầm từ Lục là số 6 với từ LẠC là nác hay nước nên cho là mộ của Hùng vương thứ sáu, chính câu “ Nam bang triệu tổ” đã giúp ta khẳng ̣định ; triệu là biến âm của âm gốc là  “Chậu” tiếng Thái Lào nghĩa là ông hoàng hay vương, đồng nghĩa với Chủ- chúa trong Việt ngữ., ‘Triệu tổ Nam bang’ nghĩa là vua tổ của nước Nam cùng một ý nghĩa với đạo hiệu :NAM TRIỀU THÁNH TỔ NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ của Hùng Thuần vương trong Hùng phả.

  Thời Hùng Lạc có bộ lạc thuộc tộc Mun bất phục bị Thuấn đế đuổi ra khỏi cõi Nam giao đày đến miền Tam nguy từ đó gọi là Tam miêu , đất Tam nguy nay là đông Qúy châu và tỉnh Hồ bắc Trung quốc.

Hán thư có 1 đoạn nói về Lạc Quốc như sau: “ … con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là My Nương, quan văn gọi là Lạc Hầu, quan võ gọi là Lạc Tướng, trăm quan gọi là Bồ Chính, dân khẩn ruộng lạc theo nước triều lên xuống …” Do Hán văn không có dấu chấm, phẩy nên nhiều người vẫn hiểu không đúng đoạn văn này, nay ta thử nhìn theo hướng khác: không có ai là Quan lang cả, giữa Quan và Lang phải có dấu phẩy, chính xác phải hiểu là: con trai vua gọi là Quân, là Lang;  Quân và Lang là 2 từ thuộc 2 ngữ hệ nhưng cùng 1 nghĩa; tương tự con gái vua gọi là Mẹ, là Nương chứ không phải là Mỵ Nương. Lạc Hầu là quan văn của quốc gia “Nước”. Còn câu “dân khẩn ruộng lạc …” nghĩa là ruộng nước, nhưng đây là nước vật chất, 2 từ đồng âm nhưng dị nghĩa.

Dấu vết vật chất lưu tồn trong lòng đất đã khai quật được từ núi rừng bắc Việt nam tới tận bờ Châu giang và gọi là văn minh của người Tày cổ chính là chứng tích thời Hùng Thuần hay Hùng Lạc này.

 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 02/19/15