Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 

 

Dân Ca
Các Trang Tiểu Luận
 

BÀI HÁT ĐẦU TIÊN CHO MỘT CON NGƯỜI
Hát ru là bài hát đầu tiên cho một con người mới cất tiếng khóc chào đời. Bài hát đó được cất lên từ nỗi sung sướng hay cơ cực, hân hoan hay buồn tủi... do chính người mẹ - người đă trực tiếp mang nặng đẻ đau sinh ra một h́nh hài. Điệu vỗ về ru ngủ ấy dường như không chỉ ḥa tan trong sữa mẹ để nuôi con lớn lên từng ngày, mà khi c̣n trong bào thai, mẹ đă truyền từ cuống rốn điệu hát ru khi muốn tâm t́nh, khi âm thầm dỗ dành nựng nịu, khi mẹ c̣n hứa hẹn: "Nào, hăy ra đây với mẹ"; như bài hát ru của người mẹ Stiêng sau đây:

 
Ca Huế trên Sông Hương
không rơ tác giả

Dập dềnh sóng vỗ mạn thuyền
Ngồi nghe ca Huế mà ḷng bâng khuâng!
Tương tư với nguyệt cùng mây
Hỏi non nước ấy đắm say bao t́nh?
Ca trù: di sản chẳng dễ bảo tồn
 Trần Ngọc Ninh, Source: Talawas, 2003
Đơn cử thế hệ thứ nhất th́ có cụ Như Tuyết, cụ Phó Thị Yến bên ấp Thái Hà; thế hệ thứ hai có cụ Quách Thị Hồ ở giáo phường Vạn Thái (phố Bạch Mai ngày nay), cụ Nguyễn Thị Phúc giáo phường Khâm Thiên; thế hệ thứ ba có cụ Phó thị Kim Đức, cụ Nguyễn Thị Chúc người giáo phường Khâm Thiên, ....

GS.TS TRẦN VĂN KHÊ


Năm 1941, khi tổ chức chương tŕnh văn nghệ hàng năm của Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Hà Nội, tôi có đề nghị đưa lên sân khấu ba điệu hát dan gian, để chứng tỏ rằng dân Việt ba miền Bắc Trung Nam, tuy có giọng nói và nét nhạc dân gian khác nhau, nhưng cùng chung một ngôn ngữ. Sinh viên miền Bắc hát bài c̣ lả, miền Trung ḥ mái nh́ và miền Nam ḥ cấy. Câu ḥ trên sông Hương năm ấy do chị Phùng Thị Cúc, sinh viên nha khoa, ngày nay là chị Điềm Phùng Thị, một nhà điêu khắc Việt Nam nổi tiếng trên thế giới, biểu diễn trên sân khấu và dạy lại tôi: Xem Tiếp
 

 

Quan họ từng là vốn quư của đất kinh Bắc. Tuy nhiên những liền chị trẻ tuổi ngày nay không c̣n say mê với chiếu hát. Làng quan họ giờ đây vẫn thường nhắc đến những cái tên xưa cũ như bà Nguyễn Thị Nguyên, Vũ Thị Chịch...

Bà Nguyên tâm sự: "Ngày trước, chúng tôi hát giao duyên đối đáp thâu đêm, hát cho các liền anh phải sợ mà không dám gặp mặt. Con gái quan họ hiền lành, dịu dàng là thế nhưng đă hát th́ phải ra câu ra chữ, hát cho biết con gái đất này chẳng phải tay vừa". Bà kể, ngày đó chẳng bao giờ người quan họ lại quan tâm ḿnh thuộc bao nhiêu bài, mà chỉ biết là phải hát được 36 giọng. Ai hát bất kỳ làn điệu nào mà thiếu giọng là bị ghét ngay.

Dân Ca Nam Bộ
ói đến nghệ thuật ca hát dân gian cổ truyền Nam Bộ mà chỉ đóng khung trong một số làn điệu vọng cổ hay bài bản Cải lương, ca nhạc tài tử, th́ quả chưa đầy đủ. Mặc dầu chúng ta không phủ nhận tính hấp dẫn, yếu tố truyền cảm gây xúc động mạnh của các thể loại ca hát đó, nhưng đứng trên góc độ nghiên cứu mà xem xét, th́ sự phiến diện nói trên có thể đưa đến những nhận định không toàn diện, và hiện tượng nhầm lẫn giữa ngọn và gốc có thể xảy ra. Nội dung vấn đề trao đổi của bài viết này nhằm t́m hiểu tính chất phong phú của nền dân ca Nam Bộ, một bộ phận trong kho tàng âm điệu dân gian phong phú và quí báu của đất nước ta.

Dân ca Nam bộ qua báo chí hậu bán TK XX

     Sự thiên di của văn hóa nghệ thuật từ cội nguồn miền Bắc gắn với lịch sử Nam tiến của dân tộc. Nam bộ, xét theo mối tương quan với các vùng đất cũ trong tiến tŕnh phát triển mở mang bờ cơi của đât nước, là một vùng đất mới. Văn hóa nghệ thuật Nam bộ, do đó không hẳn xuất phát trực tiếp từ cội nguồn mà thông qua trạm trung chuyển là Thuận Hóa xưa, nơi đă định h́nh một nền tảng văn hóa mới trên cơ sở hội nhập văn hóa nghệ thuật thiên di của dân tộc với văn hóa bản địa. Hoặc nói như Gs. Tô Vũ trong bài khảo cứu Âm nhạc cổ truyền Nam Bộ [1]: " Âm nhạc Nam Bộ, là sự kế thừa truyền thống người Việt từ cái nôi châu thổ sông Hồng, qua chuyển giao ở một khâu trung gian là âm nhạc miền Ngũ Quảng, với trung tâm là Thừa Thiên - Huế”.


Điệu Ḥ Câu Hát Miền Nam
Xuân Tước  (Trích Thuvienvietnam.com)
Ở miền Bắc Việt Nam, ca dao được sưu tập và phân loại rất chu đáo. Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc với bộ Tục Ngữ Phong Dao đă làm công việc này một cách có quy cũ, giúp ích nhiều cho người nghiên cứu. Ở miền Nam trước đây, ông Đào Văn Hội cũng có xuất bản tập sách về ca dao, nhan đề là Hương Hoa Đất Nước, tuy giá trị nhưng không phổ biến bằng .

Điệu Ḥ ru con sống măi với tuổi thơ VƠ QUÊ 
      Nh́n từ một góc độ nào đó, điệu ḥ ru con là chất liệu tinh thần ban đầu của tuổi thơ. Vừa ươm mầm nhân ái, vừa chủng ngừa các bệnh tật lúc sơ sinh. Mẹ, chị đă gieo vào tâm hồn tuổi thơ những hạt giống lành về nhân ái, đạo lư làm người, về t́nh yêu quê hương xứ sở.
 

Giọng ḥ Miền Nam

Trần Văn Tám

Ḥ là một trong những thể loại âm nhạc dân gian ở Miền Nam Việt Nam được du nhập bởi những đợt sóng di dân từ đất Ngũ Quảng (Quảng B́nh, Quảng Trị, Quảng Tín, Quảng Nam và Quảng Ngăi) vô vùng đất mới phía cực Nam của đất nước vào cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17.

Ḥ có sức hấp dẫn và quyến rũ lạ thường. Người ta gây cuộc ḥ trong các vụ cấy trên đồng ruộng, ḥ đối đáp “đuổi” nhau trên sông rạch, ḥ thi bên cối xay lúa, ḥ tâm t́nh bên cối giả gạo, ḥ “bắt xác’ trong dịp cưới hỏi, mừng tân gia hoặc giỗ quảy… Lời ḥ chứa đựng nội dung trữ t́nh, phản ánh những mối quan hệ trai gái, quan hệ hôn nhân và gia đ́nh, đề cao cách đối nhân xử thế. Ḥ trở thành một phong trào quần chúng, càng có nhiều người tham gia cuộc ḥ càng thêm rộn rả:

 

Ḥ Miền Nam
Không rơ Tác giả
Người ta đối đáp nhau để bày tỏ niềm vui khi lúa chín đầy đồng:

Ḥ chơi cho trọn buổi chiều,
Keo sơn quấn chặt, sợi chỉ điều se săn.

Khi đôi mắt cùng liếc, đôi ḷng cùng ưa:

Tḥ tay mà ngắt ngọn ng̣,
Thương em đứt ruột, giả đ̣ ngó lơ
 

Ḥ Nam Bộ

Trần Trọng Trí

Lùi vào quá khứ, ba trăm năm trước, khoảng cuối thế kỷ 17, khi người Việt đặt chân xuống đồng bằng Cửu Long khai sơn phá thạch để lập nghiệp cũng là lúc họ phát huy bản lĩnh, khí phách của dân tộc Việt Nam có truyền thống văn hiến lâu đời. Trước khi gieo hạt giống làm nảy nở mùa màng, họ đă gieo tục ngữ ca dao, tiếng ḥ, điệu hát.
(Xem thêm )

Ḥ giă gạo (Huế)
Bửu Biền
 
Ḥ giă gạo là điệu ḥ đối đáp. Mỗi cối gạo có 2, 4 hoặc 6 người. Mỗi buổi ḥ giă gạo có ba phần: ḥ chào hỏi, ḥ vào cuộc, ḥ chia tay. Ḥ vào cuộc là phần chính, linh hoạt, vui vẻ ; những câu ḥ đối đáp khi th́ ân cần, vồn vă, khi th́ hài hước, tinh nghịch, khi th́ trữ t́nh thống thiết.(Xem thêm )

Hát chèo Việt Nam
Đàm Ngọc Huy
(trích " Câu Lạc Bộ Văn Hóa")
http://vietnamnet.vn/vnn3/vhvietnam
Nguồn gốc và thời điểm h́nh thành chèo
Những ư kiến phát biểu về nguồn gốc và sự h́nh thành chèo
Chèo không h́nh thành từ bất cứ nguồn gốc ngoại lại nào
Chèo bắt nguồn từ kho tàng văn hoá nghệ thuật dân gian, dân tộc
Hát múa thời Trần và Chèo thuyền bản

Mối liên hệ giữa Ca Dao và Dân Ca

Định Nghĩa Tục Ngữ - Ca Dao
(bài do Julia Nguyễn cung cấp)
… Chọn một số sách biên khảo về văn chương b́nh dân hay nói rơ hơn, về thi ca truyền miệng, xuất bản tại Việt Nam trong ṿng 50 năm, từ công tŕnh của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc (1928) cho tới khảo luận của Vũ Ngọc Phan (1978) để rút ra một kết luận riêng cho việc dẫn dắt tuổi trẻ Việt Nam trở về con đường dân ca như chúng tôi mong muốn. (Xem tiếp Dân Ca - Mối Liên Hệ)
 

MỘT SỐ LỄ HỘI MÙA XUÂN QUA MẤY VẦN CA DAO
ĐÀO ĐỨC NHUẬN
 Ở nước ta, nhất là ở miền Bắc từ Nghệ Tĩnh trở ra, mùa Xuân là mùa của hội hè đình đám. Ca dao ta có câu:
Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,
Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè.
Thế nhưng, không phải chỉ có “tháng Ba hội hè” mà hội hè trải dài suốt cả mùa Xuân.
 

Những Câu Hát Phường Vải
Nguyễn Sĩ Đại

Tôi sinh ra giữa bốn bề tre nguyên thủy cây tre già chặt đi làm nhà th́ măng mới mọc lên. Tuổi thơ tôi bồng bềnh trên chiếc vơng chơng, mắt mở xanh màu dâu vườn, dâu băi; tai lắng c̣n nghe tiếng lách cách thoi đưa, tiếng xè xè của xe quay sợi. Nhưng không c̣n những đêm hát ví. Chỉ thấy mẹ tôi lúc nào cũng tất bật. Người bảo: Nuôi lợn ăn nằm, nuôi tằm ăn đứng.

 
Nghệ thuật Ca trù 
Thy Nga, phóng viên đài RFA

T́nh ca
Viết tặng chú Phạm Duy nhân ngày sinh nhật 5 tháng 10 của Nhạc sỹ
Tặng thêm con gái QC với ước mong t́nh yêu quê hương sẽ thấm đậm trong ḷng
Tôi yêu t́nh ca quê huơng từ thuở bé .Tôi nghĩ rằng ai cũng có t́nh yêu quê hương cả, chỉ là nhiều hay không nhiều lắm. T́nh ấy sẽ đuợc vun đắp thêm bởi những gịng nhạc hay thơ mà ta đuợc nghe từ thuở nằm nôi . .

T́nh yêu trong dân ca Việt Nam
Trần Quang Hải
Paris, Pháp
Dân tộc Việt Nam có một nền dân ca lâu đời và rất phong phú. Người Kinh chỉ có hát chứ không có múa như các sắc tộc khác cùng sống trên lănh thổ Việt Nam.
Dân ca trữ t́nh hay hát giao duyên hay hát đối đáp giữa trai gái được nghe khắp nơị Từ Bắc tới Nam, từ loại hát làm việc ngoài đồng (ḥ cấy) đến các việc làm khác như chèo thuyền (ḥ mái đẩy, ḥ mái nh́, ḥ sông Mă), như đập đá (ḥ nện) hay các công việc có tính cách tập thể (hát phường vải). Rồi các loại hát hội (Quan Họ, Trống Quân) được thịnh hành nhiều nhứt ở miền Bắc.Xem Tiếp

Thăm miền “quan họ” 

Nghe bà chủ hotel kể rằng ở Lim, bọn đàn anh đàn chị, đang chuẩn bị tập dượt cho ngày hội quan họ. Thấy rằng đây là một cơ hội không thể thiếu nên từ Hà Nội, chúng tôi lên đường đi thăm làng Ngăm sớm hơn dự định. Để có thể thưởng thức một bát phở gia truyền Bát Đạt, chúng tôi đă phải đi thật sớm, khi trời Hà Nội c̣n phủ kín sương mù và dưới cơn mưa phùn, gió bấc. Chúng tôi đây là tôi và bác tài của công ty Hương Giang, mà tôi đặt thuê từ Thụy Sĩ. (Xem tiếp: Thăm Miền Quan Họ)
 

Thế Nào Là Một Bài Dân Ca Tục Ngữ
KHÁI NIỆM VỀ DÂN CA

Thật khó khi muốn t́m một định nghĩa thỏa đáng về dân ca. Người Đức gọi dân ca là volkslied (tạm dịch: bài ca của nhân dân), người Pháp dùng 2 nhóm từ: chanson populaire (tạm dịch: “bài ca phổ cập trong quần chúng”) hay chanson folklorique (tạm dịch: bài ca mang tính nhân dân), người Anh gọi dân là folk song theo nghĩa như chanson folkorique, người Ư cuối thế kỷ XX lại dùng từ etnofonia (tạm dịch: bài ca mang tính dân tộc hay sắc tộc) để gọi dân ca.
Xem Tiếp Thế Nào Là Ca Dao Tục Ngữ)
 

VƠ THU TỊNH
Tiếng hát câu ḥ của dân ta có lẽ đă xuất hiện từ thời rất xa xưa, thời mà xă hội ta bắt đầu thành h́nh trên cơ sở nông nghiệp. Trong khi canh tác, trai gái nông thôn thường có dịp gặp gỡ, tiếp xúc nhau ở các buổi tác nước, cấy mạ, nhổ cỏ, gặt lúa, giă gạo, chèo đ̣...Họ thường dùng những câu hát tiếng ḥ để tăng thêm đà làm việc và nhất là để cho quên được phần nào sự mệt nhọc của ḿnh. Về sau, họ cũng dùng những câu hát tiếng ḥ ấy để tự t́nh với nhau, như mấy câu ướm gợi của chàng trai sau đây:
 

T́m hiểu về dân ca Quan họ  
 (Trích từ: yeuamnhac.com)
 
Giá trị nội dung tư tuởng  của sinh hoạt văn hóa Quan họ
 
Khi quan niệm Quan họ là một h́nh thái sinh hoạt văn hóa dân gian, một tổng thể do nhiều yếu tố văn hóa .... 1  2
 

T́m Hiểu Dân ca Việt Nam
Trần Quang Hải
Dân ca Việt Nam rất là phong phú. Tất cả những bài ca do dân quê sáng tác và không thuộc nhạc triều đ́nh, nhạc thính pḥng, nhạc tôn giáo th́ được xếp vào loại dân ca.

Xứ Việt Nam với gần 80 triệu người Việt và 53 sắc tộc khác nhau thừa hương một truyền thống dân ca đa diện. (Xem Tíếp Dân Ca - T Q Hải )

m câu hát ví ngày xưa?
Trích: Hanoimoi online
(HNM) - Làng tôi, làng Thạch Hán - Quốc Oai - Hà Tây xưa có tục hát ví. Đây là một vùng thắng cảnh đẹp. Phía Nam có núi Đồng Lư - Chùa Trầm - Chùa Trăm Gian. Phía Tây là dải rừng ngang, núi chập chùng như vỏ mít. Chếch đông có chùa Thầy. Chếch Bắc có chùa Tây Phương, tất cả các di tích này cách làng tôi chỉ trong ṿng bán kính khoảng 4 đến 10 km.

Tục hát cửa đ́nh năm xưa
--------------------------------------------------------------------------------

Cho đến nay chưa biết chắc tục hát cửa đ́nh (c̣n gọi là hát ca trù, ả đào) ra đời từ bao giờ. Sách đại lược sử kư toàn thư chép rằng: năm 1025 vua Lư Thái Tổ thấy có cô gái là Đào Thị giỏi nghề hát được nhiều người mến mộ nên tất cả các nữ ca sĩ đều cho gọi là đào nương và dân gian gọi là ả đàọ Có thể ca trù đă ra đời từ trước thời Lư, dân gian gọi là hát cửa đ́nh sau đó phát triển đi vào cung đ́nh phục vụ vua quan. (Xem thêm )
 

Tuồng Và Chèo Khác Nhau Thể Nào

Chèo là loại h́nh sân khấu dân gian, ngày càng được chuyên nghiệp hóa. C̣n tuồng là loại h́nh sân khấu quí tộc, ngày càng được b́nh dân hóa. Ta có thể  nêu ra những khác biệt chính sau đây: 

1. Về nguồn gốc: Tuồng có nguồn gốc từ sân khấu Trung Quốc, du nhập vào nước ta dưới thời nhà Lư, do Lư Nguyên Cát hướng dẫn. C̣n chèo h́nh thành từ nông thôn miền Bắc Việt Nam.

 


Vài bài ḥ Huế

Đây là những bài ḥ "THỬ TÀI" mà người Huế ngày xưa hay dùng. BB chỉ đăng vài bài để làm ví dụ thôi chứ nhiều quá đăng không hết.

1. Anh ăn cội cây cam, anh nằm cội cây cam, mới biết đường cam là khổ
Anh chê lương mặc lụa, lụa cũng tơ tằm;
Một năm mười hai tháng, tháng mô không rằm, hở anh? 

 


  • Vài nét về ḥ đối đáp ở Nam bộ xưa

    Dấu ấn sông rạch đă đi vào tâm thức của người dân Nam bộ tự bao đời nay, gắn bó với bà con như máu với thịt. Đặc biệt trong văn hóa dân gian Nam bộ, sông rạch được xem như một yếu tố đặc trưng của văn hóa dân gian. Ḥ đối đáp ở Nam bộ là một trong những loại h́nh diễn xướng dân gian có gắn bó mật thiết với môi trường sông nước. .
  •  

     

    Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

      Hà Phương Hoài

    Kỹ Thuật Truy Tầm

    Hoàng Vân

    Sưu tầm Nhạc Dân Ca

    Julia Nguyễn
    Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
    Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
    Last modified: 03/24/16