Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
 
Ẩm Thực
Cảm Nghĩ
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Liên Mạng Thành Viên
Trang Chủ
Hồng Vũ Lan Nhi 1 & 2
Phong Thủy HKH
 

 
 

 

 
 

Khái niệm âm vị học
(phần đầu)

Ngành nghiên cứu âm thanh cho một ngôn ngữ được gọi là âm vị học. Ngữ âm học là một ngành khoa học nghiên cứu các đặc điểm âm thanh của tiếng nói con người. Ngữ âm học nghiên cứu các phổ quát âm thanh. Ví dụ: Nhờ vào bộ máy cấu âm, con người có thể phát ra các chuỗi âm thanh khác nhau. Ngữ âm học chia các loại âm thanh này thành các phạm trù ngữ âm khác nhau: nguyên âm, phụ âm, tắc, xát… C̣n âm vị học th́ không nghiên cứu rộng như vậy. Âm vị học nghiên cứu xem trong một ngôn ngữ có bao nhiêu đơn vị âm thanh là có chức năng khu biệt nghĩa. Hoặc, trong ngôn ngữ, những nét ngữ âm nào trở thành những nét khu biệt và có ư nghĩa. Chính v́ vậy, ngữ âm học có số đơn vị là vô hạn, quen gọi là các âm tố (sounds). C̣n âm vị học, có số đơn vị hữu hạn, đếm được. Đơn vị của âm vị học là âm vị (phonemes).

Ví dụ:

[p] =

 

 + PAT
 + Môi
 + Tắc
 + Vô thanh
 - Mũi
 + Mạnh (cường độ)

[b] =

 

 + PAT
 + Môi
 + Tắc
 - Vô thanh
 - Mũi
 - Mạnh (cường độ)

[m] =

 

 + PAT
 + Môi
 + Tắc
 - Vô thanh
 + Mũi
 - Mạnh (cường độ)
 + Dài

 

 

 

 

 

 

 

 

nét ngữ âm

 

nét ngữ âm

 

nét ngữ âm

PAT: Phụ âm tính (Consonantal)
(+): Present
(-): Absent

Về mặt ngữ âm học, 3 nguyên âm này đều có nội dung ngữ âm là như nhau ở tất cả các ngôn ngữ trên thế giới. Ví dụ như [m] phân biệt với [p] và [b] ở đặc tính [mũi/không mũi]. [p] phân biệt với [m] và [b] ở đặc tính [+ vô thanh]: +vô thanh/ +hữu thanh. Những đối lập kiểu như vậy th́ ở bất cứ ngôn ngữ nào cũng giống nhau. V́ vậy, đó chỉ là các thuộc tính ngữ âm học thuần tuư. Tuy nhiên, dưới con mắt âm vị học, tài nguyên ngữ âm của các âm vị phải được lựa chọn dưới con mắt của người bản ngữ (native), được tận dụng và chọn lựa, được khai thác sao cho có lợi và hợp với hệ thống (cái tạng của ngôn ngữ) của ḿnh nhất. Nói tóm lại, các nét ngữ âm đă biến thành các nét âm vị học; từ cái chung, cái phổ quát trở thành cái riêng, cái đặc thù. Cả một tiến tŕnh lịch sử phát triển của một hệ thống ngữ âm, từ lúc xa xưa cho đến ngày nay, suy cho cùng, là sự chọn lựa và khai thác tài nguyên nhân loại ấy cho tộc người ḿnh, cho cộng đồng nói năng cụ thể. Quá tŕnh chọn lựa đó cũng chật vật, và có thể nói là “đầy máu và nước mắt”. Chính v́ vậy, các nhà âm vị học hiện đại không quay lưng lại với lịch sử của một ngôn ngữ mà t́m ở đó ra những hệ thống cứ liệu chắc chắn cho việc chứng minh những chức năng của hệ âm thanh một ngôn ngữ. Phương pháp luận này khác hoàn toàn với âm vị học cấu trúc luận xưa kia. V́ vậy, có thể nói, âm vị học hiện đại là h́nh ảnh thu nhỏ một cách logic và có tính h́nh thức hoá cao con đường phát triển của một hệ thống âm thanh một ngôn ngữ.

Đọc thêm: Phân biệt ngữ âm học và âm vị học

Trở lại: ví dụ trên đây, đối với âm vị học tiếng Việt, 3 âm môi đó được xử lí như sau:

+ Âm [p] là âm bị thiếu bởi v́ âm vị này không xuất hiện trong các từ thông thường của người Việt. Nó chỉ có trong các từ vay mượn chủ yếu Ấn-Âu hoặc từ các ngôn ngữ khác. Ví dụ: pin, patê, pía (tên một loại bánh)… Chính v́ vậy, rất nhiều người không nói là “đèn pin” mà là “đèn bin”, hay “pa tê” ba tê”…
+ Sự đối lập giữa vô thanh và hữu thanh trong tiếng Việt không hoàn toàn rơ nét như trong các ngôn ngữ Ấn-Âu.
+ Các đặc điểm ngữ âm như: [mạnh/yếu], [dài/ngắn]… trong tiếng Việt không được bộc lộ rơ ràng.

Nói tóm lại, hàng loạt các đặc điểm ngữ âm đă được đặt sẵn cho 3 âm này trở nên dư thừa và không có tác dụng ǵ đối với hệ thống âm thanh của tiếng Việt.

Ví dụ như:
Sự đối lập giữa [p] và [b] ở trong tiếng Anh đă tạo nên các biến thể khác nhau, hay các biến thể của cùng một âm vị. Chẳng hạn như, khi /p/ đứng trước (phụ âm đầu): pie [
p'ai] => /p/ [p'] (Aspirated);
Nhưng khi đứng ở sau âm tiết (phụ âm cuối) như: type [taip] => /p/ [p] (Plain).

Để có được sự biến đổi như vậy của âm /p/, bên cạnh đặc tính vô thanh của c̣n một thuộc tính thứ hai là đặc tính về cường độ và đặc tính về trường độ của âm /p/. Những đặc tính này, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ cấu tạo nên các thuộc tính âm thanh làm nội dung âm vị học của âm /p/. Chúng ta có:

Nội dung âm vị học của 3 âm môi trong tiếng Anh

[p] =

 

 + PAT
 + Môi
 + Tắc
 + Vô thanh
 + Mạnh (cường độ)
 + Ngắn

[b] =

 

 + PAT
 + Môi
 + Tắc
 - Vô thanh
 - Mạnh (cường độ)
 ± Ngắn

[m] =

 

 + PAT
 + Môi
 + Tắc
 ± Vô thanh
 - Mạnh (cường độ)
 - Ngắn

Chính v́ tổ hợp của 4 thuộc tính [tắc, vô thanh, mạnh, ngắn] mà âm /p/ có thể trở thành bật hơi hoặc không, theo những điều kiện xuất hiện của nó trong những trường hợp cụ thể của tiếng Anh. Khi âm này xuất hiện ở đầu từ th́ nguồn năng lượng vẫn c̣n sung túc nên thuộc tính [mạnh] và [ngắn] đă kết hợp với nhau tạo nên một âm bật hơi bao gồm một yếu tố tắc (/p/) và một đoạn bật hơi sau khi đă hoàn thành cấu âm tắc.

Khi âm này xuất hiện ở cuối từ, v́ năng lượng đă yếu đi do phải dải khắp từ đầu đến cuối từ, nên âm /p/ chỉ c̣n giữ lại được giai đoạn tắc nhằm khu biệt các từ mà thôi.

P_En

Chính v́ vậy, trong tiếng Anh, ngoài âm /p/, các âm tắc khác cũng có sự biến đổi tương tự như vậy. Chúng ta có:
tea
[t'i:]
key
[k'i:]
Ta có, trong tiếng Anh, các âm:
a. [+tắc]
[+bật hơi] //đầu âm tiết
b. [+tắc]
[-bật hơi] //cuối âm tiết

/p/ =

 

 + PAT
 + Môi
 + Tắc
 + Vô thanh
 - Mũi

/t/ =

 

 + PAT
 + Răng-lợi
 + Tắc
 + Vô thanh
 - Mũi

/k/ =

 

 + PAT
 + Ngạc
 + Tắc
 + Vô thanh
 - Mũi

Khái niệm âm vị học
(phần hai)

C̣n đối với tiếng Việt, việc chọn lựa tài nguyên này lại theo một cách hoàn toàn khác. Giữa /b/ và /m/ có một "mối liên hệ chị em" với nhau. Ví dụ, đă từng có mối liên hệ Việt-Mường giữa:

[-mũi] 
[-vô thanh] 

 

bói

muối

 

 [+mũi]

mỏ (nước)

c̣n đặc tính [bật hơi] th́ lại không có liên quan ǵ giữa /p/ và /b/ mà lại liên quan tới đặc tính [+tắc] và [+xát]. Hay, nói một cách khác, giữa [+bật hơi] và [+xát] trong tiếng Việt cổ có một mối quan hệ.

[t']
[t']
[p']
[k']

[+bật hơi]

 

thúng
thái
phúng
vụng




sái
xái
vụng

 

[+xát]

[s]
[s]
[v]
[γ]

 

Như vậy, luật âm vị học của tiếng Việt sẽ là:

 a. | + tắc        |      | + tắc       |

    | - mũi        | -->  | + mũi       |   (bói <--> muối)

    | + hữu thanh  |      | + hữu thanh |

 

 b. | + xát        |      | + bật hơi   |

    | - vô thanh   | -->  | + vô thanh  |   (súng <--> thúng)

V́ hai luật này chỉ nói đến phương thức tắc và xát mà không nói các đặc điểm bộ vị (vị trí phát âm) nên nó có phạm vi hoạt động rất lớn, chẳng những cho bộ vị môi mà c̣n cho cả các bộ vị khác nữa.

Ta có:

a.

/b/ =

 

 + PAT
 + Môi
 + Tắc
  - mũi
 + Hữu thanh

 

/d/ =

 

 + PAT
 + Răng-lợi
 + Tắc
  - mũi
 + Hữu thanh

 

/g*/ =

 

 + PAT
 + Ngạc
 + Tắc
  - mũi
 + Hữu thanh

 

bói

 

muối

 

đác

 

nước

 

?

 

?

 

/m/ =

 

 + PAT
 + Môi
 + Tắc
 + mũi
 + Hữu thanh

 

/m/ =

 

 + PAT
 + Răng-lợi
 + Tắc
 + mũi
 + Hữu thanh

 

/ŋ/ =

 

 + PAT
 + Ngạc
 + Tắc
 + mũi
 + Hữu thanh

 

b.

/v/ =

 

 + PAT
 + Môi
 + Xát
 - Vô thanh

 

/v/ =

 

 + PAT
 + Răng-lợi
 + Xát
 - Vô thanh

 

/γ/ =

 

 + PAT
 + Ngạc
 + Xát
 
+ Vô thanh

 

phúng

 

vụng

 

thái

 

xái

 

?

 

?

 

/p'/ =

 

 + PAT
 + Môi
 + Bật hơi
 + Vô thanh

 

/t'/ =

 

 + PAT
 + Răng-lợi
 + Bật hơi
 + Vô thanh

 

/k'/ =

 

 + PAT
 + Ngạc
 + Bật hơi
 + Vô thanh

 

Quan sát luật <b>, chúng ta nhận thấy: bên cạnh việc nhất loạt thuộc tính [+xát] có liên quan tới thuộc tính [+bật hơi] nhưng thuộc tính về tính thanh th́ lại không thống nhất. Khi th́ [-vô thanh] biến thành [+vô thanh] (ví dụ: "vụng" "phúng", "gà" "kha") th́ lại có "thái" liên quan tới "xái" (từ [-vô thanh] lại biến thành [-vô thanh]).

[-vô thanh] [+vô thanh]
[-vô thanh]
[-vô thanh]

Thực tế lịch sử ngôn ngữ cho thấy, đă có một thời ḱ tiếng Việt có những nhầm lẫn nhất định giữa đặc tính [+vô thanh] và [+hữu thanh]. Có thể điều đó liên quan đến sự xuất hiện của thanh điệu chăng? Các luật từ [-mũi] [+mũi] hoặc là [-bật hơi] [+xát] cho thấy tiếng Việt thuộc về cơ chế Mon-Khmer (các ngôn ngữ Mon-Khmer sử dụng luật này). Nhưng, sự xuất hiện của các yếu tố này ở đầu âm tiết (phụ âm đầu) cùng với sự không nhất quán về tính thanh trong các luật (nhất là ở luật <b>) cho thấy nó bị ảnh hưởng bởi tiếng Hán cổ, tiếng Thái rất nặng.

Do vậy, khi biểu diễn âm vị học (phonological representation) đối với tiếng Việt, người ta phải t́m đến những đặc điểm âm vị học của riêng tiếng Việt trong tài nguyên phong phú và bao la của các thuộc tính ngữ âm đối với từng âm mà ngữ âm học đă đề nghị. Căn cứ vào hai luật âm vị này, chúng ta thấy rơ rằng, cấu trúc nét âm vị học của tiếng Việt là có tính tôn ti hoặc lớp lang. Nghĩa là, có những thuộc tính ngữ âm chỉ là đi kèm và không quan trọng. Và có những đặc tính ngữ âm là vô cùng quan trọng, quyết định đến các tạng (status) ngữ âm của tiếng Việt, quyết định đến cả tiến tŕnh phát triển lịch sử của hệ thống ngữ âm tiếng Việt trong suốt mấy ngàn năm qua.

V́ những lí do này, các biểu diễn âm vị học của tiếng Việt là khác so với tiếng Anh. Ví dụ, đối với loạt [+tắc], ta có:

Tiếng Anh:

/p/ =

 

 + PAT
 + Môi
 + Tắc
 + Vô thanh
 - Mũi

/t/ =

 

 + PAT
 + Răng-lợi
 + Tắc
 + Vô thanh
 - Mũi

/k/ =

 

 + PAT
 + Ngạc
 + Tắc
 + Vô thanh
 - Mũi

Tiếng Việt:

/p/ =

 

 + PAT
 + Môi
 + Tắc
 - Mũi
 (- Hữu thanh)

/t/ =

 

 + PAT
 + Răng-lợi
 + Tắc
 - Mũi
 (- Hữu thanh)

/k/ =

 

 + PAT
 + Ngạc
 + Tắc
 - Mũi
 (- Hữu thanh)

 

(-Hữu thanh)
[-vang]

 

 

 

/b/ =

 

 + PAT
 + Môi
 + Tắc
 - Mũi
 (+ Hữu thanh)

/d/ =

 

 + PAT
 + Răng-lợi
 + Tắc
 - Mũi
 (+ Hữu thanh)

/γ/ =

 

+ ???

 

(+ Hữu thanh)
[+vang]

 

 

 

/m/ =

 

 + PAT
 + Môi
 + Tắc
 + Mũi
 (+ Hữu thanh)

/n/ =

 

 + PAT
 + Răng-lợi
 + Tắc
 + Mũi
 (+ Hữu thanh)

/γ/ =

 

 + PAT
 + Ngạc
 + Tắc
 + Mũi
 (+ Hữu thanh)

 

(+ Hữu thanh)
[+vang]

Từ đó suy ra:

    Phụ âm tiếng Anh                      Phụ âm tiếng Việt

    _______|_______                      _________|_______

    |     ________|________        ______|_____          |

    |     |               |        |          |          |

1. [+tắc] [+tắc]     [+tắc xát]  [+xát]   [+bật hơi]   [+tắc]

       _____|_____        |                          ____|____

       |         |        |                          |       |

2.   [-môi]   [+môi]      |                        [-HT]   [+HT]

    ___|___      |     ___|___                           ____|____

    |     |      |     |     |                           |       |

3. [+VT] [-VT] [-VT] [+VT] [-VT]                      [+mũi]  [-mũi]

Tóm lại, các âm mà con người sinh ra, về mặt h́nh thức, đều có thể được biểu diễn theo các ma trận ngữ âm học. Trong các ma trận này, người ta có thể liệt kê tất cả những đặc điểm âm thanh có chứa trong luật âm. Những đặc điểm âm thanh này có thể là các đặc điểm cấu âm, các đặc điểm âm học, các đặc điểm thẩm nhận âm. Chúng tạo nên một vốn dự trữ về mặt tiềm năng cho việc thể hiện một âm thanh cụ thể của con người. Những đặc điểm này là vô hạn, do chỗ số lượng âm thanh là vô hạn và do các cách tiếp cận, xét về mặt lí thuyết, với âm thanh con người là vô hạn (khoa học càng phát triển, trang bị máy móc càng hiện đại, tối tân, các sắc thái tinh tế của một âm thanh cũng dễ được phát hiện hơn). Đó chính là tài nguyên âm thanh của ngôn ngữ loài người.

Nhưng con người phải được quy tụ thành các cộng đồng nói năng khác nhau. Do các đặc điểm về lịch sử và văn hoá khác nhau, các điều kiện sống khác nhau mà phương tiện giao tiếp cũng khác nhau. H́nh thức âm thanh của mỗi một phương tiện giao tiếp đó, suy cho cùng chính là một h́nh thức chiếm lĩnh hợp pháp tài nguyên âm thanh của loài người. Cách sở hữu đó trở thành văn hoá của một dân tộc, tạo nên cái tạng âm thanh của một ngôn ngữ.

Nếu ngữ âm học là một ngành khoa học nghiên cứu về âm thanh theo nghĩa tài nguyên âm thanh của nhân loại, th́ âm vị học lại được tạo ra cho một dân tộc, một cộng đồng. Âm vị học là ngành nghiên cứu âm thanh của một cộng đồng ngôn ngữ cụ thể, chính v́ vậy, nó có số lượng đơn vị hữu hạn, có cách thức riêng để cấu trúc các âm vị lại thành một vỏ từ theo cách riêng của nó (Quy luật kết hợp âm vị). Cuối cùng, các đặc điểm ngữ âm đă được biến thành các nét khu biệt nhằm phác hoạ và nhận dạng theo một cách riêng đối với từng âm vị của một cộng đồng. Ngữ âm học nghiên cứu cái chung, cái phổ quát (mang tính nhân loại) c̣n âm vị học nghiên cứu cái riêng, cái đặc thù (mang tính dân tộc, cộng đồng).

 

 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 02/19/15