| |
Thương Về Huế
Người xứ Huế
trang nghiêm và trầm lặng,
Thường hay
sầu giữa lúc thế nhân vui,
Tâm sự
nhiều mà ít hé trên môi...
(thơ của Bích
Lan)
Danh từ Huế một thời thanh
b́nh trước đây với thi sĩ Nam Trân đă được
thăng hoa với tĩnh từ cổ điển “Đẹp và Thơ“
mà người đời quen nhắc tới ! Một cô gái b́nh
dân với tà áo dài chiếc nón lá giản dị trên
sông Hương cũng đă trở thành yểu địêu thục
nữ trong mắt người thơ xứ Quảng rồi !
Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng,
Cô gái Kim luông yểu điệu chèo
Tôi xuống thuyền cô, cô chẳng biết
Rằng Thơ thấy Đẹp phải t́m theo !
Huế : Đẹp và Thơ ! Điều này không ai căi
nhất là chúng ta xem lại cuốn Album lưu niệm
hay xem lại những cuốn phim mầu đầu tiên
quay về cảnh đẹp tại Cố đô Huế chiếu tại rạp
Richard Việt nam Film đường Ngă Giữa năm xưa.
Nhưng tôi thiết tưởng vẫn c̣n nhiều cái Huế
khác đă phản ánh qua thơ văn mà kư ức thơ ấu
của tôi khó có thể nhạt nḥa !
Như lớp học sinh Huế tha hương nay đă tra
nậy, họ vẫn c̣n để ḷng tương tư về Huế của
phượng vĩ, Huế của mùa hè :
Sung sướng quá, giờ cuối cùng đă đến!
Đàn chim non hớn hở rủ nhau về
Chín mươi ngày bay nhảy nhảy ở đồng quê
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ
(thơ Xuân Tâm)
Họ vẫn nhớ Huế của mùa thi với Đỗ kim Bảng
mà ngộ nghĩnh hát rằng:
Thi ơi là thi , sinh mi là chi, „bay“ nghẹn
ngào, „bám ồn ào“, buồn vui v́ mi !
C̣n lớp người cao niên mái tóc kim sinh đă
úa vàng th́ họ lại muốn ngậm ngùi nh́n về
một Huế của sự cổ kính huy hoàng từ chín đời
chúa mười ba đời vua với kinh thành, phủ đệ,
với lăng tẩm u trầm, với những bóng cung tần
nhang khói trước những khám thờ Tiên đế chạm
trổ sơn son !
Ngậm ngùi giai nhân khẽ thở dài,
Nắng chiều ngủ úa sắc lâu đài,
Gượng cười trong nét vàng son cũ,
Như ả cung tần tuổi nhạt phai.
(Đông Hồ)
Đôi lúc, họ không thể không có lại cảm giác
ớn lạnh về một Huế trong sương mù bảng lảng
của không khí Liêu trai:
Dịp cầu Bạch hổ mấy bóng ma,
Biến mất v́ nghe giục tiếng gà,
Trăng tỉnh giấc mơ lười biếng dậy,
Động ḷng lệ liễu, giọt sương sa…
(Thúc Tề)
Họ khó quên nổi về một Huế của nhiều am miễu
vào ngày rằm hay mồng một với đồng cô bóng
cậu ban phát bùa linh thuốc dấu, về một Huế
của niềm tin phong thủy... Tất cả đă toát ra
từ cảnh vật u uất của cây cao bóng cả với
những rồng linh nằm trong mạch đất hay những
rắn thiêng đầu có mồng làm ngựa cưỡi cho mấy
ngài khuất mày khuất mặt thường đu về đêm
trên những cành cổ thụ! Họ c̣n mang trong
trí nhớ về một Huế của linh thiêng huyền bí
với bùa yêu thuốc dấu, với thần đá, với ngọc
rắn... như đă được mô tả trong cuốn “ Huế:
la mystérieuse” của Louis Chochod từng ở Huế
nhiều năm vào đầu thế kỷ. Ngay một nàng đầm
cha Pháp mẹ Việt cũng chôn sâu trong kư ức
về một Huế mà huyền linh pha ḥa với thực
tại:
Rồi một hôm, niềm mơ tôi thành sự thực:
Tôi bước về , lạc rừng thơ nhung nhớ
Trời đầy sao - khung cảnh ảo huyền thay!
Bao thần linh cùng rồng thiêng xứ Huế
Nhảy tưng bừng như canh giữ thành xưa !
(thơ của Monique Leverset do Lê văn Lân
chuyển Việt ngữ)
Sống ở Huế lâu, hầu như tất cả người ngoại
quốc ít nhiều nhiễm pha gịng máu Huế cũng
thấy rằng đất Huế quá nặng về dĩ văng và là
nơi con người dương thế luôn luôn tưởng nhớ
đến những hồn ma như trường hợp điển h́nh
của Giáo sư Henri Cosserat. Ông coi Huế cổ
kính của lăng tẩm như :
Huế: tam đại bài vị thiên thu yên ngủ
Giữa bảo châu từ quá khứ truyền kỳ.
Tôi, bé mọn: bái tôn hồn linh đế.
Đứng trước cảnh tà dương với vầng mặt trời
đỏ rực lặn ở sau dăy Trường sơn phía tây,
Henri Cosserat đă hoài vọng thâm trầm về quá
khứ của kinh thành:
Ôi đế đô...ḱa vầng dương đỏ ráng
Lặn phương đoài trong lửa rực vinh quang
Huế: dĩ văng hồi sinh từ lăng mộ !
Nhưng rất nhiều người Việt ở Bắc và Nam đă
thắc mắc không hiểu nổi về một đặc thù lớn
nhất về tâm t́nh của những con người xứ Huế:
Người xứ Huế trang nghiêm và trầm lặng,
Thường hay sầu giữa lúc thế nhân vui,
Tâm sự nhiều mà ít hé trên môi...
( thơ của Bích Lan)
Tại sao vậy? Nét tương phản này phải chăng
v́ Huế là sản phẩm của tang thương, của
những gịng nước mắt chảy vào trong, của
những ngấn lệ lưng tṛng, Huế là h́nh ảnh
của nàng quả phụ sầu muộn muôn đời, Huế là
địa bàn của những oan khiên trên gịng lịch
sử gây ra bởi những ách nước tai trời. Henri
Cosserat đă tinh tế nhận ra cái đặc thù
tương phản này trong cái đẹp cực kỳ nên thơ
nhưng sao buồn u uất về đất Huế
Tôi thấy Huế ngủ mơ bên bờ mộng
Miền Cố đô khoác phủ ngoc xanh lam !
Thành lũy oai, cao dầy trông ngạo nghễ
Tôi đă nh́n tỉnh giấc Huế hừng đông !
Tôi lại chọn - giống tay sành cổ ngoạn,
Tranh b́nh minh mịn phấn rộn ḷng tôi
Để ngắm Huế: nàng góa chồng tim rạn
Vén khăn sô màn sương trắng tháng tư
“Vành khăn sô cho Huế” mà Nhă Ca sau
này dùng làm tựa cho cuốn sách về Huế sau
tết Mậu Thân của bà phải chăng đă từng được
quấn trên đầu người dân Huế từ rất lâu rồi
v́ vùng đất này đă từng chịu bao nhiêu tang
tóc v́ ách nước tai trời. Nói đến ách nước,
th́ vùng đất Phú xuân đă từng là sân khấu
của nhiều cuộc giao tranh tiếp nối đẫm máu
lịch sử trong ṿng vài trăm năm cận đại:
Trịnh ào ạt vô tiếp thu, Nguyễn vội vàng bôn
tẩu, Tây sơn vô khống chế, rồi Nguyễn lại về
để rồi đến nạn Pháp ngoại xâm để gịng Hương
giang êm đềm thơ mộng bỗng biến thành “ Nhất
giang lưỡng quốc nan phân thuyết” và làm mặt
đất Huế thấm đẫm máu của người dân dày xéo
lên nhau mà chạy ngày Thất thủ Kinh đô...[
Đây là cái Huế ” nước loạn canh tàn khóc
biển dâu” mà tiến sĩ học giả Thái văn Kiểm
đă viết kỹ.]
Hương khói ngây ngấy từ miễu Ngă tư Âm hồn,
từ những giàn cúng ngày 23 tháng năm âm lịch
hay h́nh ảnh chập chờn ma quái của những bè
chuối đựng bỏng nếp, cháo thí trong lá đa
thắp nến thả trên sông, những tiếng tụng
niệm trong hồi chuông tiếng mơ cầu siêu
thoát từ hàng trăm cảnh chùa chính là những
cái ǵ mà con dân Huế đă nhập tâm khiến họ “
thường hay sầu trong lúc thế gian vui
!”
Ách nước c̣n đè nặng trên đất Huế với bao
nhiêu cuộc can qua, chính biến ngút ngàn
khói lửa trong ḷng thế kỷ 20: những cuộc
thủ tiêu về đêm ghê rợn bằng mă tấu, bằng
cán cuốc hận thù hồi Cách mạng Việt minh
cộng với hàng ngàn thây ma chết giữa ngày
tết Mậu thân lấp vùi rải rác từ đồng bằng
Phú thứ đến khe núi Đá mài, với bao nhiêu
thây người chạy di tản trên bờ biển Thuận An
dưới cơn mưa pháo 75 là những cái ǵ làm cho
nụ cười Huế dù sau này có khuây khỏa với
thời gian bao nhiêu cũng khó tươi vui nếu
không nói là khô môi đắng họng v́ oan cừu
c̣n ấp ủ trong ḷng trong những ngày kỵ giỗ.
Tâm hồn Huế là trong héo ngoài tươi vậy.
Lịch sử Huế khẳng định là những gịng lệ
chảy vào trong. C̣n nói đến tai trời th́ câu
chuyện thời sự thương tâm mới đây là cơn lũ
tháng 11 năm Kỷ Măo(1999) khiến hàng trăm
thân xác Huế cuốn theo gịng nước bạc. Ta tự
hỏi riết rồi ông trời kia ác nghiệt cũng phá
cái lệ truyền thống “ băo năm Th́n, lụt năm
Tị”? Hay phải chăng lần này yếu tố phá hoại
của tay người ta đă góp thêm vào làm nguyên
nhân gây ra điều thảm khốc?
Người ta phải thừa nhận rằng đọc bài thơ sau
của Nguyên Phương khó mà cầm được mắt lệ
rưng rưng:
Huế ơi! Cơn lũ lại về
(Gửi Huế trong niềm đau cơn lụt tháng 11 năm
1999)
Không thể nào quên - mà măi nhớ
Trời hành cơn lụt hàng năm
Huế một đời oan khiên- nghiệt ngă
Tội cho người lại trắng khăn tang !
Bốn mươi năm quay về lụt cũ
Thế kỷ buồn nhớ lũ năm ba
Đón năm hai ngàn bằng hung tin dữ
Huế đắm ch́m băo tố phong ba !
Ông tha mà bà chẳng tha
Bà cho cái lụt hăm ba tháng mười !
Huế chưa kịp nở nụ cười
Ông cho cơn lụt ngập trời đầu Đông.
Nước ngập đồng, nước tràn sông
Nước trào khóe mắt tuôn ḍng lệ đau
Nguyệt Biều, Vỹ Dạ, Băi Dâu
Đâu c̣n thấy Huế - nhuộm màu nước đen !
Nếu làm được phép tiên mầu nhiệm
Xoay chuyển ṿng quay nửa địa cầu
Cho Huế thoát cơn nguy truyền kiếp
Cho tia nắng hồng đẹp Huế mai sau !
Chẳng c̣n bao lâu thay thế kỷ
Huế đă trăm năm lắm đọa đầy
Mưa gió từ đâu gieo hệ lụy
Huế nghèo thêm nỗi khổ oằn vai
Phải Huế, mới thấm đau lụt Huế,
Của xa người ̣a vỡ giữa mênh mông
Da xanh loang loáng trên gịng nước
Níu kéo nhau đi nỗi hăi hùng !
Phải Huế, mới đau từng đoạn ruột
Mới nghe gió buốt lạnh mềm xương
Mới đảo điên cửa xiêu nhà dột
Nước đầy nhà, cơm chẳng c̣n cơm
Không Huế, cũng mềm ḷng về Huế
Màn trời, đất chiếu khổ nào hơn
Buông tay, chồng vợ xa nhau măi
Nước chảy tuôn tràn, mẹ bỏ con
Tha phương - lụt Huế - theo từng bước
Nhịp Huế trong tim - Huế thổi bùng
Nhói đau cơn lũ ngàn năm trước
Tin về - lụt mới - nỗi đau chung !
Nguyên Phương đă nhắc lại cơn lũ lụt khủng
khiếp ở Huế năm 1953 tức là năm Quí Tị như
dân Việt vẫn mang niềm tin rằng “ lụt năm Tị.
băo năm Th́n” là những năm lụt băo nặng nề!
Tôi lại bất giác liên tưởng đến nhiều cơn
băo cuồng phong mà chính đất Huế từng thê
thảm chịu trong những năm Th́n lịch sử:
năm Canh Th́n ( 1820) tức năm Vua Minh mạng
mới lên ngôi, mưa to gió lớn làm đổ sụp 300
trượng đất ( 1200 mét) của bờ thành lũy Huế;
năm Giáp Th́n ( 1904), cơn băo khủng khiếp
đă thổi bay bốn vài sắt của cây cầu Thành
Thái xuống sông Hương.
Có vài giai thoại tôi xin nói trong dấu
ngoặc: Cầu này -về sau quen gọi là cầu
Trường tiền- dài 400 mét do hăng thầu Eiffel
khởi công xây năm 1897 với vài sắt nhưng c̣n
lót ván gỗ được vua Thành thái khánh thành
năm 1900. Lúc ăn lạc thành, viên Toàn quyền
Pháp đă. kiêu căng ngạo mạn nói với nhà vua
rằng cây cầu bằng sắt sẽ vững bền kiên cố
như sự cai trị bảo hộ của Pháp vậy, nhà vua
mỉm cười nói chưa chắc đâu. Quả nhiên, bốn
năm sau - 1904-, cầu bị bay bốn vài v́ băo,
nhà vua bấy giờ lại nói vào mặt tên Toàn
Quyền: “ Vous” nghĩ sao? Ta đâu có nói sai !
Thi sĩ Tam Xuyên Tôn thất Mỹ đă cảm hoài về
sự kiện lịch sử này như sau:
Năm Th́n tháng tám bữa mồng hai
Một trận phong tai thực khuấy đời
Vững vàng cầu sắt c̣n bay nổi
Cứng cáp lầu vôi cũng tả tơi!
Cầu này sau được sửa lại và đúc sàn bằng xi
măng, xong năm 1906 nên dân Huế có câu hát:
Chợ Đông ba đem ra ngoài dại
Cầu Trường tiền đúc lại xi -moon
Ngẫm lại, tôi thấy thấm thía cho h́nh ảnh
cuộc tang thương mà đất Huế phải oằn vai
chịu qua lịch sử của cây cầu sắt Trường tiền
kiên cố này: nó đă bao lần phải đổi tên nào
là cầu Thành thái, nào là cầu Clémenceau,
nào là cầu Nguyễn Hoàng; nó lại bao lần bị
hư sụp khiến nhà thơ Thảo Am Nguyễn Khoa Vy
- vốn trứ danh qua câu “ Núi Ngự không cây,
cu đậu đất, Sông Hương vắng khách đĩ kêu
trời - cũng châm biếm mà cảm tác bài thơ sau:
Sông Hương thường rộng nước thường sâu,
Thành thái năm xưa mới có cầu.
Ngă lại, ngă qua luôn sáu nhịp
Bên am, bên thẳng khác hai đầu
Trời xô một độ năm Th́n trước
Người phá ba vài tháng Hợi sau.
Cái dại Trường tiền c̣n đó măi,
Đố ai biết dại ở từ đâu?
“Trời xô” tức là thiên tai băo lớn năm Giáp
Th́n (1904), c̣n “ Người phá” tức là nạn
nước khiến Việt Minh phá sập ba vài vào năm
Đinh Hợi (1947)- chưa kể chuyện cầu lại bị
đánh sụp Tết Mậu Thân ( 1968). Mỗi lần trời
xô, mỗi lần người phá là mỗi lần dân Huế lại
bị chít thêm vô số vành khăn sô tang tóc, và
mắt Huế lại đ̣i phen đẵm lệ !:
Phải Huế, mới đau
từng đoạn ruột
Mới nghe giá buốt lạnh mềm xương
Mới đảo điên cửa xiêu nhà dột
Nước đầy nhà, cơm chẳng c̣n cơm.
( Nguyên Phương )
Tại sao Huế thường dễ lụt vào
tháng 10 âm lịch hằng năm để khiến :
“ nước ngập đồng, nước tràn sông,
Nước trào khóe mắt tuôn ḍng lệ đau”?
Hăy nghe tiến sĩ Thái Công Tụng lấy khoa học
mà giải thích:
… Trời hành cơn lụt mỗi năm...Các gịng sông
chảy qua các đồng bằng B́nh Trị Thiên thường
ngắn và có một lưu vực hẹp. Sông Giang, sông
Nhật lệ ở Quảng B́nh, sông Thạch Hăn ở Quảng
trị, sông Bồ, sông Hương ở Thừa Thiên là ví
dụ điển h́nh...Lũ lụt thường đến bất th́nh
ĺnh và thay đổi tùy năm. Có lúc mưa băo gây
ra một lượng mưa lớn, có thể vài trăm
millimét trong 24 giờ. Ảnh hưởng của dăy núi
cũng gây ảnh hưởng. Một phần th́ rặng núi
gần đồng bằng, mặt khác th́ núi có triền dốc
rất lớn, nên vận tốc của ḍng chẩy cũng rất
mạnh. Do đó, nước sông lên rất nhanh. Mùa
lụt đi sát với mùa mưa lớn. Ở miền châu thổ
sông Hồng lũ lụt cao nhất vào tháng 8 dương
lịch, vào đến Thanh Hóa là tháng 9, Nghệ
Tĩnh thánh 10, đồng bằng B́nh Trị Thiên vào
tháng 11.
Câu tục ngữ của dân gian cũng nói lên điều
ấy: “ Ông tha mà bà chẳng tha, làm cho cái
lụt hăm ba tháng mười” ( tính theo âm lịch)
[ Thái công Tụng - Vùng thiên nhiên B́nh Trị
Thiên _ Tiếng Sông Hương TX, 1997]
Tại sao vua Gia long lại không dự trù điều
trên mà chọn kinh đô tại Huế?
Đương nhiên nhà vua đă chọn vị trí trung
ương giữa Bắc và Nam mà cai trị, nhưng cũng
v́ lư do t́nh cảm lưu luyến vùng đất Phú
Xuân với nhiều ưu điểm về phong thủy địa lư
huyền bí mà các Chúa Nguyễn tổ tiên từng dấy
nghiệp sau dẫy “Hoành sơn vạn đại dung than”
như lời khuyên bảo của Trạng Tŕnh ! T́nh
cảm thường chi phối con người như ông Ngô
Đ́nh Diệm mặc dù làm tổng thống ăn cơm chỉ
thích cá bống thệ kho. Một bằng chứng khác
nói lên t́nh cảm trong quan niệm của nhà
Nguyễn chọn kinh đô Huế, đó là cửa biển Tư
Hiền ở huyện Phú lộc. Cửa này ngày xưa sâu
rộng nên tầu thuyền ra vào tiện lợi, nhưng
đầu đời Gia long lại hẹp, cát lấp nước nông
có thể lội bộ qua, nhưng đến đời Gia long
thứ 10, lụt to cửa biển vỡ , sau lại nông
cạn, đến năm Minh mạng quí mùi th́ nước cạn
đến nỗi thuyền lớn không qua được; đến năm
Thiệu trị thứ 4, lụt lớn, cửa Tư Hiền lại vỡ
nhưng sau lại bồi lấp như trước. Ư của vua
Minh mạng về cửa Tư Hiền như sau trong Thánh
chế thi tập như sau:
“ Sự lấp mở cửa sông biển là tự tay trời,
không phải dựa vào sức người....Xét ngược
lại, bản triều năm Giáp ngọ vận nước gian
nan, quân Trịnh lấn vào, vua Duệ tông ta do
cửa này vào Nam, Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng
ta ( tức là vua Gia Long Nguyễn Ánh) mới có
13 tuổi cũng cùng theo hầu; đến năm tân dậu,
đại binh lấy lại thầnh kinh cũng do cửa này
tiến vào. Lúc ấy trẫm mới 11 tuổi cũng đi
theo hầu. Thế là cái cơ thịnh suy trước sau
na ná như vậy, tựa hồ có số mệnh định sẵn.
Nay cửa biển vô cố nông cạn, có lẽ ư trời
giúp ngầm bản triều, muốn cho cơ nghiệp bền
vững, không để cho người ngoài nḥm ngó, cho
nên chuyển biến như thế chăng ?”
Qua sự kiện trên, ta thấy yếu tố t́nh cảm đă
chi phối ư kiến của nhà vua v́ nó nhắc ông
nhớ lại tuổi ấu thơ 11 tuổi. [Nói chí t́nh,
“dân Huế ḿnh” bây giờ cũng vậy, tha hương
vạn dặm trùng dương, dù đang ở tai những
thành phố lớn huy hoàng của quốc tế, mỗi khi
họ gặp nhau hay đặt bút viết , đều có luận
điệu:” nhứt Huế, nh́ Sịa”]
Qua chuyện cửa Tu Hiền, ta lại thấy đất Huế
đă từng bị lụt lớn nhiều lần trong nhiều thế
kỷ trước đến nỗi cửa biển Tư Hiền phải vỡ
rồi sau lại bồi lấp !
Tuy rằng kinh đô Huế nằm vào địa thế bất lợi
dễ lụt hằng năm, nhưng ta không nên hồ đồ
trách cứ nhà Nguyễn ! Đọc lại sử ta thấy các
vua nhà Nguyễn cũng gia công trị thủy bằng
cách đào nhiều sông nhân tạo để dẫn nước hay
làm đập ngăn nước mặn có lợi cho nhà nông ví
dụ các sông Lợi nông ( tức An cựu), sông
Thiên lộc, sông Xuân ḥa, sông Phổ lợi...
Ta thường nghe người ta nói về “ mưa Huế”,
mưa buồn thúi ruột thúi gan, buồn đến nỗi
thi sĩ Nguyễn Bính phải than:
Trời mưa ở Huế sao buồn thế
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Gia hội thuyền kia nằm bát úp
Chính v́ cái “ mưa Huế” dầm dề nên học tṛ
đi học phải mang tơi cá, tơi đọt tùm lụp kín
mít nên các chàng trai xứ Huế theo gái chẳng
thấy ǵ ngoài các “ gót son” của mấy o mà cả
tá chàng c̣n đem ca tụng trong những vần thơ:
Theo em mô dám theo gần quá
Xa khoảng đủ bưa “nghễ gót chân”
Trắng mịn pha hồng như sáp nặn
Hồn thơ ngùn ngụt, tứ lâng lâng
( LVL) [ Nếu những cái mưa dầm, lụt lội
ở Huế làm người lớn lo âu đói kém th́ tụi
con nít ngây thơ lại có dịp lội nước thích
thú và được ăn những bữa cơm lạ miệng với cá
lúi, cá cấn kho sung với tương. Nghĩ lại tôi
thấy mặc cảm tội lỗi len lén trong hồn trước
cái đau buồn của người lớn mà tôi dửng dưng
không chia xẻ!]
Ở Huế vốn là cái đất gió mưa truyền kiếp nên
các ôn mệ ở đây đương nhiên đă thu thập
nhiều kinh nghiệm về khí hậu trong năm trong
sự canh tác nên có những danh từ ngộ nghĩnh
về gió, về mưa:
- về mùa xuân giêng hai th́ khí trời ôn ḥa
ấm áp nên cây cỏ trổ hoa, cau bắt đầu ôm bẹ
th́ ngọn gió xuân là “ gió cau chửa” tựa như
danh từ “ lúa con gái” lúa có mang, lúa trổ
đ̣ng đ̣ng”;
đến tháng 3, trời nóng dần, thỉnh thoảng có
gió mạnh từ phương nam gọi là “ băo Nồm Nam”
th́ dân đi sông nước phải đề pḥng;
tháng 4 tiết tiểu măn, thỉnh thoảng có lụt;
tháng 5, tháng 6, tháng 7 gió nồm thổi mạnh;
trước ngày 7 tháng 7, có mưa lớn tục gọi là
“mưa rửa xe”;
tháng 8,tháng 9 khí trời mát dần, thường có
mưa lũ, lại thỉnh thoảng có dông vài ba ngày
mới tắt. Mùa này gió mát thổi từ sông vô nên
gọi là
“ gió bến”;
tháng 10 trong những ngày mồng 3, 13, 23
thường bị lụt, ngạn ngữ có câu: “Ông tha mà
bà chẳng tha, làm cho cái lụt hăm ba tháng
mười”. Sau lụt th́ bùn đóng dơ bẩn nhưng lại
có mưa mà dân Huế gọi là “ mưa rửa bùn”;
về mùa đông, th́ có mưa nhỏ, sắc nước tối
nên gọi là “ mưa tro”
Đại khái, trong một năm, nửa mùa thu sang
mùa đông th́ thường mưa nhiều; c̣n nửa mùa
xuân về sau thường nắng nhiều.
Một năm thường có hai vụ lúa:
1) Vụ hạ: tức là tháng 10 cấy th́ tháng 3
gặt;
2) Vụ thu: tức là tháng 5 cấy th́ tháng 8
gặt.
Nếu lụt sớm vào tháng 7, tháng 8 th́ hỏng
lúa, cho nên vụ thu được dân nhà nông Huế
gọi là “ đánh bạc với trời”, nghĩa là có cấy
mà chưa chắc được ăn!
Dân miền núi rừng th́ mỗi năm chỉ cấy một
mùa.
Triều đ́nh Huế ngày xưa cũng có tục thu góp
những kinh nghiệm dân gian mà soạn ra 11 bài
thơ ngắn ngũ ngôn tứ tuyệt gọi là Nông ngạn
để phổ biến trong ngành canh tác. Ví dụ tục
coi trời đêm trừ tịch 30 Tết, mà đoán mùa
màng năm tới thất bát hay được mùa: như ngày
Nguyên đán trời trong sáng th́ được mùa gấp
mười, c̣n mưa dầm lạnh th́ mất mùa; mùa hè
măng tre mọc đầu hướng vào bụi th́ năm ấy
gió to nên bất lợi cho lúa. Về tháng 6, khó
có mưa; nếu có mưa th́ giọt nước rất quí cho
lúa nên mưa tháng sáu là “ mưa máu rồng”,
mưa này càng nhiều th́ thóc gạo bội thu.
Qua những điều trên, ta thấy nhà nông Huế
không những phải “trông trời, trông đất,
trông mây, trông mưa, trông gió, trông ngày,
trông đêm” như những nơi khác mà c̣n phải
liều lĩnh “ đánh bạc với trời”:
Phải Huế- mới thấm đau lụt Huế!
Của xa người ̣a vỡ giữa mênh mông
Da xanh loang loáng trên gịng nước
Níu kéo nhau đi nỗi hăi hùng !
Phải Huế - mới đau từng khúc ruột
Mới nghe giá buốt lạnh mềm xương
Mới đảo điên, cửa xiêu nhà dột
Nước đầy nhà, cơm chẳng c̣n cơm !
Có hiểu Huế, mới hiểu thấm thía tại sao dân
Huế:
Thường hay sầu trong lúc thế nhân vui,
Tâm sự nhiều mà ít hé trên môi.
Bên cạnh đặc tính về địa lư, thiên văn,
người dân Huế trong vùng dân cư nói chung
B́nh Trị Thiên c̣n phải chịu ảnh hưởng về
nạn nhân măn như tiến sĩ Thái công Tụng giải
thích :
Hệ sinh thái đất hẹp mà người đông. Mật độ
dân cư trên đất trồng trọt th́ quá lớn.
Người dân xứ này phải di dân vào Sàig̣n, Đà
nẵng, Nha trang, B́nh tuy, Phước long. Nhưng
đến một lúc th́ di dân chẳng hiệu quả v́ tài
nguyên đất là một hằng số có hạn.
Dân số càng ngày càng đông th́ nẩy sinh ra
một số nhu cầu căn bản: nhu cầu chất đốt, về
gỗ xây cất, diện tích đất canh tác càng ngày
càng nhỏ; trâu ḅ, dê không đủ cỏ ăn, cỏ
không mọc lên kịp lại làm đất thêm một phen
bị xói ṃn, chưa kể dê thả lang thang v́ đói
ăn luôn các đọt cỏ non...Các rừng miền núi
trong vài thập niên gần đây bị đốn cây toàn
bộ, cả cây lớn lẫn cây con nên rừng bị hủy
diệt không c̣n cây mẹ để tái sinh. Càng phá
rừng bừa băi th́ càng dẫn đến xói ṃn, càng
dễ lụt to trong khi chính quyền không có kế
hoạch kiểm soát lại thêm nạn tham nhũng dung
túng thêm. Rốt cuộc, người dân chịu một cổ
nhiều tṛng thắt siết đến le lưỡi.
Tại sao dân Huế ḿnh thường hay hóm hỉnh nói
đùa về một sự tương phản sau :
“ Đất Huế không phải là nơi ở để mà
thương, nhưng là chốn ra đi để mà nhớ”
như mối t́nh nghịch lư : “De près, je te
fuis mais de loin je te suis !” mà tôi
tạm dịch:
Gần em chạy trốn em hoài,
Xa em dơi nhờ rạc rầy xác ve!
Phải chăng dân Huế đối với đất Huế - cũng
như cặp chồng già ở với nhau gần măn đời -
đi ra đi vô trong một mái nhà chật hẹp, hằng
ngày cũng nh́n khuôn mặt của nhau khủng
khẳng muốn bắt gây gổ,
- “Ôn hay bà hăy đi mô khuất mắt cho tui
khỏe cái than” - ! Ấy rứa mà thử đi vài bữa
coi, chao ôi là dớ, là thương, là thiếu vắng
te te đi năn nỉ trở về thiệt tội chưa tề.
Hăy nói đúng đắn th́ phải chăng đất Huế là
một môi trường khép kín khiến con người dễ
chia xẻ với nhau một mẫu số chung về nếp
sinh hoạt, về kỷ niệm kư ức, về những nét
t́nh cảm và tư duy. Tha hương ngộ cố tri,
tha hương gặp nhau là muốn nhận” bà con Huế
ḿnh” một cách thoải mái như dân Bắc trước
đây gặp nhau, điều ǵ cũng kể lể: ngoài ta
thế nọ, ngoài ta thế kia!
Đất Huế mang một sắc thái tương phản lạ lùng:
Huế tuy rằng rất đẹp, rất thơ, rất cổ kính
và có một chiều dầy về lịch sử và văn hóa
nhưng lại giới hạn v́ diện tích sinh thái,
vốn hẹp lại càng ngày càng hẹp thêm, tài
nguyên không đủ dung dưỡng những con dân,
cọng thêm ách nước tai trời, nhân tài đào
tạo ra cũng nhiều nhưng không có môi trường
dụng vơ, thi thố, thăng tiến...như những con
rồng nằm nước cạn bị g̣ bó khó có dịp bay
bổng! Nhưng khi xa Huế th́ dân Huế lại muốn
gần nhau, muốn nhớ đến quê nghèo, càng nghèo
lại càng nhớ một cách dị hợm:
Những kỷ niệm thời xa xưa bừng dậy
Âm thanh ấy thoát từ câu mái đẩy
Tiếng “ḥ ơ”nghe đứt ruột buồn sao.
Biết mấy đau thương, cũng biết mấy ngọt ngào
Lưu luyến ngàn đời như chưa muốn dứt
(Nhớ Huế của Tô Kiều Ngân)
Không phải là chỉ dân Huế chay chính gốc có
cái nét tương phản “ ở giận đi thương” mà
ngay cả những ai ngụ cư, thậm chí những
người Pháp lai Huế bỏ Huế đi về Pháp cả gần
nửa thế kỷ cũng muốn làm một thứ tù nhân của
dĩ văng để nhớ về Huế như bà Monique
Liverset năm nay hơn thất tuần ở Paris:
Rồi một hôm, niềm mơ tôi thành sự thực:
Như lời kinh, miệng nhẩm buổi b́nh minh,
Tôi hân hoan - không trông mai chưa tới
Thích làm tù ôm ấp tuổi hoa niên
Để sống lại ân t́nh dâng đất Huế.
( - Un jour, mon rêve deviendra réalité
Comme une prière au petit matin
Ma joie n'aura pas de lendemain
Pour rester prisonnière du temps
Et revivre ce bonheur renaissant
De mon enfance près de toi: Huê!...)
Hăy nghe bà đầm lai Monique ni điện thoại
nói với Nguyễn Cúc (Tiếng sông Hương Texas)
sau khi bà gởi bài thơ Pháp “ Peut- être
des retrouvailles!” rằng :
Je les ai écrits sans aucune prétention,
mais avec mon coeur, car Hué est ma ville
natale et le Vietnam est aussi mon pays…
( Tôi làm thơ này chẳng có tham vọng chi mà
chỉ viết ra với tất cả tấm ḷng tôi, v́ Huế
là nơi tôi chào đời và Việt nam cũng là quê
hương của tôi nữa)
Các bạn nghe thấy tội chưa!
Huế chính là những trang sử dệt bằng những
đau thương của nước loạn canh tàn khóc bể
dâu, của những thiên tai. Người dân Huế
không thể không nhớ về Huế với những mắt lệ
lưng tṛng !
Trước cơn lụt Kỷ Măo vừa, “ Không Huế - cũng
mềm ḷng với Huế”, huống hồ chi là những tâm
hồn Huế chay thường đa cảm, đa sầu, thường
nhớ về quê nghèo với mắt lệ rưng rưng. Nếu
họ không làm được điều chi to tát như “cho
Huế thoát cơn nguy truyền kiếp, cho tia nắng
hồng đẹp Huế mai sau” chắc ít ra họ cũng ít
nhiều xẻ áo, nhường cơm cho bà con xứ Huế
ngơ hầu làm vơi nỗi khổ chung hiện tại!
LÊ VĂN LÂN
|
|