Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 
 

Đồ Đồng Cổ Đông Sơn 

Năm 1924, một người nông dân làng Đông Sơn đi câu cá ở hữu ngạn sông Mă trên cánh đồng đất băi chạy dài giữa sông Mă và giải núi đá vôi và phiến thạch, phát hiện một số công cụ và vũ khí cổ bằng đồng. Địa điểm này thuộc làng Đông Sơn huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa, cách thị xă Thanh Hóa 4,650m về phía Bắc - Đông bắc. Sau đó các nhà nghiên cứu đă khai quật và sưu tầm hàng trăm cổ vật thuộc nhiều loại h́nh hiện vật khác nhau: công cụ sản xuất, dụng cụ sinh hoạt, vũ khí, nhạc khí, đồ trang trí và tượng mỹ thuật. Thuật ngữ Văn hóa Đông Sơn xuất hiện và nổi tiếng từ giai đoạn này.

Tuy nhiên, hai mươi năm phát hiện văn hóa Đông Sơn, các nhà nghiên cứu người Pháp và nước ngoài chỉ mới khai quật được vài địa điểm quanh khu vực Thanh Hóa và Quảng B́nh. Do tư liệu lúc đó c̣n hạn chế, cộng với quan điểm thiên di và vay mượn chi phối nên các nhà nghiên cứu giai đoạn đầu thường cho rằng chủ nhân của văn hóa Đông Sơn không phải là cư dân bản địa mà là từ phương Bắc xuống hoặc từ phương Tây sang.

 Những thập kỷ tiếp theo, hàng trăm địa điểm thuộc văn hóa này đă được khai quật nghiên cứu; qua đó giúp ta hiểu được một quá tŕnh phát triển liên tục, nội sinh qua bốn giai đoạn phát triển: Sơ kỳ đồ đồng - giai đoạn Phùng Nguyên, cách ngày nay khoảng 4000 năm. Trung kỳ đồ đồng: giai đoạn Đồng Đậu, cách ngày nay khoảng 3300 năm đến 3500 năm.  Hậu kỳ đồ đồng: giai đoạn G̣ Mun, cách ngày nay khoảng trên dưới 3000 năm.  Cuối cùng là giai đoạn Đông Sơn thuộc sơ kỳ đồ sắt, cách ngày nay khoảng từ trên dưới 2000 năm đến 2800 năm. 

Đông Sơn là một nền nghệ thuật tạo h́nh đạt đến đỉnh cao về tạo dáng. Người cổ Đông Sơn đă tạo ra nhiều loại h́nh hiện vật phong phú, đa dạng từ công cụ, vũ khí, đồ gia dụng, đến nhạc khí, đồ trang sức và tượng nghệ thuật.  Tính đa dạng này không phải chỉ mang ư nghĩa thực dụng gắn với từng loại công việc khác nhau như lưỡi cày để xới đất, lưỡi hái và nhíp để gặt lúa, ŕu để cuốc đất, chặt cây, đóng thuyền, giũa để tu sửa khi rèn sắt, đúc đồng... mà c̣n biểu hiện ư đồ tạo dáng khác nhau phù hợp với khiếu thẩm mỹ của từng địa phương. Chẳng hạn người Việt cổ vùng thấp thích chế tạo trống đồng dáng cao, lưng thẳng; c̣n người vùng cao thích trống dáng lùn, chân thấp, lưng choăi. Người vùng đồng bằng Bắc Bộ ưa loại lưỡi cày dáng h́nh tim, tam giác, c̣n người lưu vực sông Mă (Thanh Hóa) thích lưỡi cày h́nh cánh bướm. Người Đông Sơn có khiếu thẩm mỹ rất cao. Không chỉ những loại hiện vật có kích thước lớn, có công năng quan trọng như trống, thạp, thố, b́nh... mà hầu hết cổ vật Đông Sơn từ công cụ đến vũ khí, từ dụng cụ sinh hoạt đến nhạc khí, tượng nghệ thuật... đều được trang trí nhiều loại hoa văn phong phú và tinh tế. Hoa văn trang trí trên đồ đồng Đông Sơn có thể phân ra thành hai loại cơ bản: 

           Hoa văn người, vật dùng và động vật.

           Hoa văn h́nh học: phổ biến là hoa văn chấm nhỏ thẳng hàng, vạch chéo và vạch thẳng song song, h́nh răng cưa, ṿng tṛn, h́nh chữ S. Tùy theo cách chế tác và h́nh dáng cổ vật mà những hoa văn trên được sắp sếp hài ḥa và tinh tế. Thí dụ như vẫn các loại hoa văn chấm dải, răng cưa, gạch ngắn song song, ṿng tṛn... nhưng người Đông Sơn đă bố trí rất khéo trên mặt cong của tang, lưng trống, mặt trống, lưng thạp, nắp thạp; hay ngay trên mặt một số cổ vật nhỏ như giáo, dao găm, ŕu... hoa văn cũng được bố trí rất hài ḥa tùy theo h́nh dáng của thân, mũi khác nhau. Chẳng hạn như trên chiếc ŕu xéo: ở thân ŕu có h́nh ba người trang sức lông chim đang múa, trên họng ŕu có đôi cá sấu đang giao cấu. Trang trí Đông Sơn đă gắn bó giữa dáng, hoa văn và sự chuyên môn hóa theo công năng của vật dùng. 

Đặc biệt trống đồng Đông Sơn - một nhạc khí cổ - là đỉnh cao nghệ thuật trang trí của đồ đồng thời đó. Trống Đông Sơn là một kiệt tác nghệ thuật làm say mê nhiều nhà nghiên cứu, sưu tầm trong nước và trên thế giới, là bức tranh toàn cảnh về tín ngưỡng, kiến trúc, sản xuất, chiến đấu, lễ hội... của cư dân nông nghiệp lúa nước. Nghiên cứu nghệ thuật Đông Sơn đặc biệt là trống đồng, chúng ta thấy hai xu hướng phát triển nghệ thuật tạo h́nh thời này: cách điệu hóa và đơn giăn hóa hoa văn, vạch ra mô h́nh phát triển nghệ thuật Đông Sơn từ xu hướng tả thực ở giai đoạn sớm, chuyển sang khuynh hướng cách điệu biến h́nh phức tạp, bí ẩn ở giai đoạn muộn. 

Đồ trang sức của người cổ Đông Sơn được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau như vỏ ṣ, gốm, xương thú, thủy tinh, mă năo... nhưng một trong những loại thông dụng nhất là đồng. Không thể thống kê kết các loại đồ trang sức v́ chúng rấ đa đạng. Người xưa thường trang sức ở năm bộ phận cơ thể: tai, cổ, thắt lưng, tay và chân. Ở tai có ṿng và khuyên; ở cổ có chuỗi hạt; ở tay có ṿng, nhẫn và bao tay; ở chân có ṿng và bao chân; ở lưng là khóa thắt lưng. Người Đông Sơn không chỉ đeo ṿng ở cổ tay mà c̣n đeo nhiều ṿng từ cổ tay đến cánh tay. Bất kể già trẻ, nam nữ đều thích làm đẹp bằng đồ trang sức; ở làng Vạc (Nghệ An) các nhà nghiên cứu đă phát hiện những bao tay, bao chân, nhẫn đồng có gắn nhạc; chứng tỏ trang sức đă gắn liền với âm nhạc và ca múa. 

Tượng đồng nghệ thuật Đông Sơn rất đa dạng gồm tượng người, tượng gia súc như trâu, ḅ, lợn, gà, vịt, chó; các loài vật nhỏ như chim, cóc, nhái, rùa, rắn; các loài thú lớn như voi, hươu, hổ, báo. Tượng Đông Sơn đa số là tượng trang trí gắn trên hiện vật, c̣n tượng rời th́ ít. Tượng thường được gắn trên cán dao găm, cán muôi, ṿi ấm, mặt trống, nắp thạp hoặc dùng làm chân đèn... Nh́n chung tượng Đông Sơn có kích thước nhỏ hoặc rất nhỏ dùng làm đồ chơi, vật thiêng hoặc con giống. Tượng Đông Sơn mang phong cách tả thực, hồn nhiên, biểu cảm; chẳng hạn như tượng hai người cơng nhau nhảy múa, tượng người trên cán muôi Việt Khê đang thổi khèn, tượng người trên cán dao găm... Về cách thể hiện, nghệ thuật tạc tượng cũng mang tính chất nhịp điệu, đối xứng như trang trí hoa văn; thí dụ như cảnh hổ vồ mồi, cảnh nam nữ yêu nhau trên nắp thạp Đào Thịnh... đều được bố trí đối xứng qua tâm của nắp thạp, mặt trống.

Nh́n lại chặng đường dài phát triển của nghệ thuật tạo h́nh Đông Sơn, chúng ta rút ra mấy nét tổng quát như sau:

Một là, thành tựu lớn nhất của giới nghiên cứu khảo cổ học và mỹ thuật cổ là đă khẳng định được nghệ thuật Đông Sơn là một nền nghệ thuật bản điạ thuần Việt Phi Hoa, Phi Ấn. Nền nghệ thuật này không phải thiên di từ Trung Quốc xuống hay từ Bắc Ấn sang; nó được phát triển liên tục suốt hơn ngàn năm. Tuy nhiên nền nghệ thuật Đông Sơn này không hề đóng kín, mà là nền Nghệ thuật mở, giao lưu nhiều với các nền nghệ thuật đồng đạo chẳng hạn trống đồng Đông Sơn đă giao lưu đến khu vực trống đồng ở Hoa Nam, Đông Nam Á lục điạ và Đông Nam Á  hải đảo. Ngược lại nghệ thuật tượng tṛn của người Điền ở Vân Nam (Trung Quốc) đă ảnh hưởng đến tượng tṛn Đông Sơn. Một số yếu tố của các nền nghệ thuật đương thời Đông Nam Á cũng ảnh hưởng đến nghệ thuật Đông Sơn tùy mức độ đậm nhạt khác nhau (Trích từ Vài nét về giao lưu văn hóa thời đaị kim khí trong bối cảnh lịch sử Đông Nam Á của Trịnh Sinh - Tạp chí khảo cổ học số 3-1979).

Hai là, đặc điểm nổi bật nhất của nghệ thuật tạo h́nh Đông Sơn là h́nh tượng của con người chiếm vị trí chủ đạo trong thế giới muôn loài. Con người luôn hài ḥa với thiên nhiên, với mọi vật nhưng luôn là trung tâm của thế giới. Con người đang lao động như đánh cá, săn bắn; đang vui chơi giải trí như ca hát, nhảy múa, đánh trống, thổi khèn; đang chơi thể thao như bơi lội hay đang cầm chắt vũ khí bảo vệ làng bản quê hương. Đó là những con người b́nh dị, thuần hậu, chất phát, hiền ḥa chứa đựng tính nhân bản sâu sắc. Cảnh vật quanh người cũng rất dể thương, dể mến như những nhà sàn mái cong đơn sơ, những con thuyền đang lướt sóng, những con c̣ bay lả bay la, những đàn cá lội tung tăng, những cặp ḅ đực ḅ cái, hươu đực hươu cái xen kẽ, những đôi chim trống chim mái, những đôi cá sấu đang giao cấu, bên những cặp trai gái đang yêu nhau... phản ánh tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp lúa nước, ước mong cuộc sống ḥa b́nh hạnh phúc. 

Ba là, về thủ pháp nghệ thuật, người cổ Đông Sơn miêu tả theo lối bổ nghiêng từ h́nh người múa, h́nh chim, hươu, ḅ... đều vẻ từ cách nh́n một phía chứ không nh́n thẳng mặt. Thí dụ như h́nh người múa trên mặt trống đồng được vẻ theo lối ngực nh́n thẳng, c̣n chân và đầu th́ theo lối nh́n nghiêng. H́nh chim bay từ chân, cánh và đuôi nh́n từ trên xuống, c̣n đầu th́ theo lối nh́n nghiêng. Phong cách miêu tả này dường như là cách nh́n mọi vật từ nhiều phía trong không gian mà ta thường gặp trong các nền nghệ thuật cổ đại Ai Cập, Lưỡng Hà... ở đây thế giới được thể hiện như một không gian khép kín.

Người cổ Đông Sơn c̣n dùng thủ pháp ước lệ: h́nh ngôi nhà sàn mái rủ sát đất trên mặt trống đồng Ngọc Lũ, nhưng họ cũng không quên khắc cả những con người đang sinh hoạt trong nhà theo trí tưởng tượng của họ.

Tóm lại, Đông Sơn không những là một nền nghệ thuật tạo h́nh lâu đời, một nền nghệ thuật bản địa có bản sắc riêng, khác với các nền nghệ thuật láng giềng đồng đạo mà c̣n là đỉnh cao nghệ thuật làm say mê nhiều nhà nghiên cứu, sưu tầm trong nước và trên thế giới.  Đó là niềm tự hào của chúng ta những con Lạc cháu Hồng.

Nhà nghiên cứu Mỹ thuật Nguyễn Văn Huyên

Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam - VietAntique.com

 

 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 04/17/15