Sơ-Lược Hải-Sử Nước Ta:
Hải-Quân và nếp sống Thủy-sinh
trong dòng sinh-mệnh dân-tộc
Hải-Sử dân ta không
những dài như trường-giang, rộng tựa đại-dương mà đã khởi đi từ sáu bảy
chục ngàn năm về trước.
Vũ Hữu San
Sử-ký ở nước ta
Cụ Lệ-thần Trần-Trọng-Kim viết trong
phần Tựa của cuốn "Việt-Nam Sử-Lược," quyển 1 như sau:
"Chủ-đích (của việc ghi chép Sử) là để
làm một cái gương chung-cổ cho ngư(c)i cả nước được đời đời soi vào đấy
mà biết cái sinh-họat của người trước đã phải lao-tâm lao-lực những thế
nào, mới chiếm giữ được cái địa-vị ở dưới bóng mặt trời này. Người trong
nước có thông-hiểu những sự-tích nước mình mới có lòng yêu nước yêu nhà,
mới biết cố gắng học-hành, hết sức làm-lụng, để vun-đắp thêm vào cái nền
xã-hội của tiên-tổ đã xây-dựng nên mà để lại cho mình ..."
Chủ-đích của vị Sử-gia tăm-tiếng họ Trần
cũng là niềm mong ước của mọi người chúng ta khi đọc Việt-Sử. Tuy thế
người lính thủy hay người thường-dân hành thủy hay cả những người yêu
sông nước, biển cả - muốn thông-hiểu sự-tích nước mình, dân mình liên-hệ
ra sao với sinh-hoạt nước - lại không được cái may mắn như vậy. Cầm cuốn
Sử nước ta lên mà xem cho hết, người đọc chỉ thấy các sinh-hoạt quá-khứ
của tiền-nhân ở trên đất, trên bờ; tương-tự như trong những cuốn sách
sử-ký của các dân-tộc khác nằm trong lục-địa.
Sử-gia Trần-Trọng-Kim nhận-xét về chuyện
"Sử nước ta được chép theo lối sử Tàu" một cách xác-đáng như sau: "Cái
lối làm sử của ta theo lối biên-niên của Tàu, nghiã là năm nào tháng nào
có chuyện gì quan-trọng thì nhà làm sử chép vào sách. Mà chép một cách
rất vắn tắt cốt để ghi lấy chuyện ấy mà thôi, chứ không giải-thích cái
gốc-ngọn và sự liên-can việc ấy với việc khác là thế nào." Vì thế,
sinh-hoạt thực-sự của đại-đa-số dân-chúng không được nói đến trong
Việt-sử.
Donald Worster đã một lần chê trách các
nhà viết sử. Chúng ta cũng có thể bắt chước Ông mà phát-biểu một câu
"nhẹ-nhàng" như sau: "Viết sử mà không có nước ở trong, đó là một thiếu
sót lớn. Kinh-nghiệm nhân-loại (và đặc-biệt là của nguời "nước" ta) đâu
có khô khan đến như vậy!"
Cách ghi chép chính-sử là như vậy. Tuy
nhiên may mắn hơn cho dân ta, những sinh-hoạt thủy-sinh được kể lại khá
nhiều qua dã-sử, cổ-tích và thần-thoại. Ngoài ra trong một số sách
cổ-văn hiếm hoi, ta cũng thấy người xưa ghi-nhận được những sinh-hoạt.
Sách Tàu cũng nói "Người Việt-cổ sinh hoạt dưới nước nhiều hơn ở trên
cạn nên bơi lội rất giỏi, biết làm các thứ thuyền nhỏ là Linh và thứ
thuyền nhỏ thân dài là Đĩnh, thuyền lớn gọi là Tu-lự, thuyền có lầu tức
Lâu-thuyền và thứ thuyền có gắn mũi qua tức là Qua-thuyền... Theo
Hoài-Nam-Vương Lưu-An đời Hán, thì người Việt rất thạo thủy-chiến, rất
quen dùng thuyền, ở trên cạn ít mà ở dưới nước nhiều. Họ cắt tóc, xâm
mình, đóng khố ngắn để tiện bơi lội, tay áo cộc để tiện chèo thuyền."
Hồn "Nước" dựng nước Việt-Nam
Biển Đông bao quanh một nửa đất nước
chúng ta. Theo Bernard Philippe Groslier, biển cả đã gợi ra trong trí óc
người dân Đông-Dương cái ấn-tượng về nguồn gốc của muôn loài, một
tâm-tưởng đến cả thế-giới trước khi khai-thiên lập-địa và cũng là nơi
quê-hương cho người chết (tổ-tiên) trở về.
Mỗi khi đề-cập đến đất nước quê-hương,
mọi người Việt chúng ta đều có một ý-thức sâu xa về "hồn nước
linh-thiêng". Một học-giả ngoại-quốc, Tiến-sĩ Keith Weller Taylor có lẽ
là người đầu-tiên nhận ra điều này. Ông phân-tích chính-xác nhiều điều
về tính-thần tự-chủ của dân Việt-Nam rất đúng. Taylor cho rằng: "Nước
(Water) có hồn nước (Aquatic Spirit) linh-thiêng, có năng-lực tạo dựng
nên dân-tộc, nên nước Việt-Nam chính-thống..." Chúng tôi rất thích
đoạn-văn của Ông, tuy ngắn gọn nhưng ý-tứ uyên-bác, khó dịch sao cho
chính-xác được. Vậy xin chép lại nguyên-văn như sau: "The idea of an
aquatic spirit's being the source of political power and legitimacy,
which attended the formation of the Vietnamese people in prehistoric
times, is the earliest hint of the concept of the Vietnamese as a
distinct and self-conscious people".
Hải-Sử, nơi chất chứa những
(truyền-thống) cực kỳ quan-yếu của dân-tộc
Tại các nước Âu-Mỹ, Hải-sử (Maritime
History) là một ngành khoa-học được khai-sinh từ lâu. Nhưng ở xứ ta,
danh-từ "Hải-sử" ít khi được nghe nói tới, và cũng chưa có một cuốn Sử
nào ghi chép thuần các sinh-hoạt thủy-sinh. Tuy vậy nếu xét cho kỹ,
chúng ta thấy rằng Hải-Sử đúng là nơi cần-thiết cho việc ghi chép các
thành-tích lẫy-lừng và truyền-thống cực-kỳ quan-yếu của dân-tộc.
Một phần của bài viết, phần "Tiền
Hải-Sử" Việt-Nam mà chúng tôi trình-bày tiếp đây là những kiến-thức mới
mẻ. Nhờ tiến-bộ trong nhiều ngành khoa-học, ngày nay nhân-loại hiểu biết
nhiều hơn về quá-khứ. Tuy một số chi-tiết nhỏ còn là giả-thuyết, nhưng
nói một cách tổng-quát, có nhiều nét độc-đáo về sinh-hoạt nước của
tiền-nhân chúng ta đáng nói và đã có nhiều học-giả quốc-tế đổ xô đến
nghiên-cứu.
Không ở một nơi nào khác trên địa-cầu,
Khoa Tiền-hải-sử có nhiều vấn-đề cần tìm hiểu như tại khu-vực Biển Đông.
Riêng với dân-tộc Việt-Nam, Tiền-hải-sử
phải được coi là một ngành học quan-trọng vì nhiều lý-do sau đây:
- Truyền-thống hàng-hải lâu đời của
dân-tộc hiện-diện trong mọi sinh-hoạt dân-tộc.
- Bờ biển Việt-Nam và Hoa-Nam từ xưa đến
nay chính là nơi quy-tụ nhiều kiểu ghe thuyền phong-phú hơn bất cứ nơi
nào khác trên thế-giới. Kiến-trúc tàu bè Việt-Nam rất độc-đáo và đã đạt
đến trình-độ kỹ-thuật cao ngay từ cổ-thời. Clinton Edwards cho rằng
những Người Biển (Orang Laut) ở Đông-Nam-Á thuộc những bộ-lạc Hải-du
(Sea nomads) phát-triển truyền-thống hàng-hải trước khi chính họ mở mang
nông-nghiệp.
- Những nền văn-minh "nước" từ Hoà-Bình
đến Đông-Sơn xuất-hiện liên-tục trong tiến-trình sinh-hoạt văn-hoá của
người Việt-Nam. Nền văn-minh Hoà-Bình đã tiến-triển trong khoảng
thời-gian 9,000- 5,600 năm TTL., chuyển sang Bắc-Sơn 8,300-5,900 năm
TTL., liên-tục qua nhiều nền văn-minh; sau này tới thời Đồ Đồng của
Phùng-Nguyên 3,000-1500 năm TTL., rồi Đông-Sơn 500 năm TTL., rõ ràng
nhuốm mầu sắc hàng-hải."
- Theo Bernard Philippe Groslier, và
dân-cư Đông-Dương (trong đó đại-biểu chính là Việt-Nam) đã đóng vai trò
quan-trọng trong vùng Đông-Nam-Á. Cho dù Java có thể là nơi con người
xuất-hiện trước hết, nhưng Đông-Dương luôn luôn là cái kho chứa nhân-lực
mà từ đó gửi đi khai-hoá khắp vùng.
- Wilhelm G. Solheim II viết rằng:
�nh-hưởng của văn-minh Hoà-Bình tạo-lập lên các nền văn-minh Yangshao
(Ngưỡng-Thiều, miền bắc Trung-Hoa.) và cả nền văn-minh Lungshan
(Long-Sơn) cũng từ phiá Nam đem lại.
Solheim còn đi xa hơn nữa, Ông cho rằng
Đông-Nam-Á thời cổ chính là nơi phát-sinh những đường hàng-hải giao-tiếp
với khắp các nơi ở dọc bờ biển Á-Châu, Âu-Châu, Phi-Châu, Đại-Dương-Châu
và ở cả Mỹ-Châu. Solheim lý-luận rằng chỉ có sự kiện Đông-Nam-Á giữ
vai-trò trung-tâm phân-tán như trục một cái bánh xe toẻ ra khắp phía,
người ta mới giải thích được hiện-tượng lịch-sử là tại sao các chủng-tộc
khác biệt của loài người sống xa cách nhau trên khắp thế-giới lại có
nhiều sự tương-đồng giữa những sinh-hoạt văn-hoá như vậy.
Bài viết này nằm trong chủ-đề "Hải-Sử",
chúng tôi xin trình-bày về những sinh-hoạt thủy-sinh của dân ta trên
sông nước (thủy), biển Đông (hải) và ngoài Đại-(dương). Đặc-biệt,
hoạt-động Thủy, Hải, (Tuần-) Dương-quân đươc đặc-biệt kể đến như là
những thành-tích cực-kỳ quan-trọng trong dòng sinh-mệnh của dân-tộc.
Những Thuyền-nhân Đầu-tiên của
Nhân-loại
Trước hết, ta phải kể đến vấn-đề thật
cổ-kính của thời-gian mà ít ai tưởng-tượng nổi. Phải có một thứ
"văn-minh nước" nào đó đã xuất-hiện từ lâu tại vùng đồng-bằng Sunda.
Kỹ-thuật thuyền bè của dân-cư Biển Đông đủ tiến-bộ để giúp di-dân đường
biển từ Đông-Nam-Á sang Úc-Châu từ 60,000 năm trước. Chứng-cớ hiển-nhiên
này không những đã được những nhà Úc-Châu-học công-nhận, mà các
khoa-học-gia mọi ngành khoa-học khác cũng đồng-ý.
Văn-minh Nước thời Băng-Đá
Trong khoảng 60,000 năm cho đến nay,
Trái Đất trải qua nhiều giai-đoạn nóng và lạnh chen kẽ nhau. Mực nước
biển đã dâng lên hạ xuống nhiều lần, sự sai-biệt có tới 150m. Cách nay
chừng 18,000 năm, diện-tích Biển Đông chỉ bằng phân nửa hiện nay. Khi
băng đá hai cực địa-cầu tan rã thì nước biển dâng lên nhanh. Cho đến
khoảng 4,000 năm trước Tây-lịch (TTL), hàng trăm ngàn dậm vuông lục-địa
đã bị ngập dưới Biển Đông. Vì diện-tích đất đai bị suy-giảm nên mật-độ
dân-số gia-tăng. Nhiều sự tiếp-xúc, trao đổi, va chạm giữa những giống
người khác nhau đã xảy ra. Lúc xưa dân-cư sống rải rác khắp nơi trong
vùng đất thấp rộng lớn Sunda, nay cùng gặp nhau trong một môi-trường
sinh-hoạt mới vùng đồi núi. Tiến-bộ khởi-sự từ đó.
Theo ý-kiến của một số nhà khảo-cổ, khi
nước ngập nơi cư-trú, dân-chúng từ vùng Sunda (kể cả Hoàng-Sa,
Trường-Sa) đã chạy lên các vùng cao. Học-giả Thái-Lan Sumet Jumsai cho
hay vào khoảng 16,000 năm trước đây, khi mực nước biển dâng lên nhanh
thì số lớn dân-cư đã di-chuyển về khu-vực phía Bắc của Biển Đông. Có lẽ
vì nhờ tập-trung nhiều nhân-lực, văn-minh Hoà-Bình bộc-phát. Peter
Bellwood tường-trình công-trình chinh-phục Thái-Bình-Dương của dân-cư
Hoà-Bình (Hoabinhians) trong cuốn sách nổi-danh của ông, cuốn "Man's
Conquest of the Pacific"
Chester Norman cho rằng vịnh Bắc-phần và
vịnh Thái-Lan mà lúc trước là hai vùng đồng-bằng trũng và cạn, nay biến
thành hai vịnh biển mới. Văn-minh Hòa-Bình được tạo-dựng trong thời-gian
thềm lục-địa Sunda bị ngập nước. Người ta phải di-chuyển đi khai-phá
đồng-bằng. Yếu-tố quan-trọng nhất của đà phát-triển là sự ra đời của các
giống cây cho hạt. Những loại ngũ-cốc thuần-hóa sau này thích-hợp cho
ruộng nước. Khoảng 5,500 năm trước, cây lúa nước đã được trồng trọt.
Sinh-hoạt Biển Đông thời hậu Băng-Đá
Theo những ghi-nhận của ngành
Địa-Chất-học, vào thời xa xưa, khoảng 16,000 năm trước, nuớc đại-đương
dâng cao với đà gia-tăng nhanh nhất. Tại vùng Biển Đông vào thời Hău
Băng-Đá, sự thay đổi của địa-thế rất mãnh-liệt. Những thay đổi đĩa-thế
đã lôi-cuốn theo những thay đổi lớn về môi-sinh con người. Sự tiến-bộ
vượt bực của văn-hoá người Việt (Yủeh) trong bối-cảnh bể dâu đó đã được
William Meacham nghiên-cứu và trình-bày trong một bài viết rất nổi-tếng
của Ông, nhan-đề "Origins and Development of the Yủeh Coastal Neolithic:
A Microcosm of Culture Change on the Mainland of East Asia".
Một số kết-quả khảo-cứu trực-tiếp
liên-hệ đến sinh-hoạt thủy-sinh như sau:
- Vì nguồn gốc và địa-bàn riêng biệt,
sinh-hoạt người Việt ở duyên-hải khác-biệt với người Tàu ở Trung-thổ.
Không thể nào vì thấy một vài ảnh-hưởng văn-hoá giống nhau mà người ta
có thể coi dân Bách-Viêt như một thứ dân Tàu được. Nhiều chúng-cớ cho
hay là loài người dã có mặt trên Sunda Land mười mấy ngàn năm trước.
Những đồng-bằng thấp, được gọi tên chung là Sunda Land đó, nằm ngoài
Biển Đông ngày nay đã hoàn-toàn bị ngập nước. Những dân-cư thời đó chính
là tiền-nhân người (Bách-) Việt sau này. Họ sinh sống bằng cách thu-nhặt
hải-sản như tôm cua, hào nghêu... , săn bát tôm cá ngoài hồ, ao, sông,
biển. Trong khoảng từ 15,000 năm đến 4,000 năm trước đây, nước biển dâng
lên, làm thay đổi môi-trường sinh-hoạt và tạo nên sự dồn ép mật-độ
dân-số.
- Văn-minh Hoà-Bình xuất-hiện 11,000 -
7,600 trước đây, văn-minh Bắc-Sơn, khoảng 8,300 - 5,900 năm trước
Tây-Lịch (TTL.).
- Bè tre và có thể cả loại ghe thuyền
sơ-đảng được dùng khắp nơi, 10,000 năm TTL.
Người Việt và những Phát-minh thiết-yếu
đóng góp cho Nhân-loại
Trái đất chúng ta đang ở có tới gần ba
phần tư bề mặt che phủ bởi nước. Các nhà văn-minh-học đều đồng-ý rằng
văn-minh loài người tiến-triển được là nhờ sự chuyển-vận.
Các sách Bách-Khoa Từ-Điển đồng-ý rằng
cho đến ngày nay, chuyển-vận đường thủy vẫn quan-trọng hơn đường bộ và
đường hàng-không. Nếu so với sự phát-triển đường biển thì "chuyển-vận
trên đất liền phát-triển với một mức-độ chậm chạp hơn nhiều... Sự
chuyển-vận đường bộ được cải-thiện rất ít cho mãi tới năm 1825, khi
kỹ-sư người Anh George Stephenson áp-dụng máy hơi nước để chạy một đầu
máy xe lửa ...
Sinh-hoạt trên địa-bàn "Nước", dân Việt
là tác-giả hầu hết những phát-minh thiết-yếu về đường thủy. Bè, thuyền
độc-mộc, mái chèo, cánh buồm, bánh lái, thuyền nhiều thân (outriggers)
cây xiếm ... là những công-trình sáng-tạo mà tiền-nhân ta đóng góp cho
sự tiến-bộ của nhân-loại.
Về đẩy thuyền (propulsion), kể từ việc
dùng bè thả trôi cho đến cả kỹ-thuật cao như việc đi ngược gió hay lái
thuyền tự-động cũng đều do tiền-nhân chúng ta tạo-dựng. Thành-quả đáng
kể nhất có lẽ là cách sử-dụng phối-hợp tài-tình hai hệ-thống buồm và
xiếm. Nhờ vậy, một số loại ghe thuyền ở Việt-Nam có thể tự nó lái lấy và
giữ hướng đi trong nhiều ngày dài, không cần phải sửa đổi tay lái.
Người Việt "vượt" từ Ngư-nghiệp sang
thẳng Nông-nghiệp
Sau khi duyệt-xét lại những biến-chuyển
về địa-thế bờ biển Đông-Á vào khoảng thời-gian từ 15,000 năm TTL. đến
4,000 TTL., nhà địa-lý-học Carl Sauer đi đến kết-luận: Đông-Nam-Á là nơi
khởi-sự nông-nghiệp.
Theo một số học-giả Việt-Nam, danh-tự
"Việt" có nghiã là tiến lên, vượt trội lên... Tính kiên-quyết của dân ta
vượt mọi khó khăn trở ngại biểu-lộ ngay từ trong những ngày đầu
sinh-hoạt. Nhà địa-lý-học Carl Sauer đã đề-cao tinh-thần tiến-bộ của
dân-cư giống Việt (Yủeh) vào giai-đoạn khởi-nguyên nền văn-hoá Hoà-Bình
ở vùng đất "Sunda -Hoà Bình" như sau: "Mực nước biển dâng cao làm tăng
thêm nhịp bồi đắp phù-sa lên những khu thung-lũng duyên-hà trong khi các
vùng đất thấp tiếp-tục bị ngập lụt. Dân-cư khi xưa ở rải rác thì lúc này
thu lại thành các vùng cư-trú dọc theo những nguồn nước... Một thế-giới
mới đã thành hình, sự thay đổi môi-trường vật-lý địa-dư đã trở thành
cơ-hội thuận-tiện tối-đa cho những dân thích phiêu-lưu và mong
tiến-bộ... Người dân bỏ sự nhàn rỗi và nhờ trí óc tò mò để tìm
thử-nghiệm, một cộng-đồng như vậy chỉ cần một thời-gian ngắn để
chuyển-tiếp từ ngư-nghiệp sang thẳng nông-nghiệp."
Người Việt Nông-nghiệp và Thương-Mại
Trong sinh-hoạt nông-nghiệp, người ta
thường chia người Đông-Nam-Á làm hai loại: dân miền cao và dân miền
xuôi. Dân miền cao trồng các loại hoa màu hợp cho vùng đất khô ráo. Dân
miền xuôi canh-tác lúa nước, cần dẫn nước vào ruộng. Phải cần kỹ-thuật
cao và có tổ-chức điều-hành tốt thì số lượng thực-phẩm sản-xuất mới
gia-tăng.
Xã-hội miền xuôi lại có thể phân-biệt
thành hai thành-phần: là nông-dân và thương-gia. Đạc-điểm sinh-hoạt này
được Donald G. McCloud trình-bày. Ông viết rằng: Dân-cư đồng bằng có hai
nghề canh-nông và thương-mại, tức là cầy bừa ruộng nương và buôn bán
viễn-dương. Nhóm hải-hành viễn-dương trao đổi hàng-hoá có nhiều cơ-hội
trở nên giàu sang và thường nắm giữ thế-lực chính-trị. Nếu thế xã-hội
Việt ngày xưa, rất có thể chỉ gồm hai giới Nông và Công
Khi xem xét tình-trạng Đông-Nam-Á từ
thế-kỷ thư 9 đến 14, các nhà nghiên-cứu hợp-biên một sộ sách nhan đề:
"Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries," (edited by David G. Marr
and A. C. Milner), Institute of Southeast Asian Studies, Singapore,
phát-hành năm 1986. Các báo-cáo của nhóm này cho thấy xã-hội Đại-Việt
vẫn còn mang nhiều nét văn-hoá địa-phương Đông-Nam-Á hơn là văn-hoá
Trung-Hoa. Hệ-thống xã-hội "Sĩ Nông Công Thương" mới thành-hình khi nước
ta nhiễm cái ảnh-hưởng văn-hoá Trung-Hoa một cách nặng-nề mà thôi.
Người Tàu lúc xưa rất run sợ trước những
chuyến hải-hành xuyên-dương như: phải đi tàu Man, sợ cướp, sợ bị giết,
sợ chết đuối, sợ xa nhà nhiều năm... Trong khi đó, sách sử Trung-Hoa ghi
chép nhiều chi-tiết về hoạt-động thương mại của người Bách-Việt.
Sinh-hoạt của những thương-gia Việt giầu có kiểu "phú-gia địch-quốc" nhờ
thương-mại viễn-duyên được ghi lại khá nhiều. Theo học-giả Sterling
Seagrave thì những người Trung-Hoa trong nước và hải-ngoại giầu có ngày
nay là nhờ đươc thừa-hưởng truyền-thống thương-mại từ người Việt thời
chiến-quốc. Seagrave không ngại-ngần, đã sử-dụng những "chữ lớn" như
Roots (gốc rẽ), Children of Yueh (con cháu người Việt) để đề-cập đến
nhiều nhân-vật kim cổ nổi danh như vậy.
Địa-bàn Cư-trú của Tổ-tiên và Nhu-cầu
của Quân Thủy
Địa-bàn cư-trú chủ-yếu của tổ-tiên ta là
khu-vực mới được phù-sa sông Hồng, sông Mã bồi đắp. Vùng đất này nằm
giữa một bên là núi cao, một bên là biển cả.
Địa-bàn sinh-hoạt thời cổ cũng là nơi
giao-tiếp giữa hai môi-trường: núi và biển. Có hai đặc-điểm nổi bật lên
như sau:
- Hệ-thống sông ngòi thoát nước dày đặc,
có hình-dạng nan quạt ở đầu thượng nguồn.
- Mưa lũ hàng năm tràn lan khắp nơi.
Nước chảy đến mấy chỗ trũng, tạo ra vô số đầm lầy, hồ ao chi chít.
Địa-hình tạo nên một 'thế-giới nước'
tác-động trực-tiếp đến cuộc sống hàng ngày của người Việt cổ. Các
di-tích khảo-cổ cho chúng ta biết rằng tất cả các địa-điểm cư-trú đều
nằm trên các gò bãi. Có thể nói nước bao quanh làng xã Viêt-Nam. Nước
tạo nên biên-giới thiên-nhiên chia cắt từng vùng đất. Nước là môi-trường
sinh-sống của người Viêt-Nam.
Từ lâu, khái-niệm về quê-hương, xứ sở,
về lãnh-thổ, tổ-quốc đã được tổ-tiên ta thể-hiện bằng tên của môi-trường
gắn chặt với cuộc sống của mình: Nước !
Phương-tiện di-chuyển chính-yếu của
người dân Việt thời cổ suốt mấy chục ngàn năm là thuyền bè. Ngay khi một
tập-hợp võ-trang nào đó được hình-thành, thuyền bè đương-nhiên trở nên
phương-tiện đầu tiên và căn-bản của các cuộc hành-quân. Những trang-bị
trên thuyền lập tức biến thành khí-cụ cơ-hữu của quân thủy.
Những người lính Việt đầu tiên của
quân-ngũ có lẽ không mang nặng nhiệm-vụ bảo-vệ "diện-địa". Những
quân-nhân này nằm lòng phần trọng-trách giữ an-ninh "đường thủy" nhiều
hơn. Từ-ngữ "giữ nước" có thể đã ghi lại dấu vết rằng "các người lính
đầu tiên phục-vụ dưới cờ nước ta là những người lính thủy".
Có nhiều lý-lẽ tạo nên sự tin-tưởng rằng
Thủy-quân của ta ra đời trước Lục-quân.
Huyền-sử "Nước" và Thần-thoại Dân-tộc
Các truyền-thuyết xưa nhất của dân-tộc
đều là những truyện cổ-tích mà nội-dung có gốc rễ sâu đậm về hàng-hải.
Xin lược-kê một số nhỏ như sau:
- Dân ta khởi đi từ Động-Đình-Hồ, dòng
dõi Long-Quân với các vua Kinh-Dương-Vương, Lạc-Long-Quân.
- Bọc trăm trứng sinh trăm con: 50 con
lên núi, 50 con xuống biển.
- Người Văn-Lang làm nghề chài lưới, vua
bắt dân lấy chàm vẽ mình để thuồng luồng tưởng rằng đồng-loại mà không
làm hại.
- Thuyền của dân ta vẽ hai con mắt, có ý
để cho các thủy-quái ở sông, ở bể không quấy-nhiễu đến.
- Truyện Thủy-tinh đánh nhau với
Sơn-Tinh...
Bàn về danh-hiệu của Kinh-Dương Vương và
Lạc-Long Quân ta không thể quên chữ Kinh tức là đất Kinh và Dương là đất
Dương, hai châu thuộc địa-bàn của giống Giao-Chỉ chúng ta. Với chữ
Lạc-Long Quân cũng vậy. Danh-hiệu này chỉ có nghiã là vua của giống
Lạc-Long cũng như Kinh-Dương Vương là vua miền châu Kinh, châu Dương.
Lạc-Long Quân lấy Âu-Cơ tức nàng con gái đất Âu. Chữ Âu là tên một con
sông nước Việt (Chiết-Giang) ngày nay vẫn còn. Nó nhắc chữ Âu-Lạc,
Âu-Việt, Đông-Âu, Tây Âu ... Tất cả địa-đanh đều ở miền Biển, chằng chịt
nhiều sông hồ.
Huyền-sử nước ta đưa ra nhiều hình-ảnh
về những chuyến di-dân từ Biển Đông vào cư-trú dọc duyên-hải, chẳng hạn
như các chuyện sau đây:
Truyện Lạc-Long-Quân kể rằng: Ông vua
Rồng này có quê Mẹ từ ngoài biển cả đi vào, giúp dân trừ yêu-quái trên
đất liền, dạy dân cách trồng lúa để ăn, may quần áo để mặc. Sau này dù
Lạc-Long-Quân đã bắt cóc và lấy Âu-Cơ thuộc giống tiên làm vợ, nhưng ông
thường trở về lại Thủy-Cung.
Huyền-thoại Sơn-tinh Thủy-tinh làm chứng
cho giai-đoạn giao-tiếp giữa những "người đường biển" và những "người
đường cao". Cảnh-trí tuy ghi lại từ thời những Vua Hùng dựng nước, nhưng
chứng-tích khảo-cổ lại tiết-lộ rằng thời-gian đã có thể xảy ra từ hàng
chục ngàn năm trước.
Thần-thoại "Ông Thần Độc-Cước" vùng Sầm
Sơn, Thanh-Hoá cũng vậy. Vị thần loại-trừ bọn cướp từ biển vào, toán
giặc từ núi xuống, giữ cho dân vùng duyên-hải được yên ổn làm ăn.
Hình-bóng Thần-kỳ của Hải-quân
Truyện Sơn-tinh Thủy-tinh làm chứng cho
giai-đoạn giao-tiếp giữa những "người đường biển" và những "người đường
cao". Huyền-thoại được kể như ghi lại trong thời những Vua Hùng dựng
nước, nhưng chứng-tích khảo-cổ lại có thể tiết-lộ khác-biệt: thời-gian
hai sinh-hoạt của cư-dân từ Biển Đông đi lên và từ Núi Rừng đi xuống,
giao-tiếp nhau đã xảy ra từ hàng chục ngàn năm trước. Và cũng có thể là
... tiền-thân của những người chiến-sĩ biển đã xuất-hiện qua vai trò
Thủy-Tinh
Trong giai-đoạn sáu chục ngàn năm, tính
từ các chuyến đi Úc của người Đông-Nam-Á đến khi Vua Hùng dựng nước
Văn-Lang, chắc chắn đã có nhiều tổ-chức hay lực-lượng trên Biển Đông của
dân ta được thành-lập. Trong sứ-mạng bảo-vệ các hoạt-động thủy-sinh cho
đồng-bào, những tổ-chức quân thủy này chắc chắn là các nhóm võ-trang
đầu-tiên của nhân-loại chiến-đấu trên mặt nước.
Sinh-hoạt trong môi-trường "nước Biển
Đông", quân thủy của ta ngay từ những ngày đầu đã là hải-quân nước xanh
thuần-tuý. Ý-tưởng "Nước Nâu trước, Nước Xanh sau" của Đại-tá Thủy-Quân
Lục-Chiến Mỹ chỉ đúng cho các khu-vực ngoài Đông-Nam-Á mà thôi.
Vua Hồng Lạc (Bua, Bố Rồng) từ biển vào
bờ, định-quốc an-dân, mang hình-ảnh hào-hùng của một vị Tổ tiên-khởi
Hải-quân ngày nay. Theo ý ông Trần-Quốc-Vượng, Lạc-Long-Quân là vị
anh-hùng văn-hoá lớn nhất của Thần-thoại Việt-Nam, từ biển tới, từ sông
lên, diệt "Ngư-tinh", "Mộc-tinh", "Hồ-tinh", khai-sáng miền châu-thổ
sông Hồng. Lạc-Long-Quân cũng là vị anh-hùng văn-hoá đầu tiên chống sự
xâm-lấn của phương Bắc (Đế-Lai), bảo hộ lãnh-thổ riêng cho con cháu dựng
nước..."
Những Đường Thuyền-nhân Di-tản
Dân Việt là giống dân bản-địa của Biển
Đông. Tuy yêu quê-hương, nhưng cũng có ngườI vì hoàn-cảnh ngặt nghèo mà
phải ly-hương.
Di-cư đường biển là đề-tài đã được nhiều
học-giả nghiên-cứu. Elden Best tìm ra nhiều nguyên-nhân đã khiến người
ta phải rời bỏ quê-hương đi xa. Trường-hợp "Thuyền-nhân Việt ly-hương"
ngày nay và 4,000 năm trước, cũng nằm trong những lý-lẽ tương-tự.
Học-giả Mỹ Stephen C. Jett có cùng
ý-kiến với Elden Best, nhận thấy nhiều chứng-tích rằng người tị-nạn cũng
thực-hiện những chuyến xuyên Thái-Bình-Dương. Các áp-lực của dân Tàu tại
vùng Đông-Á, những sự bành-trướng lãnh-thổ của nước Trung-Hoa đã tạo nên
nhiền đợt di-dân đông đảo đi về Nam, chạy ra các đảo, và lang bạt ra xa
cho tới tận Phi-Châu và Mã-Đảo. Jett cũng như nhiều nhà khảo-cứu
tiếng-tăm khác cho rằng nhiều ít phải có những nhóm di-tản đã vượt
đại-dương qua Mỹ-Châu.
Một số Học-giả tiền-tiến người Trung-Hoa
cũng nhận thấy rằng dân Bách-Việt đã tới Mỹ-Châu. Theo Paul Shao, tuy
người ta thấy có dấu-vết văn-minh Trung-Hoa trên đất Mỹ nhưng những
di-dân Á-Đông mang văn-minh đi truyền-bá phần lớn lại không phải người
Trung-hoa thuần-túy mà là các giống dân khác như Đông-Di, Nam-Man...
Nhân dịp phổ-biến các kết-quả khảo-cứu,
Paul Shao đã kêu gọi mọi người nghiên-cứu kỹ-lưỡng vai trò khai-phá
Mỹ-châu của tị-nạn Việt chúng ta, đặc-biệt là các "thuyền-nhân" trốn
chạy ngoại-xâm.
Nước Văn-Lang , Văn-minh Đông-Sơn và
Thế-lực trên Biển
Văn-Lang là danh-hiệu nước ta thời-đại
Hùng-Vương. Đồ Đồng và nhất là các trống Đông-Sơn được sản-xuất vào
thiên-kỷ thứ nhất TTL. tiêu-biểu cho nền văn-hoá của dân-tộc thời-kỳ mở
nước và dựng nước.
"Không-gian của xã-hội Văn-Lang - Âu-Lạc
là không-gian của Văn-Hoá Đông-Sơn, cũng là không-gian tìm được nhiều
trống Đông-Sơn nhất và tồn-tại nhiều trống cổ nhất. Đó là vùng Bắc
Việt-Nam và khu-vực Nam Hoa-Nam." Thời-gian là thời-đại Hùng-Vương.
Những sinh-hoạt (dân-gian) lúc đó được ghi nhận qua nhiều hình ảnh trên
trống đồng.
Sử-gia D. G. E. Hall nhận-xét về người
Việt thời Hùng-Vương như sau: "Dân thuộc văn-hoá Đông-Sơn phát-triển
cao-độ khả-năng hàng-hải và kiến-trúc Tàu bè, họ là những nhà hàng-hải
gan dạ với số vốn hiểu biết nào đó về Thiên-văn-học." Trong khi
nghiên-cứu, Peter Bellwood lấy thêm tái-liệu của Spiegel (197, Badner
(1972) để chứng-minh và đi đến kết-luận là những kiểu mẫu kỷ-hà đặc-biệt
của Đông-Sơn tìm thấy ở vùng Sepik, quần-đảo Admiralties, New Ireland,
và Trobriand Islands...
Khi khảo-sát văn-hoá thời Đông-Sơn,
nhiều học-giả gồm cả Đông-phương lẫn Tây-phương như Chikamouri,
Bezacier, Manuel, và nhất là Keith Weller Taylor, đã đồng-ý rằng: "Các
hình vẽ và trang-trí trên trống đồng Đông-Sơn luôn luôn tạo nên ý-tưởng
về những biểu-tượng của nghệ-thuật hàng-hải, đồng-thời minh-chứng một
cách không thể lầm lẫn về tầm ảnh-hưởng của một thế-lực dựa trên căn-bản
của biển cả."
Thủy-quân của Vua Hùng và Trống Đồng-cổ
Đan-Nê
Huyền-thoại sớm-sủa nhất về chiến-công
của Thủy-quân Văn-Lang được nhắc nhở qua chứng-tích một ngôi đền cổ tại
tỉnh Thanh-Hoá. Sau chuyến viễn-chinh thắng giặc vùng duyên-hải phiá Nam
mà sau này là đất Chiêm-Thành, một vị vua Hùng đã cho đúc trống đồng
kỷ-niệm và lập đền thờ Đồng-Cổ trên núi Tam-Thai, xã Đan-Nê. Gần 3,000
năm trước, vùng châu thổ chưa được phù-sa bồi đắp, sông ngòi đầm lầy, ao
hồ khắp nơi. Từ kinh-đô Phong-Châu (huyện Bạch-Hạc, tỉnh Vĩnh-Yên ngày
nay) khi muốn viễn-chinh tiễu-trừ giặc miền biển (Trung-Việt ngày nay),
nhà Vua chỉ có mỗi một phương-tiện là sử-dụng thủy-quân để có thể
di-chuyển, tiếp-liệu, bất-thần tấn-công và truy-sát kẻ địch tận ngoài
khơi mà thôi.
Chiến-tích của Thủy-Quân cũng ngẫu-nhiên
mang lại vinh-dự cho Trống Đồng Đan-Nê. Những ghi chép về trống đồng cổ
trong sử sách Việt Nam còn lại rất ít, và thật ra cũng chỉ xoay quanh
hai chiếc trống mà thôi. Nguyễn Duy Hinh trong bài "Trống Đồng trong Sử
Sách" cũng nhắc đến tình trạng này. Trống Đan Nê đã được các sách nhắc
đến: Việt Điện U linh (1029) , Đại Việt Sử ký Toàn thư (1479) , Lĩnh Nam
chích quái (1492-1493) Đại Nam Nhất thống Chí . Những đoạn văn ghi chép
trong các sách này khẳng định, bổ sung nhau và được xác định chắc chắn
thêm qua tư liệu dân tộc học. Một chiếc khác có khả năng là trống Miếu
Môn I, có thể đã được ghi nhận trong thần tích của làng Thượng Lâm, do
Đinh Tiên Hoàng ban thưởng để làm trống thờ.
Pháo-tiễn đầu tiên trên Chiến-thuyền
Trong các trống đồng Đông-Sơn, trống
đồng Ngọc Lũ I là một sản phẩm đã xuất hiện hồi thế kỷ VII trước công
nguyên. Chiến-thuyền phải có trước trống đồng một thời gian và có cơ sở
để giả định rằng trước đây khoảng 2800 năm hoặc 2900 năm hay hơn nữa,
người Việt Nam hoặc 2900 năm hay hơn nữa, người Việt Nam cổ đại đã biết
chế tạo ra chiến-thuyền có pháo-tháp nỏ thần cho thủy-quân.
Huyền-thoại "Nỏ Thần" đã được tiền-nhân
chúng ta kể đi kể lại từ nhiều nghìn năm qua. Tuy vậy, chỉ mới vào
thế-kỷ thứ 20, người ta mới tìm được chứng-tích trên trống đồng. Và
hiển-nhiên hơn nữa, các nhà khảo-cổ đã đào được hàng ngàn mũi tên đồng ở
Đồng-Đậu, Gò Mun và Cổ-Loa.
Các chiến-thuyền đời Hùng-Vương với Nỏ
Thần được ghi lại rất rõ nét trên nhiều chiếc trống đồng. Nỏ Thần đặt
trên Pháo-tháp là thượng-tầng kiến-trúc của chiến-thuyền. Nét vẽ tuy ít
nhưng cho thấy cơ-quan máy móc để nạp pháo-tiễn liên-hoàn. - Vào thời
đó, vũ-khí này rất lợi hại vì có tầm xa, bắn cả tên bằng đồng hay tên
lửa. Cánh nỏ và mũi tên lớn quá khổ, có tới 2-3m.
Cổ-Loa thành, Căn-cứ Hải-Quân
Cuối thời đại Hùng Vương, cụ thể là thời
kỳ nước Âu Lạc của An Dương Vương Thục Phán, thủy quân của nước Việt Nam
cổ đại lại được tổ chức quy mô hơn. Các công trình nghiên cứu về thành
Cổ Loa cho chúng ta biết rằng: Bao quanh thành Cổ Loa có ba con hào ăn
thông với nhau và thông với sông Hoàng Giang. Nhờ vậy thuyền bè có thể
đi lại xung quanh cả ba vòng thành và có thể ra sông Hoàng Giang, sông
Hồng, sông Cầu, sông Lục Đầu để tiến ra biển Đông. Truyền thuyết nói An
Dương Vương thường ngự thuyền đi khắp các hào rồi ra sông Hoàng Giang.
Như vậy thành Cổ Loa không chỉ là một
căn cứ bộ binh mà con là một căn cứ thủy binh nữa. Khu Đầm và cả khu
"Vườn thuyền" của miền Cổ Loa xưa có đủ chỗ cho hàng trăm chiếc thuyền
đậu và đi lại.
Cổ-Loa có vị-trí thuận-lợi hơn bất kỳ ở
đâu tại đồng-bằng Bắc-Bộ vào thời nhà Thục (257-207 TTL.). Căn-cứ
thủy-binh này chính là vị-trí chiến-lược, nối liền mạng lưới đường thủy
của sông Hồng cùng với mạng lưới của sông Thái-Bình. Hai mạng lưới này
chi phối toàn bộ hệ-thống đường thủy tại Bắc Bộ. Qua con sông Hoàng,
chiến-thuyền có thể toả đi khắp nơi, nếu ngược lên sông Hồng, có thể
thâm-nhập vào vùng Bắc hay Tây Bắc của Bắc-Bộ. Nếu xuôi sông Hồng,
chiến-thuyền có thể ra đến Biển Đông. Còn muốn đến vùng Đông Bắc-Bộ thì
dùng con sông Cầu để thâm-nhập vào hệ-thống sông Thái-Bình đến tận sông
Thương và sông Lục-Nam.
Thành-tích viễn-dương của tiền-nhân
Việt
Trên quan-điểm của một người Á-Đông,
Wang Gungwu đã làm một cuộc nghiên-cứu về giao-thương thời cổ trong biển
Nam-Hải. Sau đó, vào tháng 6 năm 1956, để phổ-biến kết-quả của
công-trình đó, cơ-sở xuất-bản của Journal of the Malayan Branch Royal
Asiatic Society cho phát-hành một cuốn sách nhan-đề "The Nanhai Trade -
A Study of the Early History of the Chinese Trade in the South China
Sea".
Wang mô-tả khá đầy đủ về những hoạt-động
hàng-hải trong khoảng 11 thế-kỷ trước khi thành-lập triều-đại nhà Tống,
năm 960. Theo đó, thổ-dân người Việt, sau khi đế-quốc Nam-Việt của nhà
Triệu bị sụp đổ, vẫn tiếp-tục nắm giữ hầu hết ngành hàng-hải dọc
duyên-hải hay đường viễn-duyên đến các nước Đông-Nam-Á và „n-Độ, như đã
từng nắm giữ trước kia.
Thương-cảng sầm uất ngày xưa
Về các thương-cảng, Wang cho rằng từ
thời cổ xưa cho đến đời Tống, cảng sầm-uất hàng đầu vùng Đông-Á và
Đông-Nam-Á đều ở Bắc-phần nước ta. Đặc-biệt là Luy-Lâu hay Long-Biên
(Hà-Nội ngày nay) với vùng hậu-cảng trù-phú nhất đế-quốc Hán là quận
Giao-Chỉ.
Con đường biển buôn bán các đồ gia vị
(Spice route) cổ-thời không qua đến Tầu mà chỉ đến Trung và Bắc Việt Nam
rồi mới theo đường bộ mà sang nam Trung Hoa.
G. R. G. Worcester cho rằng Hà-Nội đúng
là trạm hải-hành cuối cùng giữa Tây-phương và Đông-Á trong cổ-thời.
Worcester hình-dung một "hải-trình tơ lụa" như sau: "...có thể đã có
những ảnh-hưởng qua giao-tiếp đường biển rất sớm sủa với dân
Địa-trung-Hải, vì người ta tin rằng những thương-gia Phoenicia trên
hải-trình tìm kiếm "đường tơ lụa", đã tới Đông-Dương vào năm 650 TTL."
Ptolemy (khoảng 100-170) phát-triển và
viết sách địa-lý. Ông hình-dung ra một bản-đồ thế-giới mà tận-cùng về
phía Đông-Đông-Nam là bán-đảo Vàng Chersonese, biển Sinus Magnus với
hải-cảng Kattigara. Không còn nghi-ngờ gì, Sinus Magnus chính là Biển
Đông nước ta. Có người cho rằng bán-đảo Vàng là Đông-Dương và Kattigara
(hay Catigara hay Cattigara) chỉ Kẻ Chợ (Kesho), Long-Biên (Lugin) hay
Hà-Nội ngày nay.
Sau khi nước ta thâu-hồi được nền
tự-chủ, các sách Việt-sử ghi-nhận những hoạt-động hải-thương sầm-uất nơi
các hải-cảng như Hoa-Lư, Vân-Đồn, Phố-Hiến Hội-An...
Thủy-quân thời Trưng-Vương
Các sách sử giáo-khoa ghi chép sơ sài về
triều-đại Trưng-Vương. Những khám-phá gần đây tìm ra các hoạt-động của
thủy-quân thời đó. Cả tên của các vị chỉ-huy quân thủy cũng đã được mang
ra ánh-sáng.
Lạc-tướng Cao-Đoan là một tên tuổi
hãn-hữu còn sót lại như là vị Bộ-Trưởng Thủy-Quân kiêm Đô-Đốc Tư-Lệnh
Hạm-Đội đầu tiên của nước ta. Tham-khảo một số tài-liệu mới, các nhà
sưu-tầm sử liệu tìm thấy như sau:
Tướng Cao-Đoan là người làng Hạ-Lôi,
cùng huyện Châu-Phong với hai vua Trưng. Ông tự chiêu-mộ nghĩa-quân nổi
lên đánh quân Tàu, sau theo phò Trưng-Vương. Ông lập được nhiều
công-trạng thủy-chiến. Phu-Nhân họ Cao là trợ-thủ đác-lực cho chồng.
Tướng Cao-Đoan nắm trọng-trách thủy-quân trong suốt triều-đại
Trưng-Vương. Khi Hán-Đế sai Mã-Viện đem quân sang xâm-lược, Ông cùng vợ
đem quân thủy chống giữ các nơi hiểm-yếu. Tướng Cao-Đoan bị tử-thương,
Ông chết ngày 20 tháng 7 năm 43. Dân ta nhớ ơn, lập đền thờ hương khói
cả hai vợ chồng.
Ngoài chiến-công của các nữ-tướng về
bộ-chiến, nhiều thành-tích thủy-chiến vào thờI Hai Vua Bà cũng đang được
các nhà viết sử thu-nhặt. Qua tài-liệu của các thần-phả, nhiều lần
Bác-sĩ Trần-Đại-Sĩ đã tôn-vinh các chiến-công thủy-chiến thời xưa trong
pho thiểu-thuyết "Anh-Hùng Lĩnh-Nam."
Tướng-lãnh Thủy-quân và đền thờ Rồng,
Rắn
Thờ-kính và noi gương anh-hùng dân-tộc
là truyền-thống dân-tộc. Vì ảnh-hưởng của sinh-hoạt đi vào tín-ngưỡng,
dân ta lập đền thờ Rồng Rắn khắp nơi, đồng-hoá thủy-quái với danh-nhân
cứu-quốc. Giáo-sư Trần-Quốc-Vượng nhận ra rằng:
"Dọc sông ngòi miền Bắc - sông con, sông
cái - đâu chẳng có đền thờ rắn hay rồng (cho dù với xu-hướng "lịch
sử-hoá", rắn rồng đã hoá thành tướng Hùng-Vương, tướng bà Trưng, tướng
Triệu Việt Vương...). Và bao quanh những đền thờ đó là hội nước, hội đua
thuyền cầu mưa. Rắn rồng, thuồng luồng, cá sấu... là biểu-tượng của
Nước, của Thần Nước, của Mưa Dông."
Thủy-quân Việt kháng-chiến thời Đô-Hộ
Sau khi Triệu Đà đánh chiếm nước Âu Lạc
(năm 180 trước công nguyên) cho đến đầu thế kỷ X, nước Việt Nam cổ đại
bị đặt dưới nền đô hộ của giai cấp phong kiến phương Bắc. Thời gian đen
tối này dài đến hơn mười thế kỷ. Hơn mười thế kỷ này là hơn mười thế kỷ
nước Việt Nam mất chủ quyền, nhưng trong thời gian đó nhân dân Việt Nam
vẫn không ngừng đấu tranh nhằm giành lại nền độc lập đã bị mất. Vì vậy
trong suốt hơn mười thế kỷ đó, bằng các trận đánh giặc cứu nước, nhân
dân Việt Nam không thể không dùng thủy quân. Trong các trận chiến đấu
chống quân Lương. Lý Bôn, Triệu Quang Phục đã dùng thủy quân.
Thủy-quân Dạ-trạch và chiến-thuật
Du-kích trên sông rạch
Người Việt chúng ta có lẽ là giống dân
đầu-tiên biết khai-thác thành-công kỹ-thuật du-kích-chiến trên đồng lầy,
hồ ao, sông rạch. Về bằng-chứng, người viết xin kể đến truyện ông
Triệu-Quang-Phục, vị anh-hùng có công giải-phóng dân-tộc khỏi ách
thống-trị của nhà Lương bên Tàu vào thế-kỷ thứ 5. Chuyện Thủy-Hử, nếu
mang ra so-sánh, thành-tích của chiến-dịch Dạ-Trạch thực-sự to lớn hơn
nhiều.
Chiến-công lừng-lẫy nhất của vị "vua đầm
lầy" này (458-47 nhờ việc dùng thủy-quân thật hữu-hiệu ở đầm Dạ-Trạch.
Sử-gia Trần-Trọng-Kim viết như sau:
"Dạ-Trạch là chỗ đồng-lầy, chung quanh
cỏ mọc như rừng, ở giữa có bãi cát làm nhà ở được. Triệu-Quang-Phục vào
ở đấy ngày nấp ẩn, tối thì cho lính chở thuyền độc-mộc ra đánh quân của
tướng Tàu Trần-Bá-Tiên, cướp lấy lương-thực về nuôi quân-sĩ.
Trần-Bá-Tiên đánh mãi không được. Người thời bấy giờ gọi
Triệu-Quang-Phục là Dạ-Trạch-Vương".
Thủy-quân và Công-trạng giành lại quyền
Tự-Chủ
Năm 905 Khúc Thừa Dụ đánh bại quân
Đường, giành được độc lập dân tộc. Từ đấy các nhân vật lãnh đạo nước
Việt Nam độc lập chú ý nhiều đến xây dựng thủy-quân. Chúng ta ngờ rằng
dưới thời Khúc Thừa Dụ, Khúc Thừa Hạo và Khúc Thừa Mỹ, thủy quân đã được
tổ chức; đến thời Dương Đình Nghệ thủy quân đã được tổ chức khá quy mô,
và đã tỏ ra thiện chiến. Cho nên tháng 9 năm Mậu Thân (938) khi Hoằng
Thao mang quân Nam Hán vào cửa Bạch Đằng, đã bị thủy quân của Việt Nam
do Ngô Quyền chỉ huy đánh cho tan tành đến không còn một mống nào.
Đinh Tiên-Hoàng-Đế và chiến-thuyền
Đôi khi chúng ta thấy tranh vẽ
Đinh-Bộ-Lĩnh oai-phong trong bộ giáp-trụ nặng nề. Có sách ghi vị
Hoàng-Đé đầu tiên của nước ta là "nhà Tướng ngồi trên lưng ngựa". Điều
này tương-phản hẳn sự thực: Vua Đinh ăn mặc dản-dị, chiến-đãu trên
thuyền.
Vào thế-kỷ thứ X, phần lớn vùng châu-thổ
sông Hồng, sông Mã còn ngập chìm trong biển nước. Mùa nước lụt thường
kéo dài tới 5 tháng trong một năm. Người ta chỉ thấy làng xóm và gò đống
lơ thơ nổi lên, trong khi đồng ruộng ngập chìm trong làn nước đục ngầu
phù-sa. Hoa-Lư dựa lưng vào núi, phía trước bao bọc bởi nước. Dù là vua
chúa mỗi khi bước ra khỏi kỉnh-đô, ai ai cũng phải đi thuyền.
Hai học-giả ngoại-quốc, Pierre Huard và
Maurice Durand diễn-tả cảnh hành-quân của vua nhà Đinh khác hẳn với các
sách sử của ta. Các Vị này nghĩ rằng nhờ có quân thủy, vua nhà Đinh đã
toàn-thắng địch-quân. Đội chiến-thuyền thời đó có khả-năng chuyên chở
quân-sĩ vượt sông ngòi, đầm lầy để đổ-bộ thần-tốc. Các loại thuyền như
ghe thúng chài, thúng cái, thuyền nan, thuyền thúng... đã thay cho
bộ-binh và chiến-mã. Thủy-Quân và Hạm-Đội tạo thành chủ-lực-quân giúp
nhà Vua tung-hoành khắp một vùng sông nước rộng lớn của Đại-Cồ-Việt.
Trần-Ứng-Long và Thuyền Mê
Một danh-nhân Việt-Nam, một vị tướng
thủy-quân được nhiều sách vở ngoại-quốc ghi-nhận là một khoa-học-gia,
một nhà phát-minh lớn mà dân ta ít nhắc nhở tới. Đó là ông
Trần-Ứng-Long.
Bách-khoa Từ-Điển của Nhật, tuy có ít
từ-mục về Viêt-Nam, nhưng lại có ghi tên Trần-Ứng-Long. Từ-Điển
"Encyclopaedia of Asian Civilizations" chép những dòng như sau: Ông
Trần-Ứng-Long là "xảo-thủ" đóng chiếc thuyền đầu tiên có vỏ mê mềm dẻo ở
Hà-Đông năm 968.
Theo sách "Thanh-thư về Tàu thuyền
Cận-duyên miền Nam Việt-Nam", thuyền có đáy mê là loại thuyền Việt-Nam
thông-dụng nhất. Hai lối kiến-trúc thường được dùng là đáy mê với mạn
thuyền bằng ván be và vỏ thuyền hoàn toàn bằng mê. Loại thuyền có vỏ
bằng tre đan này nhẹ hơn loại gỗ, dễ thấm dầu chai, chịu đựợc sóng cồn,
sức dội khi ủi bãi và không bị mọt ăn. Hơn nữa tre rất dễ tìm và rẻ hơn
loại gỗ tốt, còn đáy tre đan lại dễ thay, vừa nhanh lại vừa rẻ tiền. Đáy
nan dùng được chừng 5 năm. Kiến-trúc đan lát bằng nan tre phổ-cập rất
rộng rãi với các cỡ ghe thuyền lớn nhỏ, nhiều kiểu như canoes, dinghies,
thuyền thúng, thuyền buôn và thuyền đánh cá các loại."
Tương-truyền, ông Long là bộ-tướng của
vua Đinh-Tiên-Hoàng (960-980). Khi Sứ-quân Đỗ-Cảnh-Thạc bị đuổi gấp phải
chạy trốn qua Nhuệ-Giang. Thạc qua được sông, ra lệnh đốt hết thuyền bè.
Tướng Trần-Ứng-Long nghĩ ra cách cho lính đốn tre để đan thứ thuyền nan
rồi lấy nhựa bôi vào thân thuyền. Nhờ đó, Ông đưa được quân lính qua
sông và đuổi bắt được Đỗ-Cảnh-Thạc.
Quân-đội và Thủy-quân thời Lý
Sự kiện quân-đội nhà Lý đặt nặng về
hải-quân không thấy Việt-Sử mô-tả chi-tiết.
Hồi gần đây, chúng ta đựợc đọc một số
nhận-xét mới mẻ của Giáo-Sư Lê-Đình-Thông tại Pháp về chiến-lược và
chiến-thuật của Hải-Quân Việt-Nam. Theo đó, lưu-động-tính của quân-đội
triều Lý đặt căn-bản trên hạm-đội. Và do đó, toàn-thể quân-đội
hiển-nhiên được coi như một tổ-chức Thủy-Quân.
Hải-Quân đánh Tống
Như mọi người đã biết, ngày 27 tháng 10
năm 1075, để phá các căn cứ xâm lược của Tống ở trên đất Tống. Lý Thường
Kiệt đã cho tướng Tôn Đàn chỉ tuy quân Tầy- Nùng vượt biên giới đánh vào
đất Quảng Tây, sau đó đến cuối tháng 12 năm 1075, ông thân dẫn thủy quân
xuất phát từ Vĩnh An đánh Khăm Châu và Liêm Châu.
Hoàn thành nhiệm vụ; Lý Thường Kiệt đã
chủ động rút quân về nước để ngăn cản quân Tống sắp kéo sang xâm lược
Đại Việt. Ông đã xây dựng một phòng tuyến rất vững chắc ở bờ Nam sông
Cầu nhầm ngăn chặn quân Tống qua sông để đánh vào Thăng Long.
Lý Thường Kiệt lại biết rằng để hỗ trợ
cho bộ binh do Quách Quỳ và Triệu, Tiết chỉ huy, Tống Thần tôn và Vương
An Thạch cho một đạo thủy quân do Dương Tùng Tiên chỉ huy: đạo thủy quân
này có nhiệm vụ tiến vào sông Bạch Đằng rồi vào sông Lục Đầu để cuối
cùng vào sông Cầu giúp bộ binh của Quách Quỳ và Triệu Tiết qua sông. Ông
đã sai tướng mang chu sư đóng ở Đông Kênh để chặn đường tiến của thủy
quân Tống. Tướng Lý Kế Nguyên đã hoàn thành nhiệm vụ một cách vẻ vang:
ông đã đánh bại thủy quân của Dương Tùng Tiên. Chiến thắng của tướng Lý
Kế Nguyên đã góp phần quan trọng vào việc làm phá sản mọi kế hoạch tiến
công của Quách Quỳ, buộc họ Quách cuối cùng phải chấp nhận rút quân về
nước.
Thủy quân của nước Đại Việt dưới triều
Lý là một lực lượng hùng mạnh, nó đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp
phá Tống Bình Chiêm vô cùng hiển hách. Suốt thế kỷ XII và đầu thế kỷ
XIII, nó vẫn là một nguồn tự hào của cả dân tộc.
Quốc-nạn từ đường biển: Chiêm-thành
Dân Chiêm-Thành là những thủy-thủ lành
nghề, một số làm hải-tặc hay cướp bóc ngoài biển. Quân-đội Chiêm-Thành
quen cậy hùng mạnh thường hay quấy-nhiễu dân ta, ngay từ thế-kỷ thứ hai
đời vua Hoà-Đế (102 sau Công-lịch) nhà Đông-Hán.
Từ khi nước ta giành được độc-lập, việc
đánh Chiêm-Thành trở nên nhiệm-vụ thường-xuyên của quân thủy. Cuộc
đụng-độ Việt-Chiêm xảy ra ngay từ giai-đoạn hai triều vua Đinh-Lê.
Sứ-quân Ngô-Nhật-Khánh không chịu thần-phục nhà Đinh, chạy qua
Chiêm-Thành xui Chiêm đem quân tấn-công vào đất Việt. Năm Kỷ-Mão (979)
hơn một ngàn chiến-thuyền Chiêm tiến vào cửa Đại-An sông Đáy. Không may
cho họ, một trận bão nổi lên đánh chìm cả hạm-đội. Nhật-Khánh cùng phần
lớn quân Chiêm làm mồi cho cá. Quân Chiêm gặp trận "Thần-Phong" không
đánh đã tan. Thủy-quân Việt tại kinh-đô Hoa-Lư tuy sẵn sàng tác-chiến
nhưng không phải ra tay.
Trong cuộc Nam-tiến, lực-lượng địch
trực-tiếp đối đầu với ta thường là hải-quân Chiêm-Thành. Sách "Việt-sử
xứ Đàng Trong" nói đến khả-năng của họ như sau:
"Thuỷ-quân Chiêm-Thành gồm những thuyền
lớn, trên có pháo-tháp và những thuyền nhẹ. Trong nhiều trận đánh, người
ta thấy hạm-đội gồm hơn trăm chiến-thuyền yểm-trợ lục-quân... Người Chàm
là giống người hung-bạo, gan-dạ, và là những thủy-thủ cang-cường. Sống ở
những thung-lũng chật hẹp dọc theo duyên-hải, phía Tây ngăn-chận bởi núi
cao, phía Đông là bể cả, họ phải đi tìm những gì đất họ không có. Vì vậy
họ thường mưu-đồ tiến ra phía Bắc, tiến vào phía Nam, xâm-chiếm những
đồng-bằng phì-nhiêu của Việt-Nam và của Chân-Lạp. Với những ghe nhẹ lướt
trên biển cả, họ cũng thường tấn-công các thương-thuyền đi ngang qua
hải-phận họ để cướp bóc.
Người Chiêm-Thành: Thuyền-nhân thời cổ
Khảo-cổ-học cho biết tính-cách liên-tục
của nền văn-minh nước ta. Dân-tộc ta cũng được minh-chứng là dân
bản-địa. Trường-hợp người Chàm hơi khác, người ta biết chắc chắn Tổ-tiên
họ là thuyền-nhân đã di-cư đến bờ biển Trung-Việt ngày nay sau khi người
Việt Văn-Lang chúng ta lập-quốc rất lâu.
Giáo-sư Phan-Khoang viết về những ngày
đầu của nước Chiêm-Thành như sau:
Tổ-tiên người Chàm từ các hải-đảo
Mã-Lai, Nam-Dương tràn lên bờ biển Trung-Việt ngày nay từ nhiều thế-kỷ
trước Tây-lịch kỷ-nguyên. — đây, họ tiếp-xúc với thổ-dân là người
Kiritas, thuộc giống Indonésiens; số người Kiritas không chịu họ chế-ngự
nên dồn lên các miền núi Trường-Sơn, những người ấy sau này chúng ta gọi
là Mọi. (Việt-Sử Xứ Đàng Trong 1558-1777, Sài-Gòn, 1967, trang 35.)
Căn-cứ trên những tài-liệu của Blust
(The Austronesian Homeland, 57), của W. G. Solheim ('Pottery and the
Malayo-Polynesians', Current Anthropology, 5 (1964); Peter Bellwood đưa
ra giả-thuyết là nhờ đi theo những đường giao-thương và trao-đổi văn-hoá
ngang qua Biển Đông trong khoảng một thiên-kỷ trước Công-nguyên, người
Chàm đã dùng thuyền di-cư đến sinh sống tại vùng Sa-Huỳnh, Trung-Việt
ngày nay (Sách "The Cambridge History of Southeast Asia", Vol. 1- From
Early times to C 1800-, edited by Nicholas Tarling, Cambridge University
Press, 1992, p. 130.) Dân Chiêm-Thành như vậy, rất có thể phát-triển từ
các bộ-lạc Hải-Du vùng đảo Bornéo.
Hải-Quân Vua Lý-Thái-Tông đánh Chiêm.
Ngay thời Lý-Thái-Tổ, tháng chạp năm
Canh-Thân (1020) vua đã sai Khai-Thiên-Vương và Đào-Thác-Phụ đi dẹp loạn
Chiêm-Thành tại trại Bố-Chính (Quảng-Bình ngày nay). Quân ta chém được
tướng Chiêm là Bồ Linh. Quân Chiêm đại-bại.
Khi Thái-Tông lên làm vua dã hơn 25 năm
mà nước Chiêm-Thành không chịu thông sứ, lại cứ quấy-nhiễu mặt biển.
Thái-Tông bèn sắp-sửa binh-thuyền sang đánh Chiêm-Thành.
Năm Giáp-Thân (1044) vua ngư-giá đi
dánh. Quân Chiêm-Thành dàn trận ở phía nam sông Ngũ-Bồ (?), Thái-Tông
truyền thúc quân đánh tràn sang. Quân Chiêm-Thành thua chạy. Quân ta bắt
được hơn 5,000 người và 30 con voi.
Tướng Chiêm-Thành là Quách-Gia-Di chém
Quốc-Vương là Sạ-Đẩu đem đầu sang xin hàng.
Quan quân chém giết người bản-xứ rất
nhiều. Vua Thái-Tông động lòng thương, xuống lệnh cấm không được giết
ngưới Chiêm-Thành, hễ ai trái lệnh thì theo phép quân mà trị tội.
Thái-Tông đưa binh-thuyền tiến đến
quốc-đô là Phật-Thệ (nay ở làng Nguyệt-Biều, huyện Hương-Thủy, tỉnh
Thừa-Thiên), vào thành bắt được Vương-Phi là Mị-Ê và các cung-nữ đem về.
Khi đoàn thuyền xa-giá về đến sông Lý-Nhân, Thái-Tông cho đòi Mị-Ê sang
chầu bên thuyền ngự, Mị-Ê giữ tiết không chịu, quấn chiên lăn xuống sông
mà tự-trầm. Nay ở phủ Lý-Nhân còn có đền thờ.
Thủy-Quân bình Chiêm thời Lý-Thánh-Tôn
Trong các đời vua trước, cái cớ đánh
Chiêm-Thành là vì tội bỏ tiến cống. Đến đời Lý-Thánh-Tôn, vua dựa vào
tội Chiêm thờ hai chủ: vừa xưng thần với Việt nay lại thần-phục nhà
Tống.
Năm 1068, vua Lý Thánh Tôn ra lệnh sửa
soạn thuyền chiến dùng hải-đạo đánh Chiêm. Mỗi chiến-thuyền chở 250
quân-sĩ. Tổng số thuyền chở lương-thực có tất cả 200 chiếc. Quân
viễn-chinh vào khoảng 30,000 người đặt dưới quyền điều-khiển của Lý
Thường Kiệt.
Từ biên giới Việt - Chiêm đến cửa Thị
Nại tức cửa biển Quy Nhơn sau này, Chiêm Thành có các cửa biển sau đây:
Cửa Di Luân tức cửa Ròn ở cực bắc. Cửa biển này nhỏ nên không thể là một
căn cứ thủy quân. Cửa biển thứ hai là cửa Bồ Chánh hay cửa Gianh. Cửa
biển này rộng, nhưng lại cạn, nên cũng không thể là một căn cứ thủy quân
quan trọng được. Cửa biển thứ ba là cửa Nhật Lệ, sau này là cửa Đông Hà.
Nhật Lệ là một cửa biển lớn. Chế Củ đã tập trung một phần quan trọng
thủy quân ở đây, Cửa biển thứ tư là cửa Tư Dung sau gọi là Tư Hiền. Tại
cửa biển này không có thủy quân Chiêm hay có nhưng không đáng kể. Cửa
biển thứ năm là cửa Thi Nại tức cửa biển Quy Nhơn. Đây là cửa ngõ vào
cánh đồng bằng Bình Định, nơi có kinh đố Chà Bàn (Vijaya) của Chế Củ.
Một bộ phận quan trọng của thủy quân
Chiêm đóng ở cửa Thi Nại. Còn đại bộ phận bộ binh đóng ở Chà Bàn và cánh
đồng bằng Bình Định.
Ngày 8 tháng 3 năm 1086, vua Lý Thánh
Tôn giao việc nước cho Lan nguyên-phi và tể tướng Lý Đạo Thành rồi
xuống thuyền xuôi dòng sông Hồng bắt đầu cuộc Nam chinh.
Chiến-thuật của thủy-quân Đại-Việt
Cuộc hành quân của Lý Thánh Tôn và Lý
Thường Kiệt tỏ ra phía Đại Việt nắm rất rõ việc bố trí lực lượng của
nước Chiêm Thành, cho nên thủy quân Đại Việt không đánh cửa Di Luân và
cũng không vào cửa Bố Chánh, mà tiếp thẳng vào cửa Nhật Lệ và đã đánh
tan thủy quân Chiêm ở đây, Thủy quân Chiêm bị phá hoàn toàn ở Nhật Lệ có
nghĩa là thủy quân Đại Việt có thể cứ giương buồm thuận gió tiến thẳng
vào Nam, mà không sợ bất cứ lực lượng nào đánh vào lưng mình nữa. Cho
nên sau khi đánh thắng thủy quân Chiêm, thủy quân Đại Việt không chiếm
đất và cũng không đổ bộ: quân Đại Việt thuận buồn tiến xuống phía Nam
rồi vào cửa Tư Dung để nghỉ ngơi ở đó để chuẩn bị một trận quyết chiến
sắp diễn ra. Ngày 3 tháng 4 năm 1069, thủy quân Đại Việt vào cửa Thi Nại
rồi đổ bộ ở ven bờ vũng Nước mặn. Sau đó quân Đại Việt tiếp đến sông Tu
Mao để đánh tan quân Chiêm ở đó ...
Đã giành lại quyền Tự-chủ, Thủy-quân còn
mở rộng Biên-cương
Việt-Sử không những đã khiếm-khuyết
trong việc trình-bày thành-tích hải-quân mà còn sai lạc khi bình-luận về
vai trò của quân-chủng này về viêc mở rộng biên-cương:
- Thủy-quân nhà Lý mạnh, biên-cương nuớc
ta ăn sâu vào Trung-Quốc hàng 3, 400 cây số. Có thể vì sau này thủy-quân
cứ suy-thoái, dân Việt không bao giờ còn trở lại đất xưa, ta đành cam
nhận chịu ranh giới như hiện nay.
- Sau khi Bắc-tiến bị chận lại,
thủy-quân chính là nỗ-lực trong mũi dùi Nam-tiến. Nhìn chung những sử
sách cận-đại dã không chấp-nhận một sự kiện hiển-nhiên rằng: Hải-quân
nhà Nguyễn nối cánh tay dài, bảo vệ toàn-dân trải dài cuộc định-cư từ
Quảng-Nam đến mũi Cà-Mâu. Về phía Tây, lực-lượng ấy bao trùm an-ninh tận
Hà-Tiên. Phía Đông Hải-quân đã tuần-phòng Hoàng-Sa Trường-Sa, trước khi
bị giặc Pháp tiêu-diệt.
Nói tóm lại, nếu không có hải-quân
hùng-mạnh, Việt-quân không thể Bắc-tiến đánh Tống và Nam-tiến bình Chiêm
được.
Trường-hợp Hoàng Thân Lý Long Tường
Nhưng vào khoảng năm 1226 một việc đáng
tiếc đã xảy ra.
Chúng ta đều biết rằng tháng chạp năm „t
Dậu (1225) do mưu mô của Trần Thủ Đô, Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh rồi
nhường ngôi vua cho chàng. Khi ngôi vua đã về tay họ Trần. Trần Thủ Độ
tìm cách hãm hại những người họ Lý. Thủy sư Đô-đốc chỉ huy toàn bộ chu
sư của nhà Lý bấy giờ là Lý Long Tường. Lý Long Tường cho rằng do cương
vị trọng yếu của ông (tư lệnh thủy quân toàn quốc), sớm muộn ông có thể
bị Trần Thủ Độ sát hại. Cho nên vào một ngày nào đó năm Bính Tuất
(1226), sau một thời gian chuẩn bị, ông đã đem vợ con, gia nhân đầy tớ,
tướng lĩnh cùng hạm đội rời đất nước Đại Việt tiến lên phía Bắc và cuối
cùng đã xin cư trú ở nước Triều Tiên (theo tạp chí Sử học của Nhật Bản
số 2 năm 1941.
Sử của Việt Nam không hề nói đến việc
trên. Nhưng chúng ta tin rằng việc đó là có thực. Tình hình xã hội Đại
Việt sau khi nhà Trần lên thay nhà Lý rất dễ đề ra những nhân vật như Lý
Long Tường.
Bước đầu của họ Trần: Dân Di-Cư đường
Biển
Họ Trần được tiếng oanh-liệt vì những
trận thủy-chiến thắng Nguyên Mông. Tuy vậy ít ai đã lưu-tâm đến nguồn
gốc di-dân đường biển của tiền-nhân dòng Vua này. �nh-hưởng thuyền-nhân
như vậy đôi lần đã tác-dụng mạnh mẽ trên lịch-sử nước ta
Việt-Nam Sử-Lược của Trần-Trọng-Kim viết
rất ít câu sơ sài về những ngày đầu của họ Trần như sau:
Khi Thái-Tử Sam, con vua Lý-Cao-Tông
chay loạn, về Hải-„p vào ở nhà Trần-Lý. Nguyên Trần-Lý là người làng
Tức-Mạc (huyện Mỹ-Lộc, phủ Xuân-Trường, tỉnh Nam-Định) làm nghề đánh cá,
nhà giàu, có nhiều người theo phục. Sau nhân buổi loạn cũng đem chúng đi
cướp phá...
Tìm hiểu kỹ hơn nữa, các nhà nghiên-cứu
tìm thấy tổ-tiên Trần-Lý là nhóm người Phước-Kiến mới đến Tức-Mặc không
lâu. Dòng họ này tiếp-tục giữ những cổ-tục riêng, khác với hầu hết dân
Đại-Việt cho đến nhiều đời sau.
Ông Cl. Madrolle trong bài "Le Tonkin
Ancien" đã phát-biểu ý-kiến là ở Phước-Kiến có một nhóm Việt-tộc làm
nghề chài-lưới, hàng-hải đã dùng thuyền gỗ hay mảng tre có buồm, hàng
năm theo gió mùa, nhân gió bấc phiêu-lưu theo dọc miền duyên-hải rồi ghé
vào miền trung-châu sông Nhị, sông Mã (Việt-Nam.) Nhóm này cũng có phen
xuống cả Nam-Dương, rồi lại nhân tiết gió nồm quay về căn-cứ. Một số đã
ở lại sinh sống...
Tục vẽ chàm và tinh-thần quyết-tử của
quân đội đời Trần
Nhà quân-sử Phạm-văn-Sơn viết rằng : Xét
lại các cuộc xung-đột với giặc Nguyên, ta co thể nói lực-lượng thủy-quân
của Việt-Nam đời Trần thuở đó khá mạnh. Nhờ đó , ta đã thắng địch
oanh-liệt ở các bến Chương-Dương Hàm-Tử, Vân-Đồn, Bạch-Đàng. Duy quân-số
bao nhiêu, sử ta không cho biết. (Quân-lực Việt-nam dưới các Triều-đại
Phong-kiến (Từ Thượng-cổ đến Cận-kim) quyển I, Phạm-Văn-Sơn, Bộ Tổng
Tham-Mưu QL/VNCH, 1968, trang 63.)
Trong thủy-quân, có các đội Trạo-Nhi gồm
những trai tráng khỏe mạnh (trang 64)
Từ xưa, người Việt-Nam, kẻ cả hoàng-thân
quốc-thích và vua chúa đều giữ cổ-tục của thủy-dân là vẽ chàm trên mình.
Về đời Trằn, Việt-sử ghi chép thêm một vài hình-thức đặc-biệt khác.
Người lính trong quân-đội đời Trần đều
có thích chàm ở cánh tay hai chữ 'Sát-Thát' để tỏ ý quyết-tâm sống mái
với giặc Mông-Cổ. Như vậy họ chỉ có một sống một chết với giặc, giặc bắt
được thấy 2 chữ 'Sát-Thát' ắt không khi nào có sự dung tha.
Đời Trần-Anh-Tôn (1293-1314), binh-sĩ
phải thích ba chữ trên trán như "Thượng chân độ", "Toả-Kim-Cương",
"Thủy-dạ-soa" ngoài sự thích rồng ở lưng và ở đùi. Ba chữ 'Thủy-Dạ-Soa'
có lẽ dành riêng cho các thủy-thủ.
Vai trò Thủy-quân trong những trận
kháng giặc Nguyên-Mông
Sau khi trừ xong các tôn thất nhà Lý.
Trần Thủ Độ tính ngay đến việc tăng cường lực lượng vũ trang. Năm 1246,
ông đã tuyển thêm quân mới lấy thêm người để chèo các thuyền chiến của
nhà nước. Nhờ vậy cho nên ngày 24 tháng chạp năm Mậu Ngọ tức ngày 29
tháng 1 năm 1258, chiến thuyền nhà Trần từ căn cứ Thiên Mạc đã ngược
dòng sông Hồng trở về Thăng Long đánh bại quân Mông Cổ ở Đông Bộ Đầu,
buộc quân giặc phải rút khỏi Thăng Long chạy về Văn Nam để khỏi bị tiêu
diệt hoàn toàn.
Tháng 8 năm Giáp Thân (1284), sau khi
được cử giữ chức Quốc Công tiết chế thống lĩnh toàn quân đội, Trần Quốc
Tuấn đã tổ chức một cuộc duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu. Sau đó ông lại
hội quân trong đó có thủy quân ở Vạn Kiếp.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên
lần thứ hai (1285), sử cũ của ta chỉ nói Chiêu Thành Vương, Hoài Văn Hầu
Trần Quốc Toản, Nguyễn Khoái và Trần Nhật Duật đem quân đánh quân giặc ở
Tây Kết, Hàm Tử. Chương Dương, mà không cho biết quân đó là quân bộ hay
quân thủy. Do chỗ Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương đều là những địa điểm
nằm ở bên tả hoặc ở bên hữu sông Hồng, chúng tôi đoán rằng các cánh quân
đánh các địa điểm nói trên trước hết có thủy quân. Như thế có nghĩa là
quân Trần, chủ yếu là thủy quân đã ngược dòng sông Hồng đánh Tây Kết,
rồi đánh Hàm Tử, rồi đánh Chương Dương. Sau khi quân Trần giải phóng
Chương Dương, thì Thoát Hoan bỏ Thăng Long vượt sông chạy sang bờ Bắc,
nếu không thì quân Trần cứ thẳng dòng sông mà tiến lên đánh Thăng Long
rồi.
Mùa xuân năm Mậu Tý (1288), Trần Khánh
Dư cả phá đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ chở 70 vạn thạch lương qua
vùng biển Vân Đồn. Mở đường cho đoàn thuyền lương là 500 chiến thuyền
hùng mạnh do Ô Mã Nhi chỉ huy. Trần Khánh Dư đã để cho đoàn chiến thuyền
cửa Ô Mã Nhi qua vùng biển Vân Đồn. Đoàn chiến thuyền qua Vạn Ninh (Mống
Cái), núi Ngọc mà không gặp một sức chống cự nào đáng kể cả. Sau đó đoàn
chiến thuyền đến An Bang, và chỉ thấy thủy quân Đại Việt chống cự một
cách yếu ớt mà thôi. Ô Mã Nhi chủ quan cho lực lượng thủy quân Đại Việt
chỉ có thế, cho nên sau khi vào cửa An Bang, y cho đoàn chiến thuyền vào
cửa Bạch Đằng để vào Vạn Kiếp, bỏ lại đoàn thuyền lương của Trương Văn
Hổ ở đằng sau không có chiến thuyền bảo vệ.
Khi đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ
lọt vào trận địa phục kích ở vùng biển Vân Đồn, Trần Khánh Dư ra lệnh
cho chiến thuyền Đại Việt đổ ra đánh. Bị đánh bất ngờ, đoàn thuyền rối
loạn, nhiều chiếc bị đấm, nhiều chiếc khác bị bắta. Trương Văn Hổ phải
đổ thóc xuống biển rồi chạy trốn về Quỳnh Châu thuộc đảo Hải Nam. Chiến
thắng vào tháng 1 hoặc đầu tháng 2 năm 1288 là một đòn rất nặng nệ giáng
vào quân xâm lược, không những làm cho chúng mất hết lương ăn mà con làm
cho chúng tiêu tan hết ý chí chiến đấu. Các tướng lĩnh đã nói với Thoát
Hoan: "— Giao Chỉ không có thành trì để giữ, không có lương thực để ăn
mà thuyền lương của Trương Văn Hổ lại không đến. Vả lại khi trời đã nóng
nực, sợ lương hết quân mệt không lấy gì chống giữ lâu được, làm hổ thẹn
cho triều đình, nên toàn quân mà về thì hơn" Thần nỗ tổng quản là Giả
Nhược Ngu cũng nói: "quân nên về không nên giữ".
Cuối cùng Thoát Hoan chia quân Mông Cổ
ra làm hai đạo: Đạo thủy binh do Ô Mã Nhi chỉ huy theo đường biển về
trước. Sau đó đạo bộ binh do Thoát Hoan chỉ huy sẽ về sau.
Ngày mồng 7 tháng 3 năm Mậu Tý tức ngày
8 tháng 4 năm 1288, đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi đến Trúc Động trên
sông Giá. Sáng ngày 8 tháng ba tức ngày 9 tháng 4, Ô Mã Nhi đến sông
Bạch Đằng, quân Trần trên thuyền nhẹ ra đón đánh rồi giả thua chạy nhử
quân giặc vào bãi cọc mà Trần Quốc Tuấn đã cho đóng từ trước. Đoàn chiến
thuyền giặc vào trận địa phục kích của quân ta vào lúc nước triều đang
rút. Phục binh Đại Việt từ các phía thủy bộ đổ ra đánh. Thuyền giặc
vướng phải cọc bị vỡ rồi bị đắm rất nhiều, nước triều càng xuống nhanh,
thuyền giặc càng bị vỡ và bị đắm càng nhiều. Toàn bộ đoàn chiến thuyền
bị tiêu diệt. Vạn bộ thủy quân Trương Ngọc bị giết ngay tại trận. Phàn
Tiếp bị bắt sống. Ô Mã Nhi cũng bị bắt sống. Số thuyền giặc bị quân ta
bắt được lên đến trên bốn trăm chiếc.
Đây là chiến thắng Bạch Đằng lần thứ ba.
Trước đó là chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938, và chiến thắng
Bạch Đằng lần thứ hai năm 981. Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 là một
chiến thắng trên thủy vào cỡ lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.
Thủy quân Việt Nam hồi thế kỷ XIII là
một quân chủng tài giỏi đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ đất
nước. Trong thủy quân đó nổi bật lên vai trò của Yết Kiêu và Dã Tượng.
Yết Kiêu và Dã Tượng vốn là gia nô của Trần Quốc Tuấn được Quốc Tuấn
nuôi nấng và giáo dục, rồi trở thành những kiện tướng đánh giặc công rất
tài tình ở dưới nước. Yết Kiêu và Dã Tượng thường lặn dưới nước đến đục
phá chiến thuyền của quân Nguyên hoặc kéo chiến thuyền địch xa rời vị
trí của chúng rồi bất ngờ cướp chiến thuyền địch. Trong lịch sử đấu
tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, Yết Kiêu và Dã Tượng nổi bật
lên những chiến sĩ mở đầu lối đánh đặc công: Lối đánh cực kỳ táo bạo chỉ
dùng rất ít lực lượng mà có thể gây cho địch những tổn thất rất nặng nề.
Trận Thủy-Chiến cuối cùng của Chế Bồng
Nga
Như mọi người đã biết, từ Trần Dụ Tôn
(1341-1369) nhà Trần suy yếu nhanh chóng, khởi nghĩa của gia nô đã bùng
ra ở nhiều nơi. rong bối cảnh lịch sử đó, thủy quân của nước Đại Việt
cũng càng ngày càng mất dần tình chiến đấu.
Chúa Chiêm Thành dò biết được tình hình
đó, cho nên tháng ba năm Tân Sửu (136, thủy quân Chiêm đột nhiên vượt
biển tiến ra Bắc đánh Lâm Bình, nhưng bị quân Đại Việt đánh lui.
Năm Tân Hợi (137 thủy quân Chiêm Thành
bất ngờ tiến vào sông Hồng rồi cướp phá Thăng Long.
Năm Dinh Tị (1377) thủy quân Chiêm lại
đánh chiếm Thăng Long lần thứ hai, chúng cướp của, bắt người rồi rút về.
Những hành động xâm lược của quân Chiêm
làm cho nhà Trần lo ngại. Năm Quý Sửu (1373) ngay khi vừa lên ngôi vua,
Trần Duệ Tôn đã cho tuyển thêm quân đội sửa soạn chiến thuyền để đánh
Chiêm Thành.
Tháng giêng năm Đinh Tị (1377) nhà vua
thân cầm quân đi đánh Chiêm Thành, bị vua Chiêm là Chế Bồng Nga đánh bại
Nhà vua chết tại trận.
Trận đại bại của Trần Duệ Tôn (1377)
khuyến khích mưu mô xâm lược của Chế Bồng Nga. Tháng 5 năm Mậu Ngọ
(1378) thủy quân Chiêm do Chế Bồng Nga chỉ huy vượt biển tiến vào Đại
hoàng giang, rồi ngược dòng sông đánh chiếm Thăng Long. Quân Chiêm vơ
vét tài sản, bắt nhiều người rồi lại xuống thuyền rút về nước.
Nhà Trần lúc này đang suy yếu nghiêm
trọng. Đó là điều kiện thuận lợi để quân Chiêm luôn luôn ra xâm lược
nước Đại Việt.
Tháng 2 năm Nhâm Tuất (1382) thủy quân
Chiêm lại ra đánh Thanh Hóa, nhưng bị thất bại.
Tháng sáu năm Quý Hợi (1383), thủy quân
Chiêm bất ngờ tiến ra đổ bộ vào một nơi nào đó của nước Đại Việt, rồi đi
đường núi đánh vào miền Quảng Oai làm cho kinh thành Thăng Long náo
động, thượng hoàng Nghệ Tôn phải lánh sang Đông Ngàn ở bờ Bắc sông Hồng.
Tháng 10 năm Kỷ Tị (138, thủy quân
Chiêm Thành tiến ra đánh Thanh Hóa. Hồ Quý Ly mang thủy quân ra chóng
cự. Quý Ly cho đóng cọc gỗ ở sông Lương, rồi đem thuyền vây chung quanh.
Quân Chiêm đắp đập ở thượng lưu để mai phục quân và voi chiến, rồi giả
vờ dọn dẹp quanh trại để kéo quân về. Quý Ly cho quân xô ra đánh. Quân
Chiêm phá đập rồi lùa voi chiến ra trận. Chiến thuyền của Quý Ly bị nước
từ thượng lưu dồn vào một chỗ, không sao tiến lên được, bộ binh của Quý
Ly bị quân Chiêm giết hết Quý Ly phải bỏ quân đội trốn về.
Tháng 11 năm Kỉ Tị, quân Chiêm tiến ra
Hoàng Giang, vua Trần Thuận Tôn sai đô tướng là Trần Khát Chân mang quân
ra chống cự. Lúc này, một tôn thất nhà Trần là Trần Nguyên Diệu đầu hàng
quân Chiêm Thành.
Chúa Chiêm Thành là Chế Bồng Nga liền
dùng ngay Nguyên Diệu làm kẻ dẫn đường để đi xem xét tình hình. Chiến
thuyền Chiêm đang tập hợp, thì một tiểu thần của chúa Chiêm là Ba Lậu Kê
bị bồng Nga quở trách. Ba Lậu Kê sợ, tội chạy sang hàng Đại Việt. Y báo
cho Trần Khát Chân biết, rằng Chế bồng Nga ngồi trên một chiếc thuyền
sơn màu lục.
Trần Khát Chân sai tập trung hỏa pháo
nhất tê bắn báo chiến thuyền đó. Đạn bắn trúng vào giữa thân Chế Bồng
Nga.
Thấy chủ tướng bị giết, quân Chiêm tan
vỡ...
Từ đấy biên giới nước Đại Việt về phía
Nam được yên. Vì sau khi Chế Bồng Nga chết, nước Chiêm Thành ngày một
yếu đi quân Chiêm không đủ sức xâm lấn nước Đại Việt nữa.
Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly
cướp ngôi vua của nhà Trần, đặt tên nước là Đại Ngu, niên hiệu là Thánh
Nguyên.
Tháng 8 năm ấy, thấy chúa Chiêm Thành là
La Ngai chết, con là Ba Đích Lại mới được lập làm chúa, Quý Ly thừa cơ
sai Đỗ Mẫn làm đô tướng thủy quân, Trần Vấn làm phó, Trần Tùng làm đô
tướng bộ quân, Đỗ Nguyên Thái làm phó, đem 15 vạn quân thủy lục đi đánh
Chiêm Thành. Quân của Quý Ly bị quân Chiêm đánh bại phải rút về.
Năm Quý Mùi (1403), Hồ Quý Ly lại đánh
Chiêm Thành một lần nữa. Phạm Nguyên Côi được cử làm đô tướng thủy quân,
Hồ Vân làm phó: Đỗ Mẫn làm đô tướng quân bộ, Đỗ Nguyên Thái làm phó,
thống lĩnh 20 vạn quân thủy bộ, chia đường vào đánh Chiêm Thành nhưng
không có kết quả.
Hồ-Quý-Ly và Hải-Quân
Hồi này ở nước Minh, Chu Đê đã đoạt được
ngôi vua và đã lên ngôi hoàng đế (Minh Thành tổ). Dã tâm của Minh Thành
tổ là xâm lược Việt Nam, biến Việt Nam thành quận huyện cả nước Minh.
Ngay từ đầu thế-kỷ 15, khi Hồ-Quý-Ly đã
nắm trọn binh-quyền, Ông khuyếch-trương mạnh mẽ việc quân vì biết rằng
sớm muộn quân Minh cũng sẽ lần sang. Thủy-quân là một tổ-chức lớn. Ông
chia quân-đội ra làm 4 mà Hải-quân được tổ-chức thành một quân-chủng.
Bốn quân-chủng đó là : Vệ-quân, Đại-quân, Cấm-quân và Thủy-Quân.
(Quân-Lực Việt-nam dưới các Triều-đại Phong-kiến (Từ Thượng-cổ đến
Cận-kim) quyển I, Phạm-Văn-Sơn, Bộ Tổng Tham-Mưu QL/VNCH, 1968, trang
69.)
Cha con Hồ Quý Ly đã nhìn rõ âm mưu của
Minh Thành tổ, cho nên từ năm 1404. Quý Lý đã cho tuyển thêm lính mới và
cho đóng nhiều thuyền chiến. Những thuyền chiến nay gọi là "tải lương cổ
lâu", bên trên bắc tre làm đường đi lại, bên dưới cứ hai người chèo một
mái chèo. Tuy gọi là"tải lương cổ lâu", nhưng đúng ra là những thuyền
chiến thực sự, rất tiện cho việc chiến đấu trên thủy.
Hồ Quý Ly là nhà chính trị biết đề ra
các biện pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất kinh tế. Nhưng trong hành động, ông
đã làm nhiều việc khiến cho "nhân tâm oán phản". Do đó khi Minh Thành Tổ
sai Trương Phụ mở cuộc xâm lược vào Việt Nam. Hồ Quý Ly đã thua trận một
cách quá dễ dàng, mặc dầu ông có một lực lượng vũ trang lớn mạnh trong
đó có những thuyền chiến gọi là "tải lương cổ lâu".
Sau khi hạ thành Đa Bang vào cuối năm
Bính Tuất (1406), tháng 2 năm Đinh Hợi (1407), Mộc Thạnh cả phá 300
chiến thuyền của Hồ Nguyên Trừng ở sông Mộc Hoàn. Tháng 3 năm Đinh Hợi,
Hồ Nguyên Trừng đem đại binh đến đón quân Minh ở cửa Hàm Tử. Hồ Xạ, Trần
Đĩnh chỉ huy đạo quân đóng ở bờ anm sông. Đỗ Nhân Giám, Trần Khắc Trang
chỉ huy đạo quân đóng ở bờ bắc: Đỗ Nhẫn, Hồ Vấn chỉ huy thủy quân gồm
bảy vạn người, nói phao lên là 21 vạn. Các chiến thuyền đều kéo đến cửa
Hàm Tử, nối đuôi nhau dài đến hơn mười dặm, chắn ngang cả mặt sông. Quân
thủy và quân bộ của Trương Phụ biết lực lượng quân thủy của Quý Ly mạnh,
chúng chờ khi quân của Quý Ly tỏ ra chủ quan, trễ nải, mới xông ra đánh.
Quân của Quý Ly thua to.
Bị thua nặng ở cửa Hàm Tử. Quý Ly và Hồ
Hán Thương đem trăm quân theo đường biển chạyvào Thanh Hóa. Quân Minh
đuổi theo. Đến Lỗi Giang thì quân của Quý Ly tan vỡ. Sau đó cha con Quý
Ly chạy đến cửa biển Kỳ La, rồi bị bắt tại đó cùng với con cháu và các
quan.
Trong hai mươi năm thuộc Minh, bọn đô hộ
vơ vét rất nhiều tài sản của dân tộc Việt Nam. Chúng đã cướp của Việt
Nam 8.670 chiếc thuyền và 2.539.500 vũ khí các loại. Hai mươi năm thuộc
Minh, vì vậy, là hai mươi năm dân tộc Việt Nam không có thủy quân. Trần
Ngỗi, Trần Quý Khoáng, Lê Lợi cũng có một ít thủy quân, nhưng lực lượng
không có gì mạnh lắm.
Quân thủy nhà Lê và những ngày tàn của
Chiêm-Thành
Tháng 12 năm Mậu Thân (1428). Lê Thái Tổ
định ra quy chế cho quân thủy quân bộ. Ta có thể tin rằng sau đó không
lâu, nước Đại Việt đã có một đạo thủy quân lớn mạnh. Cho nên đến năm „t
Mão (1435) Lê Thái Tôn sau khi đi xem quân bộ diễn tập ở Bạo Động, đã
xem quân thủy diễn tập ở sông Hồng: Tháng giêng năm: Mậu Ngọ (1438), Lê
thái Tôn lại sai chiến thuyền của năm đạo quân diễn tập thủy chiến.
Năm Bính Dần (1446), thấy chúa Chiêm
thành là Bí Cái hay cho quân đội ra xâm phạm biên giới. Lê Nhân Tôn sai
Lê Thụ, Lê Khả đem thủy quân đánh Chiêm Thành, Quân Đại Việt đánh chiếm
cửa biển Thi Nại rồi tiến lên đánh chiếm thành Cha Bàn, bắt được vua
Chiêm là Bí Cái.
Tháng 11 năm Canh Dần (1470), Lê Thánh
tôn thân chính Chiêm Thành. Quân đội có đến 26 vạn, chiến thuyền có đến
hàng ngàn chiếc.
Khi quân Đại Việt đến cửa biển Tân „p và
cửa biển Cựu tọa, vua Chiêm là Trầ Toàn sai em đem sáu viên tướng cùng
5.000 quân lên đến sát doanh trại của Lê Thánh Tôn. Lê Thánh tôn mật sai
tả du kích tướng quân là Lê Hi Cát đem 500 chiến thuyền lẻn vào cửa biển
Sa Kỳ chặn đường về của quân Chiêm. Rôi Lê Thánh Tôn dẫn hơn một ngàn
chiến thuyền tiến thẳng vào doanh trại quân Chiêm. Quân Chiêm tan vỡ,
chúng toan chạy về thành Lê Hi Cái chặn đường. Lê Niệm và Ngô Hồng tung
quân ra đánh thốc vào quân Chiêm, quân Chiêm đại bại.
Trà Toàn sợ quá dâng biểu xin hàng. Lê
Thánh Tôn bảo bọn Lê Quyết Trung rằng: "Chí khí chiến đấu của giặc đã rã
rời, khí c đánh thành của ta đã đầy đủ. Nay quân sĩ trèo lên thành, chỉ
thúc một hồi trống cũng có thể phá được thành". Rồi nhà vua lại dụ các
tướng sĩ: "Trong lúc thành Trà Bận đã bị hạ, các kho tàng đều phải niêm
phong, canh giữ không được thiêu hủy, bắt sống chúa Chiêm Thành là Trà
Toàn giải đến hành doanh không được giết hại".
Rồi nhà vua ra lệnh đánh thành. Thành
Chà Bàn bị vỡ. Quân Đại Việt loại ra ngoài vòng chiến hơn bảy vạn người.
Trà Toàn cũng bị bắt sống và bị giải đến trước Lê Thánh Tôn.
Chiến thắng năm 1471 của Lê Thánh Tôn
đối với Trà Toàn là một đòn chí tử làm cho nước Chiêm Thành đi đến chỗ
bị tiêu diệt.
Thành-phần quân Thủy triều Lê-Thánh-Tôn
Dưới triều Lê Thánh Tôn, thủy quân của
nước Đại Việt càng ngày càng hùng mạnh và đã lập được nhiều chiến công.
Nhà Lê có nhiều loại chiến thuyền lớn nhỏ, có chiến thuyền được trang bị
bằng hỏa khí. Năm 1465 Lê Thánh tôn đã ban phép trận đồ cho thủy quân và
bộ binh thao-dượt.
Thủy-quân nhà Lê (1428-1527) tổ-chức
quy-củ, thành-phần là các trai tráng khoẻ mạnh, giỏi nghề bơi lội.
Thủy-quân chia ra làm 4 đội, có danh như sau:
- Hải-Hồng-Quân
- Hải-Mã-Quân
-Hải-Kình-Quân
-Hải-Điểu-Quân.
Thủy-quân thời chiến tranh Lê-Mạc
Như mọi người đều biết năm 1527, Mạc
Đăng Dung giết hoàng đệ Xuân cướp ngôi vua của nhà Lê. Năm 1529 Nguyễn
Kim khởi nghĩa ở Sầm Châu chống lại nhà Mạc. Từ đấy bùng ra cuộc nội
chiến giữa một bên là nhà Mạc, một bên là nhà Lê. Chiến tranh Lê - Mạc
chưa chấm dứt, thì từ năm 1627 đến năm 1672 lại bng ra chiến tranh Trịnh
- Nguyễn.
Trong chiến tranh Lê - Mạc, chúng ta
thấy họ Mạc nhiều lần dùng quân thủy đánh quân Lê. Tháng 9 năm „t Sửu
(1563) tướng Mạc là Mạc Kinh Điển đem chiến thuyền vượt biển đánh vào
Thanh Hóa. Thủy quân Mạc vào cửa Linh Tràng rồi thừa thắng đánh phá các
huyện Thuần Hựu, Hoằng Hóa, giết quân Lê - Trịnh đến mấy ngàn người.
Tháng giêng năm Nhâm Thân (1572), tướng
Mạc là Lập Bạo đem hơn sáu mươi chiến thuyền vượt biển đánh vào đất
Thuận Hóa. Lập Bạo bị Nguyễn Hoàng dùng mưu giết chết.
Tháng 7 năm Mậu Dần (1578), Mạc Kinh
Điển lại vượt biển đánh vào Thanh Hóa, nhưng thất bại.
Năm Kỷ Mão (1579) Mạc Kinh Điển, năm Tân
Tị (158 Mạc Đôn Nhượng lại đem thủy quân vào đánh Thanh Hóa, nhưng bị
thua to.
Tháng 11 năm Nhâm Thìn (1592), Trịnh
tùng cho đem 500 chiến thuyền đi đánh Mạc Mậu Hợp ở Kim Thành. Quân Mạc
thua to, Mậu Hợp bỏ quân doanh chạy trốn.
Thủy-quân thời Nhà Lê trung-hưng
Nhà Lê trung-hưng, vua Lê làm vì và chúa
Trịnh nắm quyền. Hệ-thống quân-lực trở nên phong-phú.
Đơn-vị thấp nhất là Đội, có 20 người.
Cơ có 20 đội (400 người).
Vệ gồm 5 hay 6 Cơ (2000 đến 2400 ngườI)
Ngoài ra bên Vệ có Tứ là đơn-vi có 100
người.
Thuyền có từ 40 đến 50 người.
Tổng-số quân-đội khi động-viên có
115.000 ngườI, 10,000 ngựa và 600 voi trận. Thủy-quân có 500
chiến-thuyền đàu mũi sơn son thếp vàng, mỗi chiến-thuyền có 26 tay chèo
và được bố-trí 3 đại-bác 14 livres gọi là thần-công. Thuyền chiến của
nhà Lê thuở đó có cái lớn hơn chiến thuyền của các nước Âu-châu. Các
giáo-sĩ Alexandre De Rhodes và Tisannier trong ký-sự khen quân-lực của
chúa Nguyễn hùng-hậu hơn cả Pháp và Bồ-Đào-Nha.
Theo Cố Alexandre De Rhodes,
chiến-thuyền của Thủy-quân chúa Trịnh vận-chuyển mau lẹ, trang-bị
hoả-lực hùng-hậu có thể khuất-phục được cả những chiến-hạm Âu-Châu
thường lai-vãng trên Biển Đông hồi đó.
Chiến tranh Trịnh - Nguyễn
Chiến tranh Trịnh - Nguyễn lần thứ nhất
kéo dài đến 45 năm. Trong 45 năm này, nói chung họ Trịnh khởi thế công,
họ Nguyễn chủ yếu chỉ làm cái công việc bảo vệ đất đai của họ. Trong tất
cả các đợt tấn công, họ Trịnh chủ yếu dùng quân bộ. Năm 1774 khi Hoàng
Ngũ Phúc vâng lệnh Trịnh Sâm mang quân vào Nam đánh chúa Nguyễn, quân
đội của Trịnh cũng tiến theo đường bộ. Nghĩa là sau khi chiếm châu Bố
Chính, quân Trịnh vượt sông Gianh, rồi tiến đến Bồ Đề huyện Minh Linh.
Đến đây, Ngũ Phúc cho người cầm thư đưa cho chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc
Thuần khuyên Phúc Thuầm sớm đầu hàng.
Nguyễn Phúc Thuần một mặt sai bắt Trương
Phúc Loan nộp cho Hoàng Ngũ Phúc, và dâng vàng bạc để xin bãi binh,
nhưng một mặt khác vẫn đem quân ra chống cự: Nhưng rồi chúa Nguyễn vẫn
phải bỏ Phú Xuân. Sau khi chiếm được Phú Xuân, quân Trịnh lại vượt đèo
Hải Vân tiến vào Quảng Nam. Đến Quảng Nam, quân Trịnh hầu như kiệt sức.
Binh sĩ ốm đau rất nhiều. Chừng một nửa binh sĩ đã chết vì bệnh dịch.
Giả sử quân Trịnh tiến đánh miền Nam
theo đường biển, thì quân sĩ đâu có đến nỗi vất vả, khó nhọc như thế.
Như thế không có nghĩa là họ Trịnh quân
có thủy quân. Khi lên làm chúa, Trịnh Doanh đã chú ý đến thủy quân.
Tháng 6 năm Giáp Tuất (1759), Trịnh Doanh đã tổ chức một cuộc diễn tập
thủy quân ở sông Hồng. Sử cũ chép rằng: "Thủy binh bày hàng chiến thuyền
ở giữa sông, dung nghi quân sĩ rất chỉnh tề, bơi chèo ngược dòng nước,
thuyền phóng đi như bay". Nhưng nói chung, thủy quân xứ Đường ngoài
không có gì là hùng mạnh cả. Đó là lý do chủ yếu khiến cho trong tất cả
các lần đánh miền Nam, họ Trịnh không dám dùng thủy quân làm lực lượng
chính.
Hồi nửa cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Hữu
Chỉnh cũng nổi tiếng là một viên tướng có tài chiến đấu trên mặt nước.
Khi theo Hoàng Đình Bảo, Nguyễn Hữu Chỉnh lập nhiều chiến công trên mặt
biển, cho nên được cử sang chỉ huy đội tuần hải, rồi được cử sang chỉ
huy cơ Tiền Ninh thuộc Nghệ An.
Những trận thủy-chiến thời Tây-Sơn
Trong lịch sử Việt Nam, quân Tây Sơn nổi
tiếng là đội quân đánh bộ cũng giỏi, mà đánh thủy cũng giỏi.
Năm 1782, Nguyễn Huệ chỉ huy chiến
thuyền tiến vào cửa Cần Giờ đánh quân Nguyễn ở Ngã bảy. Quân Nguyễn thua
to phải rút về thủ hiểm ở Ba Giòng. Sau đó, Nguyễn Huệ lại đem chiến
thuyền đến Lữ Phụ, bày trận quay lưng ra sông đánh quân của Nguyễn Ánh,
Quân Tây Sơn đánh rất hăng, phá tan quân Nguyễn. Nguyễn Ánh phải chạy
trốn ra đảo Phú Quốc.
Năm 1783, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ lại
dẫn thủy quân Tây Sơn vào cửa Cần Giờ đi ngược dòng sông đánh quân của
Chu Văn Tiếp. Quân của Chu Văn Tiếp tan vỡ. Nguyễn Ánh lại chạy về Ba
Giồng. Nguyễn Hoàng Đức đi hộ vệ Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn bắt sống.
Nguyễn Ánh phải cưỡi thuyền chạy ra đảo Côn Lôn. Phó mã Tây Sơn là
Trương Văn Đa mang chiến thuyền đuổi theo, suýt bắt được Nguyễn Ánh.
Xem bên trên, chúng ta thấy thủy quân
Tây Sơn mỗi lần vào Gia Định, họ tung hoàng ở khắp mọi nơi, họ đánh đâu
thắng đấy.
Trận cả phá quân xâm lược Xiêm và quân
bản bộ của Nguyễn Ánh đầu năm 1785 lại càng làm cho mọi người phải khâm
phục.
Theo yêu cầu của Nguyễn Ánh, vua Xiêm là
Chất Tri năm 1784 đã cho hai tướng là Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem năm
vạn quân và 300 chiến thuyền sang xâm lược miền Gia Định.
Năm 1784 sau khi kéo vào Gia Định, thủy
quân Xiêm chiếm Kiên Giang, rồi Trấn Giang, Sa Đéc. Cuối cùng quân Xiêm
và quân của Nguyễn Ánh đánh chiếm Trà Tân và Ba Lai, Ba Lai là miền đất
thuộc tỉnh Bến Tre sau này nằm ở bờ Nam sông Ba Lai đối diện với thị xã
Mỹ Tho nằm ở bờ Bắc. Trà Tân nằm ở tả ngạn sông Mỹ Tho đối diện với mỏm
tây của cù lao Năm Thôn.
Chiếm được Trà Tân và Ba Lai, quân Xiêm
và quân của Nguyễn Ánh có căn cứ để đánh tỏa ra chiếm địa điểm ngày nay
là thị xã Mỹ Tho, Sài Gòn và các địa điểm khác thuộc ba tỉnh miền Đông.
Sau khi đem chiến thuyền vào Sài gòn,
Nguyễn Huệ đã nghiên cứu rất kỹ tình hình ta và địch. Ông quyết định
muốn tiêu diệt quân Xiêm, phải đánh nhanh, và phải tiêu diệt chúng ở
Rạch Gầm - Xoài Mút. Chủ lực quân Xiêm đóng Long Hồ và Trà tân, lừa
chúng ra khỏi Long Hồ và Trà Tân rồi nhử chúng vào khúc sông Mỹ Tho từ
Rạch Gầm đến Xoài Mút để tiêu diệt chúng là tốt nhất.
Bố trí xong trận địa phục kích Rạch Gầm
- Xoài Mút, Nguyễn Huệ cho một đội khinh thuyền ngược dòng sông Mỹ Tho
tiến đến Trà Tân hoặc tiến đến gần Long Hồ (Vịnh Long) khiêu chiến. Từ
ngày vào Gia Định, quân Xiêm thắng trận luôn luôn; quân của Nguyễn Ánh
cùng thắng trận luôn luôn và chưa hề thất trận một lần nào. Thấy quân
Tây Sơn kéo đến khiêu chiến, tướng Chiêu Tăng và tướng Chiêu Sương dốc
toàn lực ra đuổi đánh với ý định là sau khi đai tiêu diệt cánh quân Tây
Sơn đến khiêu chiến, sẽ thừa thắng đánh Mỹ Tho và Sài Gòn để tiêu diệt
toàn bộ quân Tây Sơn hay đuổi chúng ra ngoài biển cả.
Khi tung lực lượng ra đánh quân Tây Sơn,
tướng Chiêu Tăng và tướng Chiêu Sương lại thấy quân Tây Sơn thua chạy.
Họ lại càng chủ quan khinh địch, thúc quân Xiêm đuổi theo quân Tây Sơn.
Đến ngã ba sông Cửu Long và sông Cái Bé, quân Tây Sơn men theo cù lao
Cồn Tiên, cù lao Cồn Ông mà chạy để rồi rẽ vào sông Mỹ Tho.
Vào sông Mỹ Tho, quân Xiêm thấy khúc
sông này quang đãng, họ lại càng thúc chiến thuyền tiến nhanh đuổi quân
Tây Sơn. Khi đoàn chiến thuyền Xiêm đã lọt vào trận địa phục kích Rạch
Gầm - Xoài Mút, thì từ cửa Rạch Gầm, chiến thuyền Tây Sơn đổ ra đánh
quân Xiêm bằng súng lớn. Từ trên bờ sông Mỹ Tho, bộ binh Tây Sơn cũng
dùng súng lớn bắn vào chiến thuyền Xiêm. Đội hình đoàn chiến thuyền Xiêm
rối loạn. Giữa lúc quân Xiêm đang hoảng hốt, thì từ cửa Xoài Mút, lại có
một đoàn chiến thuyền Tây Sơn đổ ra đánh thúc vào giữa, cắc đoàn chiến
thuyền Xiêm ra làm hai khúc. Quân Xiêm đang bị đánh tơi bời như thế, thì
Nguyễn Huệ lại mang chiến thuyền đến tăng viện cho quân mình. Lực lượng
chiến đấu của quân Tây Sơn lại càng dồi dào, tinh thần chiến đấu của họ
lại càng phấn chấn.
Toàn bộ chiến thuyền Xiêm bị dồn vào một
trận địa chỉ dài có năm hay sáu kí-lô-mét và rộng độ một hoặc hai hai
ki-lô-mét trên một khúc sông quang đãng. Việc tiêu diệt chúng bằng súng
từ các phía rất thuận lợi.
Quân Xiêm bị hãm vào một tình thế hết
sức hiểm nghèo, họ chỉ có thể chọn một trong hai để rồi bị bắn chết hay
bị chết đuối ngay tại trận, hoặc nhảy xuống sông liều chết bơi vào bờ để
tìm đường chạy trốn. Cuối cùng một toán quân Xiêm chừng độ hai ngàn
người trong đó có tướng Chiêu Tăng và tướng Chiêu Sương liều chết đổ bộ
lên một địa điểm nào đó trên bờ sông Mỹ Tho để rôi có sống có chết
....... về phía ngày nay là ấp Thượng, ấp Trung. „p Nam, ấp Tây để chạy
về địa điểm ngày nay là ấp Bắc. Từ ấp Bắc họ chạy về phía Đồng Tháp Mười
rồi vượt Đồng Tháp Mười chạy về Châu Lạp, để rồi từ Châu Lạp chạy về
nước.
Như vậy là chỉ trong một trận, quân Tây
Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã diệt năm vạn quân Xiêm và hầu như toàn bộ
quân bản bộ của Nguyễn Ánh.
Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút đầu năm
1785 được ghi vào lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam
như một trận tiêu diệt chiến lớn vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc
chúng ta: Chỉ trong một trận, quân Tây Sơn đã tiêu diệt 48000 quân Xiêm
và mấy ngàn quân bản bộ của Nguyễn Ánh.
Trận Rạch Gầm - Xoài Mút như một đòn sấm
sét đánh vào toàn bộ quân địch, nó làm cho quân bản bộ của Nguyễn Ánh
đóng ở Trấn Giang, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc, Ba Xắc Ba Lai, Long Hồ tan
rã hoàn toàn.
Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập
quyển 30 chép rằng sau chiến thằng Rạch Gầm - Xoài Mút, người Xiêm sợ
quân Tây Sơn như cọp.
Năm 1786, Nguyễn Huệ lại dùng thủy quân
tiến ra Bắc đánh họ Trịnh. Ông sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem thủy quân vượt
biển ngược dòng sông vào chiếm Vị Hoàng (thị xã Nam Định ngày nay).
Chiến thuyền Tây Sơn vào Vị Hoàng, viên trấn thủ Vị Hoàng bỏ chạy. Chỉnh
đoạt được tất cả các kho lương có đến một trăm vạn hộc thóc. Chỉnh sai
đốt lửa báo tin cho Nguyễn Huệ. Ngày ấy là mồng 6 tháng 6 năm Bính Ngọ
(1786).
Nguyễn Huệ dẫn đại đội chiến thuyền đi
sau Nguyễn Hữu Chỉnh. Đoàn chiến thuyền của Nguyễn Huệ ra đến Nghệ An,
thì gặp gió nồm. Mấy trăm chiến thuyền của ông lướt trên mặt biển như
bay, khí thế thật là hùng vĩ. Phụ lão Nghệ An và Thanh Hóa đã chứng kiến
các khí thế ấy, họ thua:
- Thật là một hành động ít có ở đời!
Việc quân Tây Sơn chiếm Vị Hoàng làm
chấn động Thăng Long và các trấn. Chúa Trịnh Khải vội sai Thái đình hầu
Trịnh tự Quyền đem bộ binh xuống Sơn Nam. Định Tích Nhưỡng được lệnh đem
thủy quân đến Lỗ Giang đón quân Tây Sơn. Đinh Tích Nhưỡng dàn chiến
thuyền thành hàng chữ nhất để đón đánh chiến thuyền Tây Sơn. Đến đêm,
Nguyễn Huệ cho năm chiến thuyền tiến thẳng vào hàng trận chiến thuyền
của Đinh Tích Nhưỡng. Quân lính của Tích Nhưỡng tranh nhau bắn. Năm
chiến thuyền của Tây Sơn không bắn trả lại. Đến sáng, Tích Nhưỡng mới
biết năm chiếc thuyền ấy là năm chiếc thuyền không. Thuốc đạn của Tích
Nhưỡng đã hết cả rồi. Lúc ấy, chiến thuyền Tây Sơn thuận gió tiến lên,
đại bác của Tây Sơn nổ ầm trời. Một cây cổ thụ trúng đạn đổ. Quân của
Trịnh Tự Quyền tan vỡ. Đinh Tích Nhưỡng vội chạy trốn. Trấn thủ Sơn Nam
là Đỗ thế Dận cũng chạy trốn.
Chiến thuyền Tây Sơn thừa thắng tiến
thẳng đến Hiến Doanh (tức Phố Hiến thuộc Hưng Yên cũ). Thăng Long náo
động. Trịnh Khải phải gọi lão tướng Hoàng Phùng Cơ trấn thủ Sơn Tây về
để chống giữ Thăng Long. Phùng Cơ cho bộ binh đóng ở hồ Vạn Xuân, thủy
quân đóng ở bến Thúy Ái nhằm chặn đường quân Tây Sơn tiến vào Thăng
Long. Nhưng bộ binh và thủy binh Trịnh bị quân Tây Sơn phá tan. Nguyễn
Huệ cho binh sĩ ở trên thuyền vừa hò reo vừa đánh trống tiến thẳng đến
bến Tây Luông. Hoàng Phùng Cơ vội chạy trốn. Trịnh Khải mang kiêu binh
ra chống cự, nhưng kiêu binh bị quân Tây Sơn đánh bại. Trịnh Khải phải
bỏ chạy lên phía Sơn Tây và cuối cùng bị bắt ở làng Hạ Lòi, huyện Yên
Lãng, tỉnh Vĩnh Phú.
Năm Mậu Thân (1788-1789) trên dãy Tam
Điệp, Nguyễn Huệ tổ chức cuộc hành quân đánh đuổi quân Thanh. Trong ba
đạo quân có hai đạo thủy quân. Một đạo do đô đốc Tuyết chỉ huy vượt biển
đánh vào miền Hải Dương để diệt quân Thanh ở đó; một đạo do đô đốc Lộc
chỉ huy vượt biển tiến vào sông Bạch Đằng, rồi sông Lục Đầu để cuối cùng
đổ bộ lên miền Phương Nhỡn (Lục Ngạn) để chặn đánh Tôn Sĩ Nghị ở đấy.
Tài liệu lịch sử không cho biết gì về
đạo thủy quân do đô đốc Tuyết chỉ huy. Nhưng về cuộc hành quân của đô
đốc Lộc, thì chúng ta được biết rằng đến huyện Phương Nhỡn, bọn Tôn Sĩ
Nghị vừa xuống ngựa nghỉ, thì bỗng có tin báo quân Tây Sơn do đô đốc Lộc
chỉ huy đang tiến nhanh đến chỗ Tôn Sĩ Nghị đang nghỉ! Thế là Sĩ Nghĩ
vội quẳng cả sắc thư, ấn tin, cờ hiệu, bài lệnh, bản đồ rồi cùng bộ hạ
chạy trốn cho nhanh để khỏi bị bắt sống cả lũ!
Trong các trận đánh địch, thủy quân Tây
Sơn cũng biết sử dụng đặc công và nhờ vậy dễ làm cho địch hoang mang,
tan rã.
Sau khi quân Xiêm bị quân Tây Sơn đánh
bại vào đầu năm 1785, Nguyễn Ánh dựa vào giai cấp tư bản phương Tây. Bọn
tư bản phương Tây đã giúp Nguyễn Ánh súng đạn, người và kỹ thuật đóng
tàu biển. Khi Nguyễn Huệ mất, Nguyễn Ánh mở cuộc tấn công quy mô vào lực
lượng Tây Sơn. Quân đội của y khi thắng, khi bại. Đến khi mâu thuẫn nội
bộ trong phong trào Tây Sơn trầm trọng đến mức bùng ra thành cuộc xung
đột công khai, thì Nguyễn Ánh phản công thắng lợi, đánh chiếm được Phú
Xuân, rồi đánh chiếm Bắc Hà. Nhà Tây Sơn sụp đổ.
Nguyễn-Huệ với cuộc cách-mạng về
Chiến-Lược Thủy-Quân
Trước giai-đoạn suy-tàn của quân-thủy
Việt-Nam, chúng ta cũng dã có một cuộc cách-mạng về Chiến-Lược
Thủy-Quân. Chỉ tiếc rằng công-trình đó không có người thừa kế
Nhìn các bức họa của Quang-Trung
Hoàng-Đế, không ai thấy nhà vua từng tác-chiến trên tàu thuyền. Nhưng
theo Giáo-sư Nguyễn-Nhã, Nguyễn-Huệ đã làm một cuộc cách-mạng quân-sự
quan-trọng: đó là việc sử-dụng 'Thủy-quân Chiến-Luợc'.
Cuộc tương-tranh Trịnh-Nguyễn kéo dài 45
năm, 7 lần đại-chiến; bất phân thắng bai. Hai bên không có bên nào thắng
vì cả hai đều áp-dụng chiến-thuật, chiến-lược cổ-điển. Một khi đới đàu
với Chiến-lược mới của Nguyễn-Huệ, cả hai quân-đội đều bị tan rã.
Không phải quân Trịnh hay quân Nguyễn đã
không có Thủy-quân. Theo Alexandre de Rhode (Rhode du Vietnam... ),
lực-lượng chúa Nguyễn có khoảng 200 chiến-thuyền, còn thủy-quân chúa
Trịnh còn nhiều hơn tới ba lần. Tuy vậy thủy-quân của hai Chúa chỉ đóng
vai phụ-thuộc hay yểm-trợ, không bao giờ được nắm giữ vị-thế tối
quan-trọng như thủy-quân Tây-Sơn.
Trong các cuộc đánh chiếm Gia-Định,
Phú-Xuân cũng như ra Bắc-Hà để diệt hai họ Nguyễn, Trịnh; Nguyễn-Huệ
luôn tiến đại-quân bằng đường thủy. Nguyễn-Huệ là chiến-lược-gia đại-tài
về 'chiến-lược gió mùa', lợI-dụng đường biển và mùa gió đại-thắng
địch-quân.
Nguyễn-Huệ thấy rõ vai trò quyết-định
của thủy-quân đối với một chiến-trường có bờ biển dài như bờ biển
Việt-Nam. Vào thời bấy giờ, đường thủy là phương tiện chính, chuyên chở
được nhiều nhất và mau lẹ nhất, rất thích-hợp với đánh nhanh, đánh mạnh
và bất ngờ.
Dùng đường thủy lại có thể đánh tập-kích
sâu vào hậu-tuyến địch một cách dễ dàng.
Nếu xưa kia, quân Trịnh cũng dùng đường
thủy là cốt yếu tiến đánh thốc vào thành Phú-Xuân và hậu-tuyến của
đối-phương thì quân Nguyễn thật khó lòng chống đỡ, và chiến-lũy
Trường-Dực tất sẽ thành vô-dụng...
Cũng như vậy, trong cuộc chiến Việt-Nam
Cộng-Hoà và Cộng-Sản Bắc-Việt, tất cả chiến-lược, chiến-thuật đều được
hoạch-định kiểu diện-địa và hoàn-toàn mang tính-chất bộ-chiến. Nếu như
VNCH thực-hiên được những chuyến tấn-công đường biển vào hậu-phương của
địch ngoài Bắc-Việt, tình-thế ắt đã đổi khác.
(Còn tiếp)
Vũ Hữu San
Phụ-Chú:
- Trần-Trọng-Kim, Việt-Nam Sử-Lược,
Quyển 1, Bộ Giáo-Dục, Trung-tâm Học-liệu, Sài-Gòn 1971, trang vii.
- Donald Worster, Rivers Empire, 1985.
- Việt-sử Toàn-thư, Phạm-Văn-Sơn,
Sài-gòn 1960, các trang 23, 28.
- The Art of Indochina, Bernard Philippe
Groslier, translated by George Lawrence, Crown Publishers, Inc., New
York, 1962, p. 21.
- Keith Weller Taylor, The birth of
Vietnam, University of California Press, 1983, p.p. 6-7.
- Sopher, David E., The Sea Nomads: A
Study Based on the Literature of the Maritime Boat People of Southeast
Asia, Printed by Lim Bian Han, Government Printer: Singapore, 1965.
- New World perpectives on pre-European
voyaging in the Pacific, sưu-tập Early Chinese Art and its Possible
influence in the Pacific Basin, Vol. 3, edited by Noel Bernard, New
York, 1969.
- William Meacham, "Origins and
Development of the Yủeh Coastal Neolithic: A Microcosm of Culture Change
on the Mainland of East Asia", viết tắt Origins and Development of the
Yủeh, sưu-tập "The Origins of Chinese Civilization", edited by David N.
Keightley, London 1983: 147-175.
- The Art of Indochina, Bernard Philippe
Groslier, translated by George Lawrence, Crown Publishers, inc., New
York, 1962, trang 39.
- Wilhelm G. Solheim II, "New Light on a
Forgotten Past", National Geographic, Vol.139, No.3, March 1971.
- Wilhelm G. Solheim II, "World
Ethnographic Sample ... A Possible Historical Explanation," American
Anthropologist 70, 1968: 569.
- (a) Tài-liệu "Migrations from
southeast Asia to Australia":
- A. G. Thorne, "Mungo and Kow Swamp:
Morphological Variation in Pleistocene Australians," Mankind, 8:2
(197, 85 - 89; R. L. Kirk and A. G. Thorne eds., The Origins of the
Australians, Canberra, Australian Institute of Aboriginal Studies, 1976;
Alan Thorne and Robert Raymond, Man on the Rim: Peopling of the Pacific,
Sydney, Angus and Robertson, 1989.
- (b) Tài-liệu "Genetics study linking
southeast Asians and Australians":
- Joanna Mountain et al., "Evolution of
modern humans: evidence from nuclear DNA polymorphisms," in
Philosophical Transactions of the Royal Society of London, 337(1992),
159-65. Evidence of early man in northern Australia: R. G. Roberts et
al., "Thermoluminescence dating of a 50,000-year-old human occupation
site in northern Australia," Nature, 345(1990), 153-56.
- Keith Buchanan, The Southeast Asian
World, New York, 1967, trang 45
- Sumet Jumsai, Naga: Cultural Origins
in Siam and the West Pacific, Singapore, Oxford University Press, 1988,
p.4.) Vùng châu-thổ Sông-Hồng, Sông Mã có lẽ đã hội-tụ nhiều yếu-tố
thuận-tiện nhất cho sự phát-triển ở Đông-Nam-Á, ngay từ những ngày xa
xưa đó.
- Peter Bellwood, Man's Conquest of the
Pacific, The Prehistoric of Southeast Asia and Oceania, Oxford
University Press, 1979.
- Chester Norman, The Hoabinhian and
After: Subsistence Patterns in Southeast Asia during the Late
Pleistocene and Early Periods, World Archaeology 2, No. 3, 1971:
300-320.
- Fairbridge, R., The Changing Level of
the Sea, Scientific American, 1960, No. 202, 6:70-79)
- Sưu-tập "The Origins of Chinese
Civilization", edited by David N. Keightley, London 1983
- William Meacham, "Origins and
Development of the Yủeh Coastal Neolithic: A Microcosm of Culture Change
on the Mainland of East Asia", sưu-tập "The Origins of Chinese
Civilization", edited by David N. Keightley, London 1983: 147-175.
Nguyên-văn của Meacham như sau: Through the Yủeh of the Han-era may have
acquire on occasion some of the trappings of Chinese civilization, most
of the Yủeh people should not considered Chinese...
- Funk & Wagnalls New Encyclopedia,
Vol.23, New York, 1992, từ-mục: Transportation.
- Connaissance du Việt-Nam, Pierre Huard
và Maurice Durand, Hanoi 1954, trang 232. Sự hiểu biết của hai học-giả
này về Việt-Nam rất rộng rãi, đặc-biêt về hàng-hải đã làm cho chính
người Việt-Nam giựt mình.
- Carl Sauer, Environnement and Culture
During the Last Deglaciation, trong Proceedings of the American
Philosophical Society Vol. 92, 1948, pp. 65-77.
- William J. Duiker, trong "Historical
Dictionary of Vietnam, Asian Historical Dictionaries, No. 1", The
Scarecrow Press, Inc. Metuchen, N.J. & London 1989; cho rắng trong thời
nước Âu Lac, dân miền Núi Non và Đồng Bằng hợp nhất.
- Donald G. McCloud, Southeast Asia,
Tradition and Modernity in the Contemporary World, Westview Press,
Boulder, 1995, p. 11.
- (a) John K. Whitmore "Elephants Can
Actually Swim", Contemporary Chinese Views of Late Ly Dai-Viet pp.
117-138. (b) Keith Taylor "Authority and Legitimacy in 11th Century
Vietnam" pp.139-176. ờ E.S. Ungar "From Myth to History, Imagined
Polities in 14th Century Vietnam", pp.177-185. (d) Tran Quoc Vuong
"Traditions, Acculturation, Renovation: The Evolutional Pattern of
Vietnamese Culture", pp. 271-278
- Needham, Joseph, Wang Ling and Lu
Gwei-Djen cho dẫn-chứng một đoạn như sau:"... Merchant-ships (ku
chhuan7) of the barbarians (may) transport them (part of the way) home
again. But (these barbarians) also, to get more profit (sometimes) rob
people and kill them. Moreover (the travellers) may encounter storms and
so drown. Even if nothing (of this kind happens, they are) away for
several years". Sách "Science and Civilisation in China, vol. 4: Physics
and Physical Technology, part III: Civil Engineering and Nautics";
Cambridge University Press: Cambridge, 1971, trang 443.
- Sách "Lords of the Rim, The Invisible
Empire of the Overseas Chinese, J. P.Putman's Son, New York, 1995.
- Vũ Minh Giang - Nguyễn Việt, Đất nước,
con người Việt nam và Truyền thống giỏi Thủy-chiến, Sử Học số 2 -Những
vấn đề khoa học lịch sử ngày nay, Hà Nội, năm 1979, trang 323-330.
- Trong bài "Đi tìm Dãu Vết Hùng-Vương",
sách "Hương-Trà", (Sài-Gòn, 1968, trang 99) Ông Dỗ-Trọng-Huề viết: Những
thần-thoại được ghi chép đầu tiên trong hai cuốn dã-sử soạn trong thế-kỷ
XIV: Việt-điện u-linh tập của Lý-Tế-Xuyên và Lĩnh-Nam chích-quái của
Trần-thế-Pháp
- Phạm-Văn-Sơn, Việt-sử Toàn-thư,
Sài-gòn 1960, trang 46.
- Keith Weller Taylor, The Birth of
Vietnam, University of California Press, 1983, Chapter I
- Col. Victor Croizat, USMC, The Brown
Water Navy - The River and Coastal War in Indo-China and Vietnam,
1948-1972, , Blanford Press, 1984, Quan niệm của Đại-tá Croizat về
tiến-trình "Hải-quân đi từ Thủy-Quân Nước Nâu" rất đúng cho Hải-Quân các
nước Tây-phương.
- Trần-Quốc-Vượng, Trong Cõi - Những ý
kiến về lịch-sử, truyền thống và hiện trạng dân tộc của một sử gia trong
nước, Garden Grove, CA, 1993, trang 57-58.
- Eldon Best, Polynesian voyagers: the
Maori as a deep-sea navigator, explorer, and colonizer. N. Z. Dom. Mus.
Monogr., no. 5. 1923: 11-14.
- Stephen C. Jett, "Diffusion versus
Independent Development" sưu-tập "Man Across the Ocean", edited by
Carroll L. Riley, Austin, 1971, trang 18.)
- Paul Shao viết: "It is my belief that
while the cultural motifs diffused to Mesoamerica were primarily Chinese
in character, the cultural transmitter was mostly non-Chinese". (Paul
Shao, Chinese Influences in Pre-Classic Mesoamerica Art, sưu-tập
Diffusion and Migration: Their Roles in Cultural Development, edited by
P. G. Duke, trang 202-205, University of Calgary, Canada, 1983).
- Sách "Trống Đông-Sơn"
(Phạm-Minh-Huyền, Nguyễn-Văn-Huyên, Trịnh-Sinh; Viện Khảo Cổ Học, Hà
Nội, 1987, trang 231
- Lê Nhâm Tuyết, Một số phong tục thời
Hùng Vương qua những hình ảnh trên trống đồng, Tạp-chí Khảo Cổ Học số
14, 1974, trang 61.
- A History of South East Asia, Fourth
Edition, London 1981: 8.
- Peter Bellwood, Man's Conquest of the
Pacific, The Prehistoric of Southeast Asia and Oceania, Oxford
University Press, 1979, p. 266.
- Tác-giả "The Birth of Vietnam",
University of California Press, California, 1983.
- Nguyễn Duy Hinh, Trống Đồng trong Sử
Sách, Khảo Cổ Học số 13, 1974, trang 18-35.
- Lý Tế Xuyên, Việt Điện U Linh (1029).
- Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư
(1479).
- Vũ Quỳnh, Lĩnh Nam chích quái
(1492-1493).
- Quốc-Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam
nhất thống chí, (1882, 1909) .
- Sách "Trống Đông-Sơn" (Phạm Minh
Huyền, Nguyễn-Văn-Huyên, Trịnh-Sinh; Viện Khảo Cổ Học, Hà Nội, 1987,
trang 15 ghi: Những sử liệu này tuy còn ít ỏi nhưng đã tập trung phản
ánh một sự thật về vai trò của trống đồng trong lịch sử dân tộc ta.
Trống đồng được sử dụng làm đồ thờ, được thần hóa, biểu diễn tính chất
thiêng liêng trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Việt. Thần
trống đồng được viện dẫn ra để bảo vệ các vương triều phong kiến, nó
gián tiếp dự phần đấu tranh chống xâm lược của nhân dân ta. Trống đồng
là một vật thiêng phản ánh truyền thống dân tộc còn lưu lại nhiều qua
các sử liệu không thành văn hay sử liệu dân tộc học.
- D. R. SarDesai, The Struggle for
National Identity, Westview Press Colorado, 1992, p. 10; viết như sau
Dong-son (the most famous site of the Late Bronze Age, 800-300 B.C.).
Although the archaeologist's spade has uncovered substantial quantities
of bronze arrowheads in Dong Dau and Go Mun...
- Xem bài viết và hình vẽ : Victor
Golubew, "L'age de Bronze au Tonkin et dans le Nord-Annam" (Hanoi:
BEFEO, 1929),
- Văn Tân, V ai trò của Thủy Quân
Việt-Nam trong lịch-sử dân-tộc (Từ Thời-đại Hùng-Vương đến Thế-kỷ XIX),
trong "Nghiên-cứu Sử-học số 5", Hà Nội, tháng 9, 1977.
- Tôn Nữ Quỳnh Trân. Lịch Sử Việt Nam,
Nhà xuất-bản Trẻ, Sài-Gòn 1997, trang 25-26.
- Grousset René, The Rise and Splendour
of the Chinese Empire, Barnes & Noble, Inc. 1992, tr 79.
- The Junks & Sampans of the Yangtze,
Naval institute Press, Annapolis 1971.
- Recherches on Ptolemy's Geography of
Eastern Asia, Colonel G. E. Gerini, M.R.A.S., London, 1909.
- Nguyễn-khắc-Ngữ, Bồ-đào-Nha,
Tây-ban-Nha và Hoà-Lan giao-tiếp với Đại-Việt; Montréal, 1988: trang 16.
- "MacCrindle's Ancient India as
described by Ptolemy (first printed 1884), revised by Ramchandra Jain,
New Delhi, 1984.
- Các sách tham khảo: "Anh Hùng Nước
Tôi", Cao Thế Dung "Việt-Nam Binh-Sử Võ-Đạo", Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn
Bá Thế "Nhân-vật Lịch-Sử Việt-Nam."
- Ngoài các bộ dã-sử tiểu-thuyết của
Ông, xem thêm những khám-phá mới lạ của Bác-sĩ Trần-Đại-Sỹ trong
"Việt-Nam Đệ Ngũ Thiên kỷ", USA, 1994, (trang 215-241.)
- Trần-Quốc-Vượng, "Trong Cõi, Những ý
kiến về Lịch sử, Truyền thống và Hiện trạng Dân tộc của một Sử gia trong
nước," Hoa-Kỳ, 1993: 13.
- Văn Tân, V ai trò của Thủy Quân
Việt-Nam trong lịch-sử dân-tộc (Từ Thời-đại Hùng-Vương đến Thế-kỷ XIX),
trong "Nghiên-cứu Sử-học số 5", Hà Nội, tháng 9, 1977.
- Chuyện Thủy-Hử của Thi-Nại-Am đã được
dịch ra nhiều thứ tiếng. Tiếc rằng Việt-Nam không có truyện nào về
thủy-công tương-tự.
- Đầm Dạ-Trạch hay đầm Nhất-Dạ, ở
Khoái-Châu, Hưng-Yên -ngày nay.
- Trần-Trọng-Kim,Việt-Nam Sử-Lược, Quyển
1, Bộ Giáo-Dục, Trung-tâm Học-liệu, Sài-Gòn 1971, trang 54.
- Phạm-Văn-Sơn, Quân-lực Việt-Nam dưới
các triều-đại phong-kiến, Bộ Tổng Tham-Mưu QL/VNCH, 1968, trang 51.
- Về môi-trường ngập nước của vùng
châu-thổ sông Hồng, xem "Miền Bắc Khai Nguyên", Cửu-Long-Giang và
Toan-Ánh, Saigon, 1969, "Les Paysans du delta Tonkinois", Pierre Gourou,
Paris first ed. (Paris, 1936), second ed. (Paris, 1965).
- Hoa-Lư nằm trên khu-vực được gọi là
"Hạ-Long trên cạn". Gần nửa năm, nước bao-phủ đồng ruộng. Thôn xóm, núi
non nổi lên như những hải-đảo ngoài khơi. Phương-tiên di-chuyển độc nhất
là thuyền. Khoảng 30 năm nay, vì sự xây cất những con đê ngăn nước,
phong-cảnh đã đổi thay.
- Pierre Huard và Maurice Durand.
"Connaissance du Viet-Nam", Ecole Francaise d' Extrême-Orient, Hanoi,
1954, trang 225, 226.
- Encyclopaedia of Asian Civilizations,
Vol. 9, Louis Frederic, 1984, Paris, từ-mục Trần-Ứng-Long.
- Advanced Research Projects Agency, DOD
Junk Blue Book: A Handbook of Junks of South Vietnam (Washington D.C.):,
1962 - Blue Book of Coastal Vessels, South Vietnam (Columbus, Ohio:
Remote Area Conflict Information Center, 1967 Columbus, Ohio, 1967.
- Nguyễn-Huyền-Anh, Việt-Nam Danh-Nhân
Từ-Điển, Zieleks Co., Texas, 1981, trang 483.
- Thái-Văn-Kiểm: Đất Việt Trời Nam,
Nguồn Sống Sài Gòn, 1960.
- Professor Lê-Đình-Thông, các bài "La
Marine vietnamienne avant l'Arrivée des Francais", (trong sách "Marin et
Océan III", Paris 1992; các trang 53-71.) và bài "Stratégie et Science
du Combat sur l'Eau au Vietnam avant l'Arrivée des Francais", (trong
sách "L'évolution de la Pensée Navale II", Paris, 1992; các trang
2111-229.)
- (Nguyên-văn: Dès leur création, les
armée vietnamiennes accroissent sans cesse la mobilité grâce à la
flotte. La mobilité de la plupart des unités de l'armée des Ly repose
sur la flotte. Par conséquent, toute l'armée est considérée formellement
comme une marine.)
- Văn Tân, Vai trò của Thủy Quân
Việt-Nam trong lịch-sử dân-tộc (Từ Thời-đại Hùng-Vương đến Thế-kỷ XIX),
trong "Nghiên-cứu Sử-học số 5", Hà Nội, tháng 9, 1977.
- Theo Phạm-Văn-Sơn ,Việt-sử Toàn-thư, ,
Sài-gòn 1960, trang 196. Theo Joseph Buttinger, Chàm bắt đầu quấy-nhiễu
Việt trễ hơn, năm 280: "Vietnam : A Political History, Frederick A.
Praeder, Publishers, New York- Washington, 1968, p. 9.) The first
mention of Cham activity is contained in a memorandum of 280 A.D.
written by the governor of a southern Chinese province to the Chinese
emperor
- Phạm-Văn-Sơn, Việt-sử Toàn-thư,
Sài-gòn 1960, trang 196.
- Phan Khoang, Việt-sử xứ Đàng Trong, ,
1558-1777, Sài-Gòn 1967.
- Phạm-Văn-Sơn ,Việt-sử Toàn-thư, ,
Sài-gòn 1960, trang 186
- Trần-Trọng-Kim,Việt-Nam Sử-Lược, Quyển
1, Bộ Giáo-Dục, Trung-tâm Học-liệu, Sài-Gòn 1971, trang 97-98.
- Phạm-Văn-Sơn, Quân-lực Việt-Nam chống
BắcXâm và Nam-Tiến, Bộ Tổng Tham-Mưu QL/VNCH, 1970, trang 48.
- Văn Tân, Vai trò của Thủy Quân
Việt-Nam trong lịch-sử dân-tộc (Từ Thời-đại Hùng-Vương đến Thế-kỷ XIX),
trong "Nghiên-cứu Sử-học số 5", Hà Nội, tháng 9, 1977.
- Văn Tân, Vai trò của Thủy Quân
Việt-Nam trong lịch-sử dân-tộc (Từ Thời-đại Hùng-Vương đến Thế-kỷ XIX),
trong "Nghiên-cứu Sử-học số 5", Hà Nội, tháng 9, 1977.
- Một số Sử-gia bàn rằng : "Nhà Lý thuở
đó đã thấy thế nước vững nên có chủ-trương bành-trướng cương-thổ về
phương Bắc và phương Nam". Xem Phạm-Văn-Sơn, Quân-lực Việt-Nam chống
BắcXâm và Nam-Tiến, Bộ Tổng Tham-Mưu QL/VNCH, 1970, trang 48
- Cuốn tiểu-thuyết lịch-sử "Hoàng thúc
Lý Long Tường" tác-giả Khương Vũ Hạc, dịch-giả Trần Văn Thêm, (Hà Nội
1996, trang 10.) viết hơi khác về chuyến đi tị-nạn sang Đại-Hàn,
đặc-biệt về chức-vị triều-chính của vị Hoàng-thân này. Ông Hoàng Tường
không nắm quyền thủy-quân. Khi đào-thoát ông không có vợ con, chỉ mang
theo 21 người tùy-tùng.
- Trần-Trọng-Kim, Việt-Nam Sử-Lược,
Quyển 1, Bộ Giáo-Dục, Trung-tâm Học-liệu, Sài-Gòn 1971, trang 113-114.
- Tạ Chi Đại Trường, Những Bài Dã-sử
Việt, California, 1996.
- Cl. Madrolle, Le Tonkin Ancien,
B.E.F.E.A. XXXVII
- Phạm-Văn-Sơn, Quân-lực Việt-nam dưới
các Triều-đại Phong-kiến (Từ Thượng-cổ đến Cận-kim) quyển I, Bộ Tổng
Tham-Mưu QL/VNCH, 1968, trang 69.)
- Quân-Lực Việt-nam dưới các Triều-đại
Phong-kiến (Từ Thượng-cổ đến Cận-kim) quyển I, Phạm-Văn-Sơn, Bộ Tổng
Tham-Mưu QL/VNCH, 1968, trang 81.
- Quân-Lực Việt-nam dưới các Triều-đại
Phong-kiến (Từ Thượng-cổ đến Cận-kim) quyển I, Phạm-Văn-Sơn, Bộ Tổng
Tham-Mưu QL/VNCH, 1968, trang 87.
- Việt-Sử Toàn-Thư, Từ Thượng-Cổ đến
Hiện-Đại, Phạm-Văn-Sơn, Sài-Gòn 1960, trang 468.
- Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ
tập, quyển 30)
- Việt-Sử Toàn-thư của Phạm-Văn-Sơn,
trang 613.
- Việt-sử Toàn-thư, Phạm-Văn-Sơn,
Sài-gòn 1960, các trang 23.
|