Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
 
Ẩm Thực
Cảm Nghĩ
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Liên Mạng Thành Viên
Trang Chủ
Hồng Vũ Lan Nhi 1 & 2
Phong Thủy HKH
 

 
 

 

 
   

 

Vietsciences-Trần Viết Điền              26/09/2010
 

Những bài cùng tác giả

Đâu là sự thật về tông tích của Lư Công Uẩn?

                Sự kiện Lư Công Uẩn không có cha cụ thể, mà con của thần nhân, cùng với những câu thơ sấm kí ở làng Cổ Pháp,  rồi những điềm báo có thiên tử ra đời …là biểu hiện của một cuộc vận động chính trị có tổ chức của giới trí thức tam giáo, đứng đầu là nhà  sư đầy tài năng Vạn Hạnh, hoàn thành tâm nguyện trăm năm  của quần chúng mà đại diện ban đầu là thiền sư Định Không của hương Diên Uẩn. Cuộc hôn phối có ư đồ, với đạo diễn kiêm chủ hôn Vạn  Hạnh tại chùa Thiên Tâm, núi Tiêu Sơn, giữa bà Phạm thị Ngà với “vị thần nhân dựa cột chùa”, một người họ Lư đang ẩn tích,   đă được tiến hành. Thiền sư Vạn Hạnh tạo điều kiện cho bà họ Phạm vào rừng gặp “ thần nhân”,  một cuộc hôn nhân bí mật, trong đó cha của Lư Công Uẩn có thể là một người đầy uy vọng của họ Lư vùng Cổ Pháp-Siêu Loại, tức Diên Uẩn-Thổ Lỗi,  đang trong thời ḱ phải mai danh ẩn tích. Sự kiện bà mẹ Lư Công Uẩn phải vào rừng sinh sống, rồi khi đứa bé lên 3, bà phải gửi bé  cho nhà sư Lư Khánh Văn nuôi dạy và cuối cùng giao cho sư Vạn Hạnh đào tạo chú bé  Lư Công Uẩn thành hoàng đế, có thể là cơ sở của giả thuyết vừa nêu. C̣n giả thuyết Lư Công Uẩn là con ruột của sư Vạn Hạnh th́ quá ư táo bạo và bị các nhà sử học bác bỏ. Một vùng đất có nhiều phật tử như Cổ Pháp-Siêu Loại, không thể mù quáng đảnh lễ một vị quốc sư, đứng vào hàng tam bảo, lại làm việc phạm giới luật. Cuộc “cách mạng lam”, chuyển giao quyền lực từ họ Lê, đă mất ḷng dân, sang họ Lư, phản ánh một xu thế mới là thay chế độ quân trị sang nhân trị. Thực ra, việc Lư Vạn Hạnh lănh đạo lớp trí thức tam giáo, ṇng cốt là trí thức Phật giáo, cùng nhau  giáo dưỡng và làm cuộc vận động  để đưa Lư Công Uẩn  lên ngôi vua, là kế thừa « tâm nguyện  » trăm năm kể từ thời thuộc Đường, thế kỷ IX, ấy là  « củng cố và phát triển miền Cổ Pháp, đưa những người con cháu của vọng tộc Lư lên ngôi vua, vừa tạo độc lập dân tộc Việt mà cũng chấn hưng đạo pháp » của thiền sư Định Không (730-808).

 

           1/Lư Công Uẩn, người thỏa niềm khát vọng của dân tộc Việt vào cuối thế kỷ X :

               Nhà nước Văn Lang sụp đổ, dân tộc Việt phải chịu ách  đô hộ của phong kiến phương bắc. Dẫu vài lần dân tộc Việt quật khởi, tưởng chừng nối được quốc thống, nhưng thời gian độc lập quá ngắn,  phải lo chống giữ, không đủ vật lực tài lực để vun bồi văn hoá giáo dục, nên dân tộc Việt rất chậm phát triển vào thời Bắc thuộc. V́ lẽ đó mà triều Ngô, chưa có sự nghiệp đáng kể th́ đất nước vấp phải loạn thập nhị sứ quân. Triều Đinh cũng chưa tạo được một cộng đồng  thuần hậu th́ gặp nạn tôi giết vua; để lại di chứng ấy cho Tiền Lê, với Lê Long Đỉnh, giết anh giành ngôi, làm việc lỗi đạo… Các triều vua Đinh Lê, bó hẹp trong vùng núi Ninh B́nh, rất lợi thế về quân sự, có quân công trong lịch sử, nhưng không đủ sức tạo nên một kinh đô Hoa Lư  phát triển toàn diện ; thậm chí để lại những việc làm quá ư vô đạo! Thời bấy giờ đă có một Phong Khê với bề dày văn hoá Văn Lang, một trung tâm Phật Giáo Luy Lâu-Thuận Thành, phía đông   sông Hồng, nam sông Đuống,  đă phát triển bền vững…Đại bộ phận nhân dân  có nhu cầu bức thiết về văn hoá, có khát vọng về một minh quân, biết đáp ứng ḷng dân…Và Lư Công Uẩn đă xuất hiện kịp thời để đáp ứng nhu cầu bức thiết ấy. Lư Công Uẩn không phải là con thần cháu thánh của truyền thuyết, chẳng phải là thiên tử của vị ngọc hoàng mơ hồ nào đó  của cổ tích …mà ngài là một v́ vua đươc nhân dân “hoài thai” suốt một thời đau đáu cho tiền đồ dân tộc; được sự giáo dưỡng đầy tâm huyết của lớp trí thức tam giáo  tiến bộ của thế kỷ X.

 

        

 

                             Chùa Cổ Pháp, c̣n gọi là chùa Dặn, nơi nhà sư Lư Khánh Văn nuôi dưỡng Lư Công Uẩn từ tuổi lên 3

 

    Giới trí thức tiến bộ  lúc bấy giờ,  đứng đầu là thiền sư  Vạn Hạnh, phải chọn lựa một con đường cho dân tộc. Trong tam giáo th́ phải thừa nhận Phật giáo là mạnh nhất về cả tinh thần lẫn vật chất. Nho giáo chưa có lực lượng quần chúng rộng lớn như Phật giáo; hơn nữa việc học theo Khổng Mạnh lúc bấy giờ chưa thịnh hành lắm, ít nhiều “đồng loă” với “Tống nho”, đạo của những kẻ xâm lược, bao giờ cũng  chủ trương đưa An Nam vào quỹ đạo b́nh nam của Thiên triều phương bắc. Đại bộ phận  dân chúng làm sao quên được cái ách đô hộ nghiệt ngă  ấy và làm sao quên được đại quân Tống do Hầu Nhân Bảo chỉ huy, từng giày xéo  nước Việt. Những làng xă thuộc lưu vực sông Hồng, đến thế kỉ X đă  có rất nhiều chùa lớn,  đă đào tạo nhiều thiền sư giỏi giáo lư nhà Phật mà cũng uyên thâm tứ thư ngũ kinh.Vậy đường hướng giáo dục lúc bấy giờ là chọn  Phật giáo làm quốc giáo nhưng lồng ghép Nho Lăo kiểu tam giáo đồng nguyên vậy. Lư Thái Tổ cùng vị cố vấn tuyệt vời Vạn Hạnh, đă có những quyết sách đúng đắn, biết dụng thời, tuỳ thế  đưa đất nước Đại Việt phát triển bền vững, tạo dựng nền móng  cho một thời LƯ -TRẦN độc lập tự chủ, được ngẫng cao đầu đối với lân bang, kéo dài khoảng 400 năm.

 

 

 

Tượng Thiền sư Vạn Hạnh ở núi Tiêu sơn.

 

 

 

              Khi lên ngôi, Lư Thái Tổ cho dựng rất nhiều chùa và độ diệp cho hàng vạn vị sư. Thực ra lúc bấy giờ,  chùa là trường học, các sư là thầy giáo của một đường hướng giáo dục lúc ấy. Các phật tử đến chùa trước lễ Phật, sau nghe sư  thuyết pháp để trí tuệ được mở mang mà ḷng thiện cũng được xiển dương. Chủ trương đúng đắn ấy tạo cho dân tộc Việt một sự nhất thống, trên dưới một ḷng; đủ sức chống trả sức mạnh Tống nho. 

 

              Xây dựng mới là việc cần làm, đào tạo người mới cho công cuộc cải cách mới là khát khao của giới trí thức lănh đạo lúc bấy giờ. Vùng Ninh B́nh, cái nôi của kinh đô Hoa Lư, chỉ thích hợp cho  việc thủ hiểm về mặt quân sự, nhưng nó không thể là đầu mối giao thông, không thể là nơi đắc dụng của thương nghiệp, không là nơi tụ hội những trí thức giỏi, nghĩa là không đủ tiền đề cho sự mở mang đất nước . V́ thế cho nên, giới lănh đạo họ Lư  phải dời đô ra thành Đại La mà thôi.Thành Đại La đâu chỉ là cát địa theo thuyết phong thuỷ, mà thành Đại La c̣n là trung tâm của một vùng văn hoá có bề dày. Dẫu thành Đại La một thời là An nam đô hộ phủ của những quan thứ sử nhưng  nó c̣n là nơi hội tụ anh tài hoạt động trên mọi lĩnh vực, luôn âm thầm ǵn giữ bản sắc dân tộc, lấy triết lư Phật giáo làm kim chỉ nam, lấy chùa chiền làm nơi tu học của mọi giới và tạo những ổ đề kháng chống lại những ǵ thuộc về ngoại lai, có nguy cơ làm tan ră cộng đồng dân tộc  Việt.V́  vậy khi Lư Thái Tổ quyết định rời bỏ Hoa Lư, để ra Đại La thành là một sự  bùng vỡ ư thức “cách mạng”, đă nung nấu từ lâu. Kinh đô Thăng Long của Đại Việt tự chủ đă ra đời, hợp ḷng người (ư trời), hợp địa lợi ( vật lực tài lực sung măn của châu thổ sông Hồng ) và đạt lẽ nhân hoà ( cư dân vùng nông nghiệp sông Hồng đă có tŕnh độ văn hoá cao, khá thuần hậu với các minh triết Việt).

 

                Lư Công Uẩn đă xuất hiện đầy huyền thoại nhưng cũng v́ những huyền thoại ấy mà sự thực về gốc gác của ngài cả ngàn năm sau vẫn là một dấu hỏi nhức nhối !

 

 

             2/ Một số vấn đề chưa giải quyết dứt điểm trong việc t́m kiếm tông tích của Lư Công Uẩn :

Khi t́m tông tích của Lư Công Uẩn, giới nghiên cứu quan tâm các địa danh Đ́nh Bảng, Dương Lôi, Hoa Lâm. Có thời các nhà nghiên cứu cho rằng Đ́nh Bảng là quê nội và Dương Lôi là quê ngoại của Lư Công Uẩn, hai làng nội ngoại cách nhau bởi rừng Báng, có mộ thiên táng của bà Phạm Thị Ngà (thân mẫu của Lư Công Uẩn) và về sau trở thành vùng đất « Sơn lăng cấm địa »với lăng mộ của các vua triều Lư. Có nhà nghiên cứu cho rằng ở Đ́nh Bảng có Đền Đô thờ 8 vua Lư và như thế  cha ruột của Lư Công Uẩn là quốc sư Lư Vạn Hạnh. Tất nhiên giới nghiên cứu đă bác  bỏ hướng nghiên cứu này từ vài năm nay. Gần đây lại phát hiện ở đ́nh Dương Lôi thờ 8 vua Lư làm thành hoàng, có đền thờ Lư Thánh mẫu  (thờ Minh Đức Thái Hậu Phạm Thị Ngà), Chùa Cha Lư (tức chùa Minh Châu) thờ Phật và thờ bà Phạm Thị Ngà nữa. Lư Công Uẩn chào đời trong một túp lều ở phía sau chùa Cha Lư (chùa Minh Châu). Một số nhà sử học lại tạm thời kết luận Dương Lôi là quê nội của Lư Công Uẩn, c̣n Hoa Lâm( Đông Anh) là quê ngoại.Tuy nhiên làng Dương Lôi hiện c̣n nhiều người họ Phạm, có mối quan hệ huyết thống với bà Phạm Thị Ngà, trong khi đó ở Hoa Lâm có nhiều người họ Nguyễn (gốc Lư), khiến nhiều nhà nghiên cứu vẫn c̣n băn khoăn về nguyên quán Hoa Lâm của bà Phạm Thị Ngà. Nhà nghiên cứu Chu Minh Khôi viết :  « Khi chúng tôi đề cập về Hoa Lâm, ông Nguyễn Văn Quyết, trưởng thôn Dương Lôi ở Bắc Ninh lại đưa ra quan điểm rất khác với những người ở Hoa Lâm. Theo ông Quyết, ở Dương Lôi vẫn c̣n ḍng họ Phạm nhận là ḍng họ của bà Phạm Thị Ngà. Trong khi, ở Hoa Lâm lại có ḍng họ Nguyễn nhận là hậu duệ của tôn thất nhà Lư, như vậy chưa đủ khẳng định Hoa Lâm là quê hương bà Phạm Thị Ngà. Bởi Hoa Lâm nằm kề kinh đô Thăng Long, lại ở ngay ngă 3 hợp lưu của sông Hồng và sông Đuống, nên được các vương tôn nhà Lư chọn làm nơi xây cung thất nghỉ ngơi, giải trí, săn bắn. Hoa Lâm chỉ h́nh thành sau khi nhà Lư đă lên ngôi, như vậy việc tại Hoa Lâm có ḍng hậu duệ của các vương tôn nhà Lư c̣n truyền đến ngày nay là hoàn toàn có thể lư giải được. ».(Giác Ngộ online). Một số nhà sử học dựa vào hai chứng tích để minh chứng rằng Hoa Lâm là quê mẹ của Lư Thái Tổ : Đoạn văn khắc chữ Hán trên bia Lư gia linh thạch (khắc vào năm 1793) "…Đông Ngạn, Hoa Lâm nhân Phạm mẫu, tiêu dao kỳ tự, thường kiến nhất thần hầu… » ở chùa Tiêu và  đôi câu đối cổ: "Mạch tụ quân vương truyền thắng địa/Tích lưu Lư mẫu quán danh phương" bảo lưu ở đ́nh thôn Thái Đường ở xă Mai Lâm. Tuy nhiên văn khắc này là do người đời sau khắc vào năm 1793 nên độ tin chưa cao. Cách đây vài năm,  ở Hà Nội có tổ chức một hội thảo ngày 27/12/2008 nhằm trao đổi vấn đề tông tích của Lư Công Uẩn, nhưng cuộc hội thảo vẫn chưa khẳng định  được gốc gác của Lư Công Uẩn. Điều nổi cộm là các thành viên hội thảo thấy rằng các học giả, nhà nghiên cứu, nhà văn đặt vấn đề Lư Công Uẩn là con ruột của Lư Vạn Hạnh là không thuyết phục. Tuy nhiên công bằng mà nói, cũng qua sự t́m ṭi tông tích của Lư Công Uẩn ở Cổ Pháp, Bắc Ninh của các nhà nghiên cứu và đă công bố tại hội thảo, càng ngày càng có thêm dữ kiện giúp các nhà nghiên cứu có hy vọng t́m được ḍng dơi  của Lư Công Uẩn.

G.S Hoàng Xuân Chinh -  Chủ tịch Hội Khảo cổ học Việt Nam nêu ư kiến :“Chưa thể khẳng định chắc chắn rằng, hai làng Dương Lôi và Hoa Lâm là quê hương nhà Lư bởi chứng cứ đưa ra chưa thật đầy đủ, và không phải ngẫu nhiên, Đền Đô lại được xây dựng trên đất Đ́nh Bảng. Tuy nhiên, ư kiến đưa ra tại cuộc tọa đàm này sẽ góp phần gợi mở cho những hướng nghiên cứu tiếp theo”.

PGS.TS Tống Trung Tín - Viện trưởng Viện Khảo cổ học Việt Nam gợi ư: “Việc phát hiện lan can sấu đá là minh chứng cho việc tồn tại của công tŕnh kiến trúc cung đ́nh tại Hoa Lâm.  Những di vật t́m thấy ở nơi đây cũng cho thấy, đây là nơi cư dân sinh sống liên tục từ thời Hán cho đến Tùy Đường kéo dài tới thời Lê. Riêng về vấn đề gốc tích quê hương nhà Lư cần phải đi sâu và nghiên cứu thêm nữa. Những hiện vật đang ẩn dưới ḷng đất sẽ là nguồn tư liệu phong phú và thuyết phục cho những nhận định mới của sử học”.

 

           Xét về t́nh riêng th́ vua Lư Thái Tổ cũng có nỗi niềm là con không có cha ruột một cách chính danh, nhưng xét về nghĩa chung của cộng đồng dân tộc Việt th́ ngài là đứa con tuyệt vời của quảng đại quần chúng. Ngài được quần chúng có văn hoá thai nghén, đựơc tấm ḷng nhất thống của nhân dân nuôi dưỡng và được lớp trí thức tam giáo tôn vinh. Chính Lư Công Uẩn đă ư thức đầy đủ điều ấy, và đă không phụ ḷng quần chúng, không phụ ḷng lớp trí thức mong mỏi nơi ngài. Khi mới lên ngôi, Lư Công Uẩn chưa vội truy phong cho ông bà nội. Việc này bị  sử thần phê phán nhà vua làm không đúng điển lễ . Thực ra,  vị cố vấn thông thái Vạn Hạnh thừa biết điều ấy,  nhưng chưa truy phong ông bà nội của ngài là v́ trước đó đă  tạo huyền thoại Lư Công Uẩn là con thần. Đây là một trong những nguyên nhân  khiến giới nghiên cứu khó  trả lời câu hỏi cha ông của Lư Công Uẩn là ai. Nhưng rồi Lư Công Uẩn cũng phải truy phong cha là Hiển Khánh Vương mà không là Hiển Khánh Đế (?). Dữ kiện  này phản ánh một điều sâu kín của Lư triều :  Lư Thái Tổ truy phong ngầm cho ông nội của ngài  đến bậc đế chăng ?

 

           

3/ Phải chăng Lư Công Uẩn là cháu nội của sứ quân Lư Lăng Công của vùng Siêu Loại ?   

Nghiên cứu thời loạn thập nhị sứ quân, chúng tôi để ư một vị sứ quân chiếm cứ vùng Siêu Loại ,  có  trung tâm Phật giáo Thuận Thành- Luy Lâu; đó là sứ quân Lư Lăng Công, tức là Lư Khuê, một vị hùng trưởng của  miền  đất nằm hai bờ sông Đuống. Lư Khuê hay Lư Lăng Công là sứ quân chiếm cứ miền đất Thổ Lỗi, sau gọi là Siêu Loại. Năm 967 ông bị tướng Lưu Cơcủa Đinh Bộ Lĩnh  Hoa Lư đánh bại.Theo thần tích ở xă B́nh Sơn (Thuận Thành, Bắc Ninh) th́ Lư Khuê đánh nhau với quânĐinh Bộ Lĩnh bị thua và tử trận  ở làng Dương Xá.Theo thần tích đền thờ Lưu Cơ, c̣n ở làng Đại Từ, xă Đại Đồng, tỉnh Hưng Yên (đất Siêu Loại cũ) th́ Đại Từ là nơi tướng Lưu Cơ của Đinh Bộ Lĩnh  đóng quân và đánh dẹp sứ quân Lư Khuê. Thôn Dương Đanh của làng Dương Xá thờ Lư Lăng Công là thành hoàng của làng. Mộ của vị sứ quân này ở đâu ? Con cháu của Lư Khuê c̣n không ? Sứ quân Lư Khuê không có mối quan hệ với Phật tử nói chung và Lục Tổ Thiền Ông và thiền sư Vạn Hạnh nói riêng của chùa Lục Tổ hay sao ? 

 

 

 

     

Ảnh chụp vệ tinh làng Dương Xá (có thôn Dương Đanh), nơi Lư Lăng Công đánh nhau với tướng Lưu Cơ của Đinh Bộ Lĩnh và tử trận.

 

           Cơ sở của  giả thuyết công tác:   

Miền  Siêu Loại, Cổ Pháp xưa là các hương Thổ Lỗi, Diên Uẩn ở hai bờ sông Đuống, có trung tâm Phật Giáo Luy Lâu, trung tâm đào tạo tăng tài Tiêu Sơn, đă phát triển hằng trăm   năm  với nhiều ngôi chùa cổ, với các vị sư tầm cỡ như Định Không, Thông Thiện, Đinh La Quí An, Thiền Ông, Vạn Hạnh… Sứ quân Lư Khuê đặt bản doanh ở Siêu Loại,  đủ biết vị sứ quân này được lực lượng tín đồ tam giáo, đứng đầu là Phật giáo ủng hộ...Chúng ta có thể đoán định sứ quân này dựa vào lực lượng tam giáo,  ṇng cốt là trí thức và tín đồ Phật giáo lúc bấy giờ vậy.

 

Gần đây trong bài «  Đạo Phật và nền văn hóa Việt Nam », đăng ở ấn phẩm mùa Hạ của « Văn hóa Phật Giáo Việt Nam », ḥa thượng Thích Minh  Châu  nhận định : ««Chư tăng là người hiểu biết trong xóm làng, làm cố vấn cho nông thôn trong nhiều công việc và được nông dân kính trọng. Chính v́ vậy, trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, Phật giáo đă đứng về phía những người yêu nước. Nhiều  Tăng sĩ trong hoạt động tôn giáo của ḿnh, đă nhen nhóm một tinh thần tự chủ.  Và có những tín đồ Phật giáo đă trực tiếp lănh đạo nhân dân đứng lên làm cuộc chiến tranh giải phóng » (tr. 8).

 

Sứ quân   Lư Khuê  lănh đạo dân chúng miền Siêu Loại, cái nôi của Phật giáo, đ̣i tự chủ th́ ông phải là một Phật tử có uy vọng, và tất nhiên không thể không có liên hệ với chùa Tiêu. Qua Thiền uyển tập anh ngữ lục, được biết Thiền sư ĐỊNH KHÔNG (730-808) thời thuộc Đường, người họ Nguyễn (thực ra là họ Lư), thuộc hương Diên Uẩn, giỏi thuật số, có khát vọng về hương Diên Uẩn của ngài  được củng cố và phát triển, họ Lư của ngài sẽ làm vua, nước Việt độc lập và Phật pháp được chấn hưng. Khi sư dựng chùa Quỳnh Lâm ở quê nhà khoảng (785-805), đào được pháp khí cổ, sư giải đoán họ Lư về sau có người làm vua, có ư đổi tên hương Diên Uẩn thành hương Cổ Pháp. Tâm nguyện của thiền sư được kư gửi qua  bài kệ:

 

Pháp lại xuất hiện
Thập khẩu đồng chung
Lư thị hưng vương
Tam phẩm thành công.
 

       Dịch:

 

Pháp khí hiện ra
Khánh đồng mười tấm
Họ Lư làm vua
Công đầu Tam phẩm

   Trong bài kệ dự đoán, câu cuối “Tam phẩm thành công” được dịch “ Công đầu tam phẩm”phải chăng chưa ổn ? Họ Lư hưng thịnh, quan đến tam phẩm mới lập công th́ có ǵ đáng kể mà phải viết thành kệ rồi “ truyền thừa” cả trăm năm! Ở đây có thể hiểu “Tam phẩm” là “ba đời họ Lư uy vọng” mời thành công nghiệp đế vương. Sư Định Không đă dặn ḍ đệ tử là thiền sư Thông Thiện: “Ta muốn mở mang hương ấp, nhưng sợ ngày sau gặp nạn, tất có dị nhân đến phá hoại mạch đất của hương ta. Sau khi ta qua đời, ngươi khéo giữ đạo pháp của ta để sau gặp người họ Đinh th́ truyền lại. Thế là ư nguyện của ta được toại thành.”. Quả “dị nhân đến phá hoại mạch đất” là Cao Biền. Đệ tử Thông Thiện đă truyền “pháp ư” của sư Định Không cho đệ tử của ḿnh là Trưởng lăo Đinh La Quí An (852-936). Thiền sư họ Đinh này đă phá thuật yểm đất của Cao Biền ở hương Diên Uẩn (Cổ Pháp), căn dặn đệ tử là thiền sư Thiền Ông (902-979) (họ Lữ, người hương Cổ Pháp) về những pháp thuật “tài bồi thiên đức” cho vọng tộc Lư của hương Cổ Pháp... Và tất nhiên Thiền Ông đă truyền “tâm nguyện” của các tổ Định Không, Thông Thiện, Đinh La Quí An cho thiền sư Vạn Hạnh(939(?)-1025) và Vạn Hạnh đă hoàn thành  rất xuất sắc “sứ mạng” mà các tổ giao phó. Đưa người họ Lư lên làm vua là “ chiến lược trăm năm” được vạch từ thời thiền sư Định Không. Sứ quân  Lư Khuê chiếm cứ vùng Siêu Loại, sát hương Cổ Pháp, để trở thành sứ quân Lư Lăng công(966-967) là một mắt xích trong  “chiến lược trăm năm”, được thầy tṛ Thiền Ông- Vạn Hạnh đang ở chùa Tiêu Sơn điều hợp…Chùa Thiên Tâm trên núi Tiêu Sơn, vào đầu thế kỷ X, theo Thiền uyển tập anh, là nơi tập trung các vị sư, có khát vọng về một vị minh quân ra đời, nhằm chấn hưng xă hội nói riêng và Phật Giáo nói chung và tất nhiên có niềm khát vọng độc lập cho nước Việt. Trưởng lăo Đinh La Quí An của chùa Thiên Tâm, biết phong thủy, giỏi Thái ất đă vận động những người hằng tâm hằng sản, lấp sông, hồ nhằm triệt phá những huyệt yểm của Cao Biền, bổ cứu long mạch đế vương của hương Cổ Pháp (Diên Uẩn), thậm chí đă dự đoán họ Lư hương Cổ Pháp sẽ làm vua. Thật vậy nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Khôi từng trích Thiền uyển tập anh: "… Trước khi viên tịch, Trưởng lăo Đinh La Quư An gọi đệ tử là Thiền Ông đến dặn rằng, trước đây Cao Biền đắp thành Đại La ở sông Tô Lịch, biết đất Cổ Pháp ta có khí tượng vương giả bèn đào sông Điền Giang, đầm Phù Chẩn để cắt yểm long mạch, tất cả 19 nơi. Nay ta đă khuyên Khúc Lăm đắp lại như cũ. Ta lại trồng một cây gạo ở cách chùa Minh Châu hơn 1 dặm, đúng chỗ bị cắt long mạch, đời sau nơi này ắt có bậc đế vương xuất hiện để vun trồng Chánh pháp…

Năm Bính Thân, niên hiệu Thanh Thái thứ 3 thời thuộc Đường (936), khi trồng cây gạo ở chùa Minh Châu, Trưởng lăo Đinh La Quư An có đọc bài kệ:

Đại Sơn long đầu khởi
Cù Vĩ ẩn Minh Châu
Thập bát tử định thành 
Miên thụ hiện long h́nh
Thỏ kê thử nguyệt nội
Định kiến nhật xuất thanh"


           ( Nguyễn Minh Khôi, Đi t́m gốc tích vua Lư Thái Tổ, Giác Ngộ)

              Nguyễn Minh Khôi viết : « Tương truyền, cố GS sử học Trần Quốc Vượng sinh thời từng dịch bài kệ như sau: "Đầu rồng hiện ở núi lớn/đuôi rồng giấu sự thịnh vượng/Họ Lư nhất định thành/khi cây gạo hiện h́nh rồng/chỉ trong mấy tháng thỏ, gà, chuột/chắc chắn sẽ thấy mặt trời (vua) anh minh". Ông Nguyễn Đ́nh Phúc, Bí thư Đảng ủy xă Tân Hồng kể: Năm 1992, GS Trần Quốc Vượng điền dă về khảo sát những di tích ở làng Dương Lôi. Khi tận mắt chứng kiến nền chùa Minh Châu và t́m hiểu địa danh trong vùng, biết có ngọn núi Đại Sơn ở cách chùa Minh Châu 1km, GS đă thốt lên: "Tôi đă nhầm khi dịch bài kệ của Trưởng lăo họ Đinh!". Sau đó, GS đă chỉnh lại bản dịch 2 câu đầu là: "Đầu rồng hiện ở Đại Sơn/đuôi rồng giấu ở chùa Minh Châu" » .

Ảnh chụp vệ tinh núi Đại Sơn, ở bờ bắc sông Đuống, gần làng Dương Lôi, nơi khởi phát (long đầu khởi) của sứ quân Lư Lăng Công.

           Chúng tôi tiếp cận bài kệ của Truởng lăo họ Đinh, hoàn toàn nhất trí với cách diễn giải của cố giáo sư Trần Quốc Vượng với hai câu đầu của bài kệ. Trên b́nh diện phong thủy, long mạch ở Cổ Pháp với đầu rồng là  Đại Sơn, và đuôi rồng (rồng non, tức cù) ở chùa Minh Châu (Dương Lôi). Và đuôi rồng đă ứng phát cho Lư Công Uẩn, tức họ Lư đă trở thành đế vương với Lư Thái Tổ. Thế th́  đầu rồng « Đại Sơn » ứng phát vị  họ Lư nào ở hương Diên Uẩn? Phải chăng tác giả Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục, bắt đầu được biên tập vào khoảng trước năm 1134 cho đến đầu thế kỷ thứ mười ba, dựa vào thư tịch ở chùa Thiên Tâm, hoặc truyền ngôn ở vùng Tiêu Sơn, muốn gửi gắm cho hậu thế một ch́a khóa để giải mă bí ẩn  tông tích của Lư Công Uẩn ? Rơ ràng con cù (rồng non), đang  ẩn ở sau chùa Minh Châu (chùa Cha Lư) là ứng phát cho Lư Công Uẩn, c̣n thân rồng đang thời «  tiềm long » ở Đ́nh Bảng-Dương Lôi ứng phát cho  Hiển Khánh Vương, Vũ Đạo Vương, Lư Vạn Hạnh, Lư Khánh Vân…. C̣n đầu rồng phải ứng phát một người họ Lư hương Cổ Pháp, đă khởi nghiệp ở Đại Sơn, thuộc Dương Lôi mà thôi. Ngọn núi Đại Sơn này có sông Đuống vờn mặt trước, nh́n về Dương Xá, Đại Từ…của vùng Thuận Thành-Luy Lâu, nơi hoạt động của sứ quân Lư Khuê, tức Lư Lăng Công vào những năm Bính Dần (966), Đinh Măo (967). Hiện nay tại thôn Dương Đanh, xă Dương Xá c̣n thờ Lư Lăng Công. Trong khoảng từ 936 đến 974 không có vị nào thuộc họ Lư của hương Diên Uẩn, ngoài Lư Khuê, đă khởi nghĩa !Vậy Lư Lăng Công là ứng với đầu rồng đă khởi, nhưng thất bại, và các con cháu  của ngài  phải ẩn tu hoặc mai danh ẩn tích, đổi họ Lư thành họ Nguyễn vào thời Đinh (968-991), thời Tiền Lê (991-1009).

           

 

Chùa Cha Lư ( Minh Châu), nơi thờ Phật và bà Phạm Thị Ngà. Sau chùa là nơi chào đời của Lư Công Uẩn. Có khả năng trước đó chùa Cha Lư là nơi thờ những vị quan họ Lư của triều Đường, thường dâng sớ can ngăn vua Đường phát binh dẹp những cuộc nổi dậy của dân Giao Châu.

 

Thế th́ Lư Khuê phải là người con kiệt hiệt của ḍng họ Lư của hương Cổ Pháp vậy. Cuộc nổi dậy của sứ quân Lư Khuê ở Siêu Loại, bờ nam sông Đuống không thể không có sự ủng hộ công khai hoặc bí mật của Lục Tổ Thiền Ông, thiền sư Vạn Hạnh cùng Phật tử của chùa Tiêu. Lư Khuê nổi dậy ứng với câu kệ « Đại Sơn long đầu khởi » của thiền sư Định Không. Và Lư Khuê khởi nghĩa được hai năm th́ bị diệt, con cái phải đi trốn, mai danh ẩn tích, thậm chí phải sống trong rừng, trong hang đá, điều kiện sinh sống thiếu thốn. Hai câu cuối bài kệ của thiền sư Định Không, có màu dịch lư, trong đó chữ « nguyệt » tượng « âm », chữ « nhật » tượng « dương », âm là tối, chưa tốt, ẩn tàng ; c̣n dương là sáng, tốt đẹp, rực sáng. Lúc « nguyệt nội » th́ hai sao xấu (kê, thử) và khi một sao tốt (thỏ) chiếu rọi, chuyển âm sang dương,  tức  « nhật xuất » th́ thành công rực rỡ. Trong nhị thập bát tú th́ sao MĂO NHỰT KÊ (GÀ) chỉ tốt cho nông nghiệp, c̣n giá thú, an táng, dựng nhà đều xấu. Nếu dựng nghiệp th́ tai họa ập tới ngay những năm đầu tiên. Sao HƯ NHẤT THỬ (CHUỘT) cũng là một sao xấu, nếu tạo tác th́ gặp tai ương, gia đ́nh ly tán, cháu con trôi dạt tha phương. Hai sao trên thuộc loại HUNG TINH, c̣n một trong những CÁT TINH là sao PH̉NG NHỰT THỔ (THỎ). Sao này rất tốt cho tạo tác, giá thú, an táng, c̣n dựng nghiệp th́ mọi sự đều tốt.

 

  

 Ảnh chụp vệ tinh vùng núi Tiêu Sơn, có chùa Ứng Thiên Tâm, nơi truyền thừa tâm nguyện của thiền sư Định Không, và nơi thiền sư Vạn Hạnh hoàn thành tâm nguyện ấy.

 

        Và khi Lư Khuê bị thất bại, nhóm Thiền Ông-Vạn Hạnh phải “cưu mang” đám con cháu của Lư Khuê, tạo điều kiện cho cha, bác, chú của Lư Công Uẩn mai danh ẩn tích (tiềm long) để tránh sự bố ráp gắt gao của triều Đinh và Tiền Lê. V́ tin vào câu “Cù vĩ ẩn Minh Châu” nên Vạn Hạnh đă tiến hành việc cưới bà Phạm Thị Ngà  cho một người con trai của Lư Lăng công (tức Hiển Khánh vương). V́ tạo cho Lư Công Uẩn là con thần cháu thánh, tránh sự truy bắt của triều Đinh, Tiền Lê nên Thiền Ông ẩn tích, Vạn Hạnh đă giấu tông tích của Lư Khuê và mối quan hệ cháu ông  giữa Lư Công Uẩn với sứ quân họ Lư vậy. Sau khi sứ quân Lư Khuê bị Đinh Bộ Lĩnh đánh bại, ḍng họ Lư của sứ quân Lư Khuê  một số bị giết, nhưng số c̣n lại phải đi ẩn, ví dụ vào rừng  sinh sống, vào tu ở các chùa  trong núi sâu  nhằm mai danh ẩn tích. Lư Vạn Hạnh mặc dầu họ Lư nhưng cũng có thời kỳ phải mang họ Nguyễn.

Đại Nam nhất thống chí từng chép: “Đời Lư :Nguyễn Vạn Hạnh : người huyện Đông Ngàn , lúc bé thông minh khác thường , rộng thông ba học phái; xuất gia thâm thuư về thiền học, nói ra phần nhiều là lời sấm. Lê Đại Hành thường triệu đến hỏi công việc. Lư Thái Tổ phong làm quốc sư.”(tập4, tr146).

 

Ngay vua Lê Đại Hành cũng rất gờm con cháu họ Lư, có khi suưt bắt được Lư Công Uẩn để trừ hậu hoạ. Hơn ai hết,  Lê Đại Hành thừa biết  họ Lư đang được ḷng dân , đa phần là phật tử.

 

ĐNNTC chép : “Đền thần phụ quốc: ở xă Tam Tảo huyện Yên Phong . Xưa Lê Đại Hành đắp thành Hoa Lư, Lư Công Uẩn làm phu đắp, đến đêm Lê Đại Hành mộng thấy thần cho biết là có bậc quư nhân đương làm việc đắp thành ở đây. Thức dậy sai người đi t́m, th́ Công Uẩn đă đi rồi. Khi Công Uẩn đi đến xă Tam Tảo, thấy hai vợ chồng già đang cày ruộng, bèn đem duyên do chuyện ḿnh nói cho biết . Ông già liền bảo Công Uẩn lấy bùn trát khắp ḿnh và cùng cày ruộng; sau đó ông già mang Công Uẩn về nhà, đào đất làm hầm cho ở và chứa nước ở trên hầm. Lê Đại Hành xem bói, thấy quẻ bói nói : “nước ở trên người”. V́ thế, Lê Đại Hành tưởng là Công Uẩn đă chết ở sông rồi. Đến khi Lư Công Uẩn được nhà Lê truyền ngôi, bèn phong ông già làm Phụ quốc đại vương và phong vợ ông làm vương phi, làm nhà cho ở phường Phượng Vũ. Sau khi ông già chết, người địa phương lập đền thờ ngay ở chỗ ông già ở”(tr108).

 

Sự kiện này phản ánh một thực tại; rằng các vua Đinh, Lê vẫn gờm họ Lư vùng Cổ Pháp-Siêu Loại và bản thân Lư Công Uẩn cũng biết vai tṛ, vị thế  của ḿnh trong xu thế mới. Sử liệu này cho thấy sự đùm bọc của nhân dân đối với Lư Công Uẩn, người đại diện cho niềm khát vọng của họ. Đinh Tiên Hoàng tiếp tục cử tướng Lưu Cơ giữ thành Đại La, sau khi dẹp loạn thập nhị sứ quân, là để khống chế các tộc họ có uy vọng ở miền Kinh Bắc, trong đó có họ Lư của Lư Khuê. Sự kiện “sét đánh cây gạo” không là biến cố ngẫu nhiên. Từ năm 936 cây gạo đă được Trưởng lăo Đinh La Quí An trồng ở làng Dương Lôi. Nếu sét đánh cây gạo khoảng năm 1009 hay 1010 trước khi Lư Công Uẩn lên ngôi khoảng trên dưới một năm th́ không hợp lư. Thật vậy, cuộc vận động để đưa ḍng dơi họ Lư lên ngôi phải được tiến hành cả trăm năm, nhưng từ năm 936 cây gạo được trồng, cho đến năm 1009 mới có vụ cây gạo ở Dương Lôi bị sét đánh và xuất hiện bài sấm kư th́ th́ không có chuyện Lư Công Uẩn bị Lê Đại Hành cho người t́m Lư Công Uẩn nói riêng và họ Lư nói chung để trừ hại. Có khả năng dư luận về bài sấm kư có thể xuất hiện  sớm hơn nhiều so với năm Lư Công Uẩn lên ngôi. Sau khi bị tử trận ở Dương Xá (tức ở làng Thổ Lỗi), thân nhân đă bí mật đưa hài cốt Lư Khuê về táng ở Mai Lâm, Đông Ngàn. Hiện nay ở Hoa Lâm (Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội) có mộ Hùng Công trong khu vực “Lư gia lăng”. 

 

Trong bài “Hoa lâm viên và những dấu ấn triều Lư” (web chudu 24) có đoạn: “Gia phả và nhà thờ họ Nguyễn gốc Lư tại thôn Du Nội c̣n ghi rơ. Mai Lâm ngày nay c̣n ghi nhận những địa danh như: đồng Bẫy Sập, mộ Hùng Công, miếu Âm Hồn, băi Tổng Binh, ao Sau Dinh, cầu Giá Ngự… gắn với những sự kiện vui, buồn của thời Lư. Một ngàn năm qua đi mà những địa danh này vẫn c̣n đó, ghi lại dấu tích xa xưa ở một vùng quê.”

 

Những địa danh lịch sử ở Hoa Lâm như mộ Hùng Công, miếu Âm Hồn, băi Tổng Binh, ao Sau Dinh…không gợi mở về những ngày Lư Công Uẩn lên ngôi êm thắm mà như nhắc nhở  về một vị hùng trưởng họ Lư khởi nghĩa và bị thất bại ! Mộ Hùng Công phải chăng là ngôi mộ bí mật của Lư Khuê ? Như thế th́ mộ bà Lư triều quốc mẫu ở Hoa Lâm là mộ phu nhân của Lư Lăng Công ?

 

 Ảnh chụp vệ tinh khu vực có đền Lư Bát Đế (Đền Đô) và vùng « Sơn lăng cấm địa » ở Đ́nh Bảng, Bắc Ninh.

 

              

 4/ Hoa Lâm là một trong những vùng tụ cư  của họ Lư bản địa vào thời Văn Đường ?

          Từ trước đến nay, khi nghiên cứu về tông tích cha mẹ của Lư Công Uẩn, các nhà sử học, các nhà nghiên cứu thường ít quan tâm nhân vật lịch sử của vùng Cổ Pháp-Siêu Loại, quần tụ hai bờ sông Thiên Đức hay sông Đuống, đó là bà nội của Lư Công Uẩn.

Đền thờ Lư triều quốc mẫu Phạm Thị Tiên ở Hoa Lâm

 

                 Bà nội của Lư Công Uẩn cũng là một nhân vật lịch sử bí ẩn, bà chỉ xuất hiện trong Đại Việt sử kư toàn thư chỉ một lần, với ḍng ghi chép ngắn ngủi : “Mậu Ngọ (Thuận Thiên) năm thứ 9 (1018), …. Mùa xuân, tháng 2, truy phong bà nội làm hậu và đặt tên thụy”(s đ d.tr.245).

Tại sao triều đ́nh Lư Thái Tổ, có cố vấn Vạn Hạnh uyên thông tam giáo, để chậm trễ việc truy phong bà nội của Lư Công Uẩn ? Tại sao truy phong bà nội là hậu, có thụy hiệu mà không truy phong ông nội của Lư Công Uẩn? Việc truy phong bà nội nhưng gác lại ông nội chứng tỏ có điều uẩn khúc trong tôn tộc nhà Lư. Phải chăng, trong thời kỳ vận động để đưa Lư Công Uẩn lên ngôi, họ Lư vùng Cổ Pháp -Siêu Loại đă tạo những huyền thoại về một Lư Công Uẩn là con thần, nên triều đ́nh nhà Lư, có quốc sư Vạn Hạnh, đă giấu tông tích thân phụ Hiển Khánh vương, giấu tông tích cha của Hiển Khánh Vương tức  ông nội của Lư Công Uẩn ?.

                 Phải chăng bà vợ của Lư Lăng Công chính là phu nhân Phạm Thị Tiên, từng trú ẩn  ở Hoa Lâm. Bà Phạm Thị Tiên, sau khi chồng bị bại, đă mai danh ẩn tích ở Hoa Lâm. Làng Dương Lôi có vọng tộc là Phạm tộc, c̣n hoa Lâm có vọng tộc là Lư tộc. Những ngày mai danh ẩn tích ở Hoa Lâm, bà Phạm Thị Tiên thường văn cảnh chùa Tiêu Sơn để liên lạc với con cháu đang trốn ở vùng Dương Lôi-Đ́nh Bảng, rừng Báng, Tiêu Sơn. Bà đă bàn với hai người cháu tâm phúc, thiền sư Khánh Vạn( tức sư Vạn Hạnh) và Khánh Văn để lo cưới vợ cho một trong các con trai của bà. Vị này có thể ẩn cư ở chùa Tiêu Sơn hoặc rừng Báng Dương Lôi. Chính hai vị thiền sư Khánh Vạn và Khánh Văn nhân một chuyến về thuyết pháp ở Minh Châu, t́m được cô gái nghèo họ Phạm, tức Phạm Thị Ngà và thiền sư Vạn Hạnh đă tạo điều kiện cho cô Phạm Thị Ngà kết hôn với con trai của hai vợ chồng Lư Khuê , Phạm Thị Tiên trong bí mật. Bà Phạm Thị Ngà cũng có với cha của Lư Công Uẩn hai trai…V́ phải sống trong rừng, điều kiện quá khó khăn, bà Ngà phải nhờ sư Lư Khánh Văn nuôi Lư Công Uẩn khi ngài lên ba tuổi… Nghiên cứu bài viết của Nguyễn Minh Khôi trên báo Giác Ngộ th́ thấy rằng hai làng Dương Lôi và Hoa Lâm đều có đền thờ Phạm mẫu, nhưng tên gọi hai công tŕnh kiến trúc khác nhau. Ở Dương Lôi goị là “đền thờ Lư Thánh Mẫu”, ở Hoa Lâm gọi là “đền thờ Lư triều quốc mẫu”. Tại đền thờ Lư triều quốc mẫu, tên húy của Phạm mẫu là Phạm Thị Tiên, c̣n tại đền thờ Lư triều thánh mẫu, tên húy của Phạm mẫu là Phạm Thị Ngà. Bà Phạm Thị Ngà rơ ràng theo truyền thuyết của làng Dương Lôi là mẹ đẻ của Lư Công Uẩn, nhận công việc thủ hộ ở chùa Thiên Tâm, thọ thai với “thần nhân dựa cột chùa” ( Hiển Khánh Vương), c̣n bà Lư triều quốc mẫu ỏ Hoa Lâm là tín nữ đến văn cảnh chùa Thiên Tâm và cảm “thần hầu” trong hang đá, sinh ra vua Lư, chính là Hiển Khánh Vương (thân phụ của Lư Công Uẩn).

PGS Trịnh Bỉnh Dy cho rằng chùa Tiêu vẫn c̣n tấm bia Lư gia linh thạch khắc vào năm 1793, có đoạn “Đông Ngạn, Hoa Lâm nhân Phạm mẫu, tiêu dao kỳ tự, thường kiến nhất thần hầu, bất giác hữu thần”. Như thế những tác giả của văn khăc trên bia “ Lư Gia linh thạch bi” ở chùa Thiên Tâm vào thời Tây Sơn,  đă   tưởng nhầm  Lư triều quốc mẫu Phạm Thị Tiên, mẹ của Hiển Khánh Vương, có mộ ở Hoa Lâm với Lư Thánh mẫu Phạm Thị Ngà ở Dương Lôi. Bà nội Phạm Thị Tiên, phu nhân của Lư Lăng Công, ẩn cư ở Hoa Lâm, có nhiều người gốc họ Lư, c̣n bà Phạm Thị Ngà ẩn cư ở rừng Báng của làng Dương Lôi, nguyên quán của ḿnh. Nếu cả Dương Lôi và Hoa Lâm đều có mộ Phạm Thị , đều là mộ của bà Phạm Thị Ngà th́ mộ của bà nội của Lư Công Uẩn ở đâu? Dẫu sao năm 1018, Lư Thái Tổ có truy phong bà nội làm hậu và dâng tên thụy; chỉ giấu hành tung của Lư Lăng Công. Và cũng tạo ra huyền thoại Lư quốc mẫu cũng gặp thần hầu và sinh ra Hiển Khánh Vương, như thế Lư Thái Tổ vẫn là con thần cháu thánh vậy. Với kiến giải này, hiểu được v́ sao họ Lư lại tế lễ tiền nhân ở  Thái Đường, Hoa Lâm, nơi có Lư gia lăng. Vậy lăng mộ của Lư thánh mẫu Phạm Thị Ngà ở rừng Báng, c̣n lăng của Lư triều quốc mẫu Phạm Thị Tiên ở Hoa Lâm, cùng với mộ chồng là mộ Hùng Công, thuộc Lư gia lăng. Ở Dương Lôi  có Thái miếu, c̣n  ở Hoa lâm có Thái đường. Nếu thế th́ Hoa Lâm có mộ ông bà nội của Lư Thái Tổ, cho nên ở Hoa Lâm được họ Lư quần tụ, thường xuyên tế lễ ở nhà Thái Đường, nên mới xảy ra vụ án Trần Thủ Độ diệt các tôn thất nhà Lư đang cúng tế ở Lư gia lăng, để lại địa danh đồng Bẫy Sập. Lăng mộ Lư Thái Tổ chắc chắn ở Sơn lăng cấm địa, cùng với lăng mộ các vua Lư khác. Nhưng tại sao dân Hoa Lâm vẫn c̣n kư ức về mộ vua Lư Thái Tổ trong khu Lư gia lăng? Thực ra khi vua Lư Thái Tổ truy phong bà nội Phạm Thị Tiên là hậu th́ ngầm truy phong ồng nội Lư Khuê là đế, và mộ của Hùng Công trở thành “mộ vua Lư”. Do không biết “mộ vua Lư” là mộ vua Lư nào, dân sở tại cứ tưởng là mộ vua Lư Thái Tổ!

 

 Con cháu họ Lư đang hành lễ ở Băi Sập thuộc khu vực Lư Gia Lăng ở Hoa Lâm, Đông Anh, Hà Nội.

 

 

            Tại di tích Hoa Lâm Viên ở xă Mai Lâm, huyện Đông Anh, các nhà khoa học của đoàn khảo sát của Trường Đại học Khoa học Xă hội và Nhân văn và Viện Khảo cổ học đă phát hiện nhiều di tích và hiện vật thời Lư-Trần, đặc biệt là những hiện vật gốm tráng men cao cấp có niên đại thế kỷ VII-X và gạch "Giang Tây Quân" - loại gạch đă t́m thấy ở 2 kinh đô Hoa Lư và Thăng Long. Phát hiện này phần nào hé mở những thông tin về các công tŕnh kiến trúc thời Lư-Trần tại Hoa Lâm Viên, một di chỉ nằm trong vùng văn hóa Kinh Bắc xưa. Về những phát hiện này, chúng tôi quan tâm lan can sấu đá. Mô típ “rồng-sấu” này như là một gạch nối giữa motip rồng thời Ngô, Đinh với môtíp rồng thời Lư. Thật vậy rồng ở lan can này chưa hoàn chỉnh như con rồng thời Lư, nó c̣n mang dáng vẻ sấu ( hay cù) trên chuông đồng phát hiện ở thế kỷ IX, X của giới khảo cổ học. Chưa chắc cặp “rồng-sấu” phát hiện được là của một hành cung của vua Lư Thái Tổ cho xây dựng ở Hoa Lâm.

 

                                        (Nguồn: HNM )

             Những di vật gốm  tráng men cao cấp thuộc thế kỷ VII-X phát hiện ở Hoa Lâm, Đông Anh cùng với thư tịch cổ cho phép chúng tôi đặt giả thuyết vùng Hoa Lâm Đông Anh từng là nơi cư trú của ḍng tộc họ Lư bản địa, có uy vọng, từng có mưu đồ cát cứ thời Văn Đường, kéo dài trong các thế kỷ VII,VIII, IX, X. Thật vậy, Đại Việt Sử Kư Toàn thư chép: “ Đinh Hợi, (687), (Đường Trung Tông Triết, Tự Thánh năm thứ 4 ).Mùa thu, tháng 7, các hộ người Lư ở Lĩnh Nam theo như lệ cũ nộp nửa thuế, Đô hộ Lưu Diên Hựu bắt phải nộp cả. Các hộ người Lư mới oán giận, mưu làm loạn. Lư Tự Tiên làm chủ mưu, Diên Hựu giết đi. Dư đảng là bọn Đinh Kiến họp quân vây phủ thành. Trong thành binh ít không chống nổi, đóng cửa thành cố giữ để đợi quân cứu viện. Đại tộc ở Quảng Châu là Phùng Tử Do muốn lập công, đóng quân không đến cứu,Kiến giết Diên Hựu. Sau Tư Mă Quế Châu là Tào Trực Tĩnh đánh giết được Kiến.”(sđ d, tr.189).Giao Châu loạn, Mai Thúc Loan khởi nghĩa năm 722. Giặc Côn Lôn-Chà Bà chiếm phủ Trấn Nam đô hộ ở La thành, kinh lược sứ Trương Bá Nghi cầu cứu Đô úy châu Vũ Định là Cao Chính B́nh, quân cứu viện đánh tan quân giặc. Bá Nghi đắp lại La Thành năm 767. Rồi năm 791, Phùng Hưng vốn nhà hào phú, sức có thể vật hổ đánh trâu, dấy binh đánh Cao Chính B́nh, chiếm phủ trị, tiếc thay sớm qua đời, con là Phùng An lên thay, tôn xưng cha là Bố Cái Đại Vương. Khoảng tháng 5, năm 791 nhà Đường đặt quân Nhu viễn ở phủ trị, cử Triệu Xương làm đô hộ, phủ dụ Phùng An, An đem quân hàng…Năm 819, Dương Thanh là một tù trưởng bản địa, từng được nhà Đường cử làm thứ sử Hoan Châu, khởi nghĩa nhân quan đô hộ Lư Tượng Cổ hà khắc, đánh phá phủ thành, giết Tượng Cổ. Nhà Đường sai Quế Trọng làm An Nam đô hộ, đánh Dương Thanh không được. Lư Nguyên Gia được  cử làm đô hộ, đánh nhau với Dương Thanh cũng như dụ hàng cũng không xong. Lư Nguyên Gia tin phong thủy nên dời phủ thành. ĐVSKTT chép: “Giáp Th́n(824),(Đường Mục Tông Hằng, Trường Khánh năm thứ 4).Mùa đông, tháng 11, Lư Nguyên Gia thấy trước cửa thành có ḍng nước chảy ngược, sợ trong châu nhiều người sinh ḷng làm phản, v́ thế dời đến đóng ở thành hiện nay.(Bấy giờ Nguyên Gia dời phủ trị đến sông Tô Lịch, mới đắp thành nhỏ thôi,có người thầy tướng bảo rằng: Sức ông không đắp nổi thành lớn, sau 50 năm nữa ắt có người họ cao đến đây đóng đô dựng phủ…”(sdd tr.193)…Hậu bán thế kỷ IX, Giao Châu lại loạn v́ giặc Nam Chiếu, Cao Biền đánh dẹp, lại đắp thành Đại La to rộng bề thế hơn…Năm Đinh Măo (907) nhà Đường mất, họ Khúc ở Giao Châu tự lập Tiết độ sứ. Vua Nam Hán sai Lư Khắc Chính sang đánh dẹp họ Khúc, lại cử Lư Tiến làm thứ sử. Bộ tướng của Khúc Hạo là Dương Đ́nh Nghệ ở Ái  Châu đem quân đánh Tiến, chiếm được Đại La thành…Như thế thời Văn Đường, các họ Lư, Phùng, Khúc, Dương có mưu đồ nổi dậy để tự chủ ở Giao Châu. Vậy ở bờ bắc sông Đuống có khả năng là vùng lập nghiệp của họ Lư, họ Khúc kế thế làm hùng trưởng.Như thế hành trạng của sư Định Không, Thông Thiện, Đinh La Quư An cùng tâm nguyện của họ có thể hiểu được. Vậy thủ phủ của họ Lư là Hoa Lâm, gần ngă ba sông Hồng, sông Đuống… Những năm loạn lạc họ Lư cứ kinh dinh đất đai về phía đông, đông bắc phía bờ bắc sông Đuống, tạo nên hương Diên Uẩn ở bờ bắc sông Đuống. Những ngôi chùa cổ ở Kinh Bắc được dựng có họ Lư góp công sức như chùa Lục Tổ, chùa Cổ Pháp (chùa Dặn) ở Đ́nh Bảng, chùa Cha Lư (chùa Minh Châu) ở Dương Lôi… C̣n họ Dương có khả năng kinh dinh vùng đất thuộc hương Thổ Lỗi, nên về sau có làng Dương Xá. Có khả năng Lư Khuê, là một hùng trưởng ở Hoa Lâm, thời thập nhị sứ quân vượt sông Đuống, về phía nam chiếm Thổ Lỗi để đặt bản doanh vậy. Chúng tôi nghĩ rằng, nếu Dương Lôi là quê nội th́ ở Dương Lôi phải có nhà Thái Đường để họ Lư thường xuyên tế lễ tiên tổ họ Lư và cả ngàn năm sau con cháu họ Lư(đă đổi thành họ Nguyễn) phải t́m về. Đằng này con cháu họ Lư vẫn hằng coi Hoa Lâm là quê nội .

C̣n làng Dương Lôi, vẫn c̣n tộc họ Phạm, luôn truyền ức làng ḿnh là quê ngoại và là nơi bà Phạm Thánh Mẫu sinh Lư Công Uẩn vào những ngày gian khổ. Điều thú vị là bà nội của Lư Công Uẩn cũng gốc họ Phạm Dương Lôi, lấy chồng là hùng trưởng Lư Khuê và làm dâu nhà họ Lư ở Hoa Lâm .

 

 

  5/Thay lời kết:    

              Khi đă lên ngôi, vua Lư Thái Tổ đă truy phong cha là Hiển Khánh vương và tôn tạo ngôi mộ của cha ở rừng Báng, không  xa  chùa Thiên Tâm và Dương Lôi,  được dân gian gọi là mộ Hiển Khánh Vương. Lại truy phong mẹ là Minh Đức Thái Hậu và cũng xây lăng cho mẹ trong rừng Báng. Do chưa tiện truy phong ông nội Lư Lăng Công, một vị sứ quân đă tử trận, nhưng sau đó truy phong bà nội làm hậu, ban tên thụy để cúng tế; thế th́ bí mật truy phong ông nội là hoàng đế vậy… Lư Công Uẩn bí mật dựng mộ phần của ông nội Lư Lăng Công ( mộ Hùng Công) và mộ của bà nội Phạm Thị Tiên (mộ Phạm quốc mẫu) ở Hoa Lâm. Rơ ràng Lư Công Uẩn có người anh được ban tước Vũ Uy Vương , có em là Dực Thánh Vương.Lại có một người chú ruột c̣n sống và được phong Vũ Đạo Vương, con ông chú là Trung Hiển lại giứ chức Thái úy Lư triều. Như thế Lư công Uẩn có một gia tộc đàng hoàng, nhưng do ông nội là sứ quân Lư Lăng Công, bị Đinh Tiên Hoàng đánh bại và Triều Đinh, Tiền Lê tầm nă gắt gao con cháu Lư Lăng Công, gia đ́nh của Lư Công Uẩn phải sống trong ly tán, bí mật. Nếu không có mối quan hệ huyết thống với sứ quân Lư Khuê th́ bà con thân thuộc của thiền sư Vạn Hạnh chỉ cần đổi họ và sống b́nh thường, đằng này cha mẹ của Lư Công Uẩn phải kết hôn trong bí mật, sống trong rừng, chịu muôn vàn khó khăn và chết thảm ! Do cuộc  vận động nhằm đưa Lư Công Uẩn lên ngôi, họ Lư hương Cổ Pháp đă tạo ra huyền thoại cha con Lư Công Uẩn là con thần cháu thánh nên vẫn giữ bí mật mối quan hệ huyết tộc với Lư Khuê. Thôn Dương Đanh, làng Dương Xá được lệnh ngầm tế lễ sứ quân Lư Lăng Công và ở Thái Đường Hoa Lâm là nơi hiệp tế tiên tổ họ Lư, trong đó có ông nội Lư Khuê và bà nội Phạm Thị Tiên của Lư Thái Tổ.

 

 

               Từ giả thuyết công tác nêu trên, chúng tôi thử dựng một phổ hệ gia tộc Lư Công Uẩn và Quốc Sư Vạn Hạnh. Phả đồ giả thuyết về tông tích của Lư Công Uẩn, trong đó chọn thân phụ của Định Không thiền sư làm tổ họ Lư và phải chăng ngài tổ này là hậu duệ của Lư Tự Tiên, cùng khởi nghĩa với Đinh Kiến vào năm 687?  Tạm xềp Định Không thuộc đời thứ nhất, ngang hàng ông cố của Lư Khuê. Có khả năng đệ tử Thông Thiện cũng thuộc họ Lư, ngang đời với ông nội của Lư Khuê. Đệ tử Đinh La Quí An của Thông Thiện, người trị phép thuật của Cao Biền và trồng cây gạo lịch sử ở Dương Lôi là ngang đời với cha của Lư Khuê và là hậu duệ của Đinh Kiến. Họ Khúc từng khởi nghĩa và tự chủ, có hậu duệ là Khúc Lăm, được Trưởng lăo Đinh La Quí An nhắc đến trong lời trối…

 

            Chúng tôi đề xuất  một giả thuyết công tác trong công cuộc t́m kiếm tông tích của nhà vua huyền thoại Lư Thái Tổ. Với  tinh thần khoa học, chúng tôi dựa vào  những bài kệ mang màu sắc sấm kư được chép trong Thiền Uyển tập anh ngữ lục, hoặc bài sấm kư xuất hiện trên cây gạo… để t́m sự thật về tông tích của Lư Công Uẩn. Thiền sư Vạn Hạnh đă hoàn thành xuất sắc tâm nguyện của họ Lư nói riêng và của dân Việt nói chung. Dẫu là thiền sư ngài đă đạt  vinh quang tột bực, cũng như người cháu, người con nuôi và người học tṛ xuất sắc Lư Công Uẩn. Tuy nhiên để đạt được sự vinh quang ấy th́ tự đáy ḷng thiền sư Vạn Hạnh và vua Lư Thái Tổ vẫn đau đáu một nỗi niềm không nguôi là Lư Công Uẩn là người « mất gốc » ! V́ lẽ đó, vị cố vấn Vạn Hạnh đă bàn với vua Lư Thái Tổ khi vừa lên ngôi đă phong tước vương cho chú, anh, em ; truy phong mẹ và cha…tức là biến huyền thoại người thần của Lư Công Uẩn thành bậc có cha là thần và mẹ là người thực của cơi nhân gian. Tuy nhiên sau 10 năm ở ngôi, nỗi đau ấy vẫn c̣n trong thiền sư Vạn Hạnh và vua Lư Thái Tổ, cho nên hai người quyết định truy phong bà nội của Lư Công Uẩn, ở Hoa Lâm, là hậu. Nhưng không truy phong ông nội, vẫn tạo ra huyền thoại bà nội « cảm thần hầu » trên tảng đá trong hang và sinh Hiển Khánh Vương. Chính ở chùa Tiêu Sơn, thiền sư Vạn Hạnh kể về các vị tổ Định Không, Thông Thiện, Đinh La Quí An, Thiền Ông với những bài kệ có  sức dự đoán như thần là nhằm gửi lại hậu thế những ch́a khóa để giải mă gốc gác người thực của Lư Công Uẩn. Do bối cảnh lịch sử đương thời, trước và sau khi Lư Công Uẩn lên ngôi, Vạn Hạnh và Lư Công Uẩn âm thầm giữ kín nỗi niềm bi kịch ấy, khiến hậu thế gặp nhiều khó khăn trong việc t́m gốc gác của Lư Thái Tổ. Khi nêu giả thuyết để góp phần t́m kiếm tông tích của vua Lư Thái Tổ, có thể phạm sai lầm, có ǵ sơ suất th́ các nhà sử học và bà con họ Lư, họ Phạm góp ư  cho chúng tôi trong tinh thần khoa học.

 

                                                                                                               6-9--2010

                                                                                                           Trần Viết Điền

         ©          http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.org

 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 02/19/15