Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
 
Ẩm Thực
Cảm Nghĩ
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Liên Mạng Thành Viên
Trang Chủ
Hồng Vũ Lan Nhi 1 & 2
Phong Thủy HKH
 

 
 

 

 
 

 Nam Triệu và Nam Chiếu .

Bách Việt trùng cửu – Nguồn  http://my.opera.com/bachviet18/blog/
Trong Lĩnh Nam chích quái có một câu chuyện rất thật, không có chút huyền thoại hay “chích quái” nào nhưng lại khó hiểu nhất v́ chẳng hề ăn khớp tí ǵ với chính sử. Đó là Truyện Nam Chiếu. Nay xin “đọc lại” câu chuyện này, không cần phải “giải mă” ǵ, chỉ cần đối chiếu với những ǵ đă và đang biết về lịch sử bị lăng quên của miền Tây và Nam nước ta.

 

Câu đầu tiên của Truyện Nam Chiếu khẳng định: “Người Nam Chiếu là con cháu vua Vũ Đế Triệu Đà”. Câu khẳng định này đúng là đánh đố người đọc ngày nay. Nam Chiếu được coi là quốc gia của người Di Bạch vùng Vân Nam, sao lại là con cháu Triệu Đà được? Nhưng đích thực, câu mở đầu này đă xác định nước “Nam Chiếu” thực chất là ở đâu.

 

Triệu Vũ Đế dựng nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung – Quảng Đông. Thành phần dân tộc chính vùng này là nhóm người Tày Thái. Nam Chiếu là con cháu Triệu Đà, tức là một quốc gia người Thái. Lịch sử Nam Chiếu cho biết quốc gia người Thái này đă từng trải rộng trên đất Tây Bắc Việt Nam, Lào và Bắc Thái Lan.

 

Nước Nam Chiếu ở trong truyện không phải mới bắt đầu vào thời Đường như nước Nam Chiếu theo chính sử ở Vân Nam, mà có gốc gác từ thời Tây Hán. Khi Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt th́ “Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bổ đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu”.
Đất Hoành Sơn mà ở gần cửa Thần Phù th́ là đèo Ngang giữa Ninh B́nh và Thanh Hóa, chứ không phải Hoành Sơn ở Quảng B́nh. Con cháu họ Triệu như vậy trở về vùng Ái Châu tụ tập.

 

Đoạn ghi chép trên rất giống với chuyện… Man vương Mạnh Hoạch chống lại các vị quan họ Chu của nhà Đông Hán trong thần tích làng Hương Ngải – Sơn Tây. Mạnh Hoạch hoạt động cả một dải từ Hưng Hóa tới Ái Châu, làm quan cai trị ở Giao Châu lúc đó phải lao đao… Nam Triệu như vậy là tên gọi nước của Mạnh Hoạch từ thời Đông Hán, là vùng đất phía Tây Giao Chỉ.

 

Tiếp theo, “Đến đời Ngô, Tôn Quyền sai Đái Lương, Lữ Đại làm thú mục để đánh dẹp. Quân Nam Chiếu ở cả một vùng từ núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tung, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi, núi cao bể rộng, sóng gió hiểm trở, không có một vết chân người. Quân Nam Chiếu ở đấy thường lấy việc cướp bóc để sinh sống, đánh giết thú mục, không thể ngăn cản nổi.

 

Đây cũng là thành tích của Mạnh Hoạch khi phần đất phía Đông Giao Chỉ được Sĩ Nhiếp Ngạn Uy dâng cho Ngô Tôn Quyền. Đoạn trên cho biết một loạt các địa danh “từ núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tung, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi”. Các địa danh này hẳn nằm ở Tây Bắc và Tây Thanh Nghệ ngày nay, là đất Nam Triệu của Mạnh Hoạch.

 

Mạnh Hoạch hay Mănh Hoàng, có thể chỉ là cách gọi vị vua của người Mường Mán. Mănh Hoàng là con cháu họ Triệu, sau khi kinh đô Phiên Ngung của Nam Việt thất thủ đă rời về Tây Giao Chỉ và hùng cứ một vùng, liên tục chống lại các quan lại nhà Hán rồi tới nhà Ngô. Tiếp theo th́ như đă biết, Vũ Hầu Gia Cát, thừa tướng của nhà Thục đă vượt Lô Giang, tiến vào Tây Bắc b́nh định, thu phục Mănh Hoàng. Mănh Hoàng tiếp tục cai quản khu vực Nam Triệu này dưới h́nh thức tự trị, độc lập.

 

Truyện Nam Chiếu kể tiếp: “Cuối đời Tấn thiên hạ rối loạn, có người thổ tù là Triệu Ông Lư cũng là con cháu của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều nể phục, cùng hợp lại với quân Nam Chiếu, được hơn hai vạn người, lại đem châu báu ngà ngọc hiến cho nước Tây Bà Dạ, xin chỗ sinh sống ở vùng đất trống ven bờ biển.
Nếu đối chiếu với tộc phả họ Phạm:

“Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lư Thành (con Lư Thân – Lư Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (B́nh Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp) – tức là Nam Trung bộ ngày nay.

 

Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trước CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm Ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Việt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) th́ họ Lư xưng vương xứ Lâm Ấp. Măi đến đời Lư Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa ( xă Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngăi ngày nay).”

 

Có thể thấy Triệu Ông Lư, con cháu Triệu Đà, là họ Lư, bắt đầu từ Lư Thân (Lư Ông Trọng). Vùng đất Tây Giao Chỉ là vùng Lâm Thao, nơi Lư Ông Trọng trấn giữ người Hồ dưới thời Tần.

 

Đặc biệt truyền phả họ Nguyễn c̣n chép rằng Triệu Đà chính là Lư Ông Trọng. Chuyện này tuy c̣n nhiều nghi vấn, nhưng có thể có phần nào là sự thật khi con cháu Triệu Đà cũng là con cháu của Lư Thân, chiếm vùng đất Tây Giao Chỉ dưới thời Hán.

 

Vùng Tây Giao Chỉ là đất của Mănh Hoàng (Mạnh Hoạch), c̣n gọi là Nam Triệu, thời Tam quốc đă hàng phục nước Thục nhờ công của Vũ Hầu Gia Cát. Khi nhà Tấn diệt Thục, Tấn chỉ chiếm được vùng Xuyên Thục phía Bắc của nước này. Phần phía Nam vẫn do Mănh Hoàng tự trị kiểm soát. Theo Truyện Nam Chiếu th́ lúc này Triệu Ông Lư, con cháu Triệu Đà – Lư Thân, đă lên nắm quyền cai quản ở đây. Triệu Ông Lư chống lại nhà Tấn, “cùng hợp với quân Nam Chiếu”, tức là hợp với quân của họ Phạm ở phía Nam vùng ven biển Trung Bộ theo như tộc phả họ Phạm chép.

 

Truyên Nam Chiếu chép: “Khi ấy, nước Tây Bà Dạ chia đều đất ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Quư Châu, dưới tới Diễn Châu gọi là lộ Già La, trên từ Cầm Châu xuống tới Hoan Châu gọi là lộ Lâm An giao cho Nam Chiếu và Triệu Ông Lư thống lĩnh. Sau đó, ông Lư xây thành ở tổng Cao Xá, đất Diễn Châu, đông giáp với biển, tây tới nước Bà Dạ, nam tới Hoành Sơn, tự xưng làm chúa.”

 

Có thể thấy nước Nam Chiếu trong truyện ở thời kỳ nhà Tấn chính là xứ Lâm Ấp hay Nam Hà trong tộc phả họ Phạm. Xứ này bao gồm 2 phần:

- Phần lộ trên từ Quư Châu tới Diễn Châu do Triệu Ông Lư cai quản. Lộ này có tên Như Hoàn, hay Già La, sách khác gọi là Như La, Gia Viễn. Đây là phần đất liền không giáp biển, là Tây Giao Chỉ, gồm cả đất Lào ngày nay. Tên gọi Già La hay Như La cho thấy vùng này chính là nước Lỗ (La) của thời Chiến Quốc. Đây cũng là đất Lâm Thao thời Tần, trước do Lư Ông Trọng cai quản, sau đó giao cho con cháu Lư Thân.

- Lộ dưới từ Cầm Châu tới Hoan Châu gọi là Lâm An, do con cháu họ Phạm quản lư. Đây là phần giáp biển, ven biển miền Trung ngày nay. Tên lộ Lâm An cho thấy đây là đất Yên (An) thời Chiến Quốc, đă được nhà Tần giao cho Phạm Duy Hinh, con của tướng Phạm Duy Minh ở Đằng Châu cai quản.
Bản đồ trên ước vẽ 2 phần đất Già La và Lâm An từ thời Tấn. Đây là phạm vi nước Lâm Ấp vẫn được mô tả trong sử sách, có phía Đông giáp biển, Tây đến Vân Nam …

 

Truyện Nam Chiếu kể tiếp: “Nhà Đông Tấn sai tướng là Tào Khả đem quân sang đánh, Ông Lư mai phục ở rừng núi hiểm trở nơi đầu nguồn sông mà đánh, rồi lại tới nấp ở núi Liên Vị, địch tới th́ ḿnh đi, địch đi th́ ḿnh tới, sáng ra tối vào, cầm cự trong 4, 5 năm trời, không hề đối đầu. Quân Tấn không chịu nổi lam chướng, chết hơn quá nửa, bèn rút quân về.
Nhà Tấn sau khi diệt Thục và Ngô, tấn công xuống phương Nam. Nhưng gặp sự kháng cự của Mănh Hoàng, rồi Triệu Ông Lư ở vùng Nam Triệu này, không tiến nổi. Vùng đất này như vậy vẫn giữ độc lập từ thời Tấn.

 

Lư Ông Nam Triệu tương đương với … Lư Nam Đế (Triệu = Chúa), trong sử Việt được gọi là triều Hậu Lư Nam Đế. Tới thời Tùy Cao Tổ năm 602 tướng Lưu Phương đă dụ hàng con cháu của Nam Triệu, đưa vùng đất La – Lỗ nhập vào đất Tùy. Năm 605 Lưu Phương cũng tấn công xuống phía Nam thắng lợi, đuổi họ Phạm chạy ra ngoài hải đảo, sát nhập nốt đất An – Yên vào nhà Tùy. Nước “Nam Triệu” của Triệu Ông Lư chấm dứt ở đây sau 600 năm tồn tại. Nhưng sau đó, một nước Nam Chiếu mới lại nổi lên…

 

Tộc phả họ Phạm viết: “Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An , diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766).

 

C̣n Truyện Nam Chiếu chép: “Quân Nam Chiếu tới cướp các xứ Nam thành, Đông thành, Trường An, quan lệnh không thể dẹp nổi. Tới khi nhà Đường thịnh lên, vua Ư Tông sai Cao Biền đem quân sang dẹp, không đánh nổi phải bỏ về.
Đoạn này nói tới cuộc khởi nghĩa thời Mai Thúc Loan – Phùng Hưng, tấn công chiếm thành Tống B́nh (Trường An?). Phải tới Cao Vương Biền mới đuổi được quân Nam Chiếu của họ Phùng ra khỏi Đông Giao Chỉ, và đặt vùng này làm Tĩnh Hải quân. Nhưng phía Tây Giao Chỉ vẫn do Nam Chiếu chiếm giữ. Thậm chí c̣n mở rộng ra thành 6-7 “chiếu” theo như truyền thuyết về Khun Borom ở Lào.

Đoạn cuối cùng của Truyện Nam Chiếu:
 
Đoạn cuối cùng của Truyện Nam Chiếu:
 
“Tới đời Ngũ Đại vua Tấn là Thạch Kính Đường sai tướng tư mă là Lư Tiến đem 30 vạn quân đánh Đồ Sơn, quân Nam Chiếu bèn rút về biên giới Ai Lao, gọi là nước Đầu Mô, nay là đất Bồn Man”.

 

Thời Thạch Kính Đường th́ Hoa Nam đă chia năm xẻ bảy, c̣n hơi sức đâu mà nhà Hậu Tấn đánh dẹp Nam Chiếu. Lúc này trên đất Tĩnh Hải là triều đại của Nam Hán Lưu Cung. Đoạn sử trên có thể nói tới sự kiện Cao Biền đánh Nam Chiếu từ thời Đường Ư Tông, hoặc chuyện Đoàn Tư B́nh diệt Nam Chiếu, lập nước Đại Lư. Có điều sử Tàu đă biến chuyện Nam Chiếu bị diệt thành chuyện Nam Hán Lưu Cung cử Lư Tiến đánh Khúc Thừa Mỹ. Có thể Lư Tiến là tướng của Lưu Cung quăng năm 936 – 940 (thời Hậu Tấn) đă tấn công Nam Chiếu ở Tây Giao Chỉ, chứ không phải đánh Khúc Thừa Mỹ.

 

Phải nói Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái là một ghi chép rất đầy đủ và chân xác về lịch sử vùng Tây Giao Chỉ trong suốt một thời kỳ dài từ Đông Hán tới tận thời Ngũ Đại. 1000 năm lịch sử của miền Tây đă bị lăng quên, may mắn c̣n được lưu lại trong truyện. 600 năm Nam Triệu và 400 năm Nam Chiếu, kiên cường chống lại phương Bắc, huy hoàng mở các quốc gia người Thái khắp Đông Nam Á.

Chung quanh truyện Nam Chiếu .

Trích tộc phả họ Phạm Việt nam :


“Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lư Thành (con Lư Thân -Lư Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là ái châu (B́nh Trị Thiên) và Trung châu ( gọi là xứ Lâm ấp)-tức là Nam Trung bộ ngày nay.

Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Viêt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) th́ họ Lư xưng vương xứ Lâm ấp. Măi đến đời Lư Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa ( xă Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngăi ngày nay). Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An , diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766).
………………………
Đối chiếu với thông tin trong sử sách chỉnh sửa thành :
“Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lư Thành (con Lư Thân -Lư Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là ái châu (Thanh Ngệ Tĩnh ) và Trung châu (Bình Trị Thiên ) gọi là xứ Lâm ấp – tức Trung bộ ngày nay.


Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Hiếu -Tây Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà – Nam Hời (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hiếu – Tây Hán chiếm lại Nam Viêt, nhà Triệu diệt vong (111 trc CN) th́ họ Lư xưng vương lập nước Nam – kinh đô là Lâm ấp vua đầu là Lý khu Kiên sử Việt gọi là Lý Nam đế . Măi đến đời Lư Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa – Vijaya ( xă Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng ngày nay). Đến đời vua Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa , vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua tổ họ Phạm (chính là 18 Hùng vương ) , khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh (Sri Vijaya – Qua oa ) về hợp cùng Mai Thúc Loan tức Mai Hắc đế (766) chống lại quân nhà Đường , về sau Phùng Hưng con của Phùng Tói Cái trước là tướng của Mai Hắc đế đánh lui quan quân nhà Đường phục hưng nước Nam , Phùng Hưng được tôn là Bố Cái Đại vương (Pi lô cô- Bì la Cáp) chúa nước Nam hay Nam chúa viết sai đi thành Nam Chiếu .

Lấy phần Tộc phả họ Phạm đã chỉnh sửa và chính sử Việt đối chiếu với truyện Nam Chiếu – Lĩnh nam trích quái nhận ra :
Thông tin trong truyện Nam Chiếu là những dòng sử bị bỏ sót của lịch sử Việt nam .

2 chữ Nam triệu và Nam Chiếu  tạo thành xương sống của câu chuyện có chiều dài thời gian sấp xỉ 1200 năm  , nhưng phân rõ thành 2 thời kỳ lịch sử .·        Thời Nam chiếu (triệu – chúa)  nghĩa là chúa nước Nam .· Thời Nam chiếu (Chiêu – Châu)  chỉ  triều đại Nam Châu của Trung Hoa tức nhấn mạnh đây là triều tiếp nối quốc thống nhà Châu .

- Nam Việt vũ – Triệu Đà ; Triệu không phải họ mà là biến âm của Chậu – Chiếu –chuá , chuá Nam Việt gọi tắt là Nam chúa .
- Lý Nam đế (hậu) Lý Bí ; Nam đế là vua nước Nam cũng là Nam chiếu -Nam chúa .
- Mai Hắc đế , Hắc là màu đen sắc của phương nam tương tự Huyền thiên , Mai hắc đế là ông vua nước Nam họ Mai hay My .
- cuối cùng là Phùng Hưng –Bố cái đại vương là vua sáng lập triều đại Nam Châu tiếp nối quốc thống nhà Châu sau các thời  Tây Châu – Đông Châu – Bắc Châu ; câu đối nơi đền thờ ….Phong thành phủ lỵ thái Nam bang …chỉ ra nơi đóng đô là Phong thành , nước là nước Nam (Châu) .

Đặc biệt Khu Liên được dân chúng tôn làm vua nước Lâm Ấp năm 192 , Thực ra không có nước Lâm Ấp , Lâm ấp là lối viết tắt của đại ấp Lâm nghĩa là thủ đô nước Lâm- nước Nam , Nam →Lam→Lâm … rõ ràng Khu Liên là Nam triệu – Nam chúa , Khu Liên trong tộc phả họ Phạm biến thành Lý khu Kiên (Khu Liên thiết Kiên) …, có nhà nghiên cứu nghi ngờ khu Liên không phải là nhân vật mà là tộc danh vì năm 137 cũng đã có 1 cuộc nổi loạn của Khu Liên …không lẽ 2 cuộc binh biến cách nhau 55 năm cùng do 1 người cầm đầu ?, Thiên Nam ngữ lục làm sáng tỏ thêm vấn đề với câu …Khu Linh người nước Nam ta ..; đầu tiên câu thơ này đã minh định nước ta tức nước của tiền nhân người Việt nam xưa tên là nước Nam , thông tin thứ 2 quan trọng không kém ….không phải là ‘Khu Liên’ mà là ‘Khu Linh’ , Khu Linh thiết Kinh …phải chăng đây chính là tên của tộc người đa số đã tạo nên cộng đồng người nước Nam tức dân Nam ? .

Khu Linh thiết Kinh ; từ Kinh nghĩa là gì ?
-Kinh cũng là Canh chỉ hướng ngược với La , La – Canh là 2 đầu của La bàn còn gọi là kim chỉ Nam dùng xác định phương hướng như thế La – Canh đồng nghĩa với Bắc – Nam , Kim chỉ Nam 1 trong những phát minh lớn lao đã làm thay đổi lịch sử nhân loại .
-Kinh – Canh là sợi dệt ngang dùng chỉ đường kẻ ngang – trục nằm nói chung đối phản với Tung – tưng –tâng chỉ đường thẳng đứng- trục đứng , Canh ↔cánh ↔cành ….ngang cành bứa …(Canh =hoành) , trong Thập can thì can canh là số 6 đối lập với can Tân –tưng là số 7, chu kỳ Thập can là đi hết 1 vòng trở về trung tâm là số 5 ở giữa Hà thư ; Canh và Tân bắt đầu cho vòng sau vì thế ta có từ kép ‘Canh-Tân’ nghĩa là đổi mới …

-Kinh – Canh nghĩa là cô đặc lại ; là ý niệm cơ bản của âm – dương …phần khí nhẹ bốc lên thành trời …phần nặng chìm xuống cô –đặc lại thành ra đất …
Xét như thế thì Thiên Nam ngữ lục đã trực tiếp chỉ ra …tộc Kinh đã tạo nên nước Nam .
Chuyện Nam triệu – Nam Chiếu chưa đầy trang giấy mà gói trọn 1200 năm lịch sử người họ Hùng thực là 1 tuyệt phẩm về lịch sử chỉ tại xưa nay người ta chưa nhìn thấu , chưa nắm bắt được vấn đề do lượng tin chứa trong vài hàng chữ …vớ vẩn lớn qúa sức tưởng tượng nên đã có người cho ‘Lĩnh Nam trích quái’ là chuyện … trâu ma rắn thần .. .

Cạnh chữ Việt , chữ Nam đã gắn bó với con cháu nhà Hùng từ thời thượng cổ ,không phải chỉ có hơn ngàn năm ngự trị của Nam chúa viết ở truyện Nam chiếu – Lĩnh Nam trích qúai mà từ thời Đế Nghiêu đã ….mệnh Hy Thúc trạch Nam Giao , tới thời Lý ở cận kim thời đại còn viết …Nam quốc sơn hà Nam đế cư …, thời Nguyễn đã có những năm tháng chữ NAM độc quyền trong quốc hiệu của con cháu nhà Hùng ( nước Đại Nam thời vua Minh Mạng ).

Có người cho quốc hiệu Việt nam ngày nay là ghép từ 2 thành phần An Nam – Việt Thường mà thành … điều này không ổn vì tự thân người Việt chưa bao giờ nhận mình là An Nam , đấy là cái tên do vua quan con nhà ‘giời’ đặt ra chỉ 1 cộng đồng người mà họ tự cho là chư hầu của họ , thậm chí ‘nó’ có thể chỉ là sản phẩm do bọn bồi bút gia nô dốt nát tưởng tượng ra rồi chép vào sử …vì An Nam quốc gốc là An Nam đô hộ phủ với chữ An là vỗ yên , làm cho yên ổn …thì cụm từ ‘An Nam quốc’ thành ra chẳng nghĩa ngọn gì , sử liệu Trung quốc trước nhà Tống từng có chúa Chăm được phong là An Nam tướng quân Lâm Ấp vương chứ không hề có An Nam quốc vương .Truyện Nam chiếu gói ghém thông tin lịch sử ngàn năm qúa sức dài , diễn tiến trước sau dựa vào phân kỳ lịch sử Trung quốc mà danh xưng các triều đại Trung quốc thì đầy những cái bẫy chữ nghĩa , Hán thì nào Tây Hán Đông Hán Bắc hán Nam Hán rồi hậu Hán , Hán triệu …lu bù Hán ; Tấn cũng tương tự thế …có cả đống Tấn , xin lưu ý những chữ nam bắc tây đông tiền hậu đều là do đời sau viết sử tự ý thêm vào chứ bản thân các triều đại ấy chỉ có mỗi chữ Hán hay Tấn trần trụi …như thế hỏi làm sao tránh khỏi lầm lẫn …râu ông này cắm cằm bà kia …chính việc ‘cắm lộn’ râu này đã khiến truyện trong sách lĩnh Nam trích qúai trở nên …trâu ma rắn thần …vì khi đối chiếu với những tư liệu lịch sử khác …thấy chẳng ra đâu vào với đâu …

Nếu bình tâm Phân tích và hiệu chỉnh truyện Nam Chiếu … vẫn có thể lắng lọc tìm được những Thông tin qúy gía của lịch sử Việt .
Thời Hiếu Vũ Đế, Thừa tướng của Triệu Đà là Lữ Gia không thần phục nhà Hiếu, giết sứ Hán là bọn An Quốc và Thiếu Quư. Hiếu Vũ sai Lộ Bác Đức và Dương Phác đem quân chinh phạt, bắt được Vệ Dương Vương Kiến Đức và Lữ Gia, thôn tính cả nước , phân đất đặt quan cai trị.

Họ Triệu mất nước, con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau hội họp nhau ở phía Tây và Bắc Giao chỉ giết các quan lệnh cai trị của nước Đông hãn , xưng là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu , Triệu là chúa nhưng Chiếu biến âm của Châu  là danh từ riêng tên 1trong tam đại Trung hoa  ; Nam Triệu và Nam Chiếu – Nan Chao là 2 thời kỳ lịch sử khác nhau .

Cuối đời nước Đông hãn thiên hạ rối loạn, có người thổ tù là Triệu Ông Lư tức Lý Bí cũng là con cháu của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều nể phục, cùng hợp lại với quân Nam Chiếu ( đoạn văn này chỉ rất rõ : quân của Triệu ông Lý là quân Nam triệu hợp lại với quân Nam Châu ), được hơn hai vạn người,bèn xưng đế lập nước NAM , kinh đô là Lâm ấp có đất đai phía đông tới biển ,phía tây tới Ba Thục ,phía nam giáp nước Bà Dạ,phía bắc giáp Cửu Chân , Triệu ông Lý – Lý Bí xưng là Lý Nam đế nghĩa là vua nước Nam .

Nhà Tấn sai tướng là Tư Mã …? ( Tư mã là họ của vua nhà Tấn) đem quân sang đánh ; Nam Chiếu thua to chạy về đất Ai lao gọi là nước Đầu Mô (Đoài hoàng – Mai quốc ?) . Quân Nam Chiếu lùi về phía nam ở cả một vùng từ núi Thiên Cầm tới các vùng Hà Hoa, Cao Hoàng, Hoành Sơn, Ô Đặc, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Đổ, Vọng Án và Lỗi Lôi, núi cao bể rộng, sóng gió hiểm trở, không có một vết chân người. Ông Lư mai phục ở rừng núi hiểm trở nơi đầu nguồn sông mà đánh, rồi lại tới nấp ở núi Liên Vị, địch tới th́ ḿnh đi, địch đi th́ ḿnh tới, sáng ra tối vào, cầm cự trong 4, 5 năm trời, không hề đối đầu. Quân nhà Tấn không chịu nổi lam chướng, chết hơn quá nửa, bèn rút quân về không chiếm được đất phía Nam của Nam chúa .
Đời Tam Quốc, Tôn Quyền nhà Ngô sai Đái Lương, Lữ Đại đánh diệt anh em Sĩ Huy phong họ làm Thái Thú Giao chỉ để đánh dẹp Nam Chiếu (triệu) cũng không thể đánh nổi .Dựa vào đoạn văn lĩnh Nam trích  quái  trên thì rõ ràng có 2 Nam Chiếu ; 1 trước và 1 sau .
Nam chiếu 1 có từ thời Hán tức trước thời Tam quốc .
Nam Chiếu sau xảy ra vào thời Ngũ đại , cụ thể là thời nhà hậu Tấn của sử Tàu .?
Lĩnh Nam trích quái đã trộn lộn thông tin 2 Nam Chiếu ; trước từ thời Hán sau ở đời Đường (theo theo sử hiện nay) vào thành 1 khiến  chuyện trở nên hỗn loạn không tài nào hiểu nổi .


Xin tiếp tục với Nam Chiếu đời sau… :
Đời Tùy tướng Lưu Phương tiến quân chiếm mất phần đất bờ biển của Nam Chiếu (triệu) nay là Thanh Nghệ tĩnh .
Sang đời Đường Nam Chiếu (triệu) thần phục nhà Đường cả 1 giải đất Tây và Bắc Giao chỉ được tự trị gọi là châu KI Mi hay CƠ MY.
Năm Nhâm Tuất (722) là năm Khai Nguyên thứ 10 về đời vua Huyền Tông nhà Đường, ở Hoan Châu có một người tên là Mai Thúc Loan nổi lên chống cự với quân nhà Đường. Mai Thúc Loan là người huyện Thiên Lộc, tức là huyện
Lộc, tỉnh Hà Tĩnh bây giờ, mặt mũi đen ś, sức vóc khỏe mạnh, thấy quan nhà Đường làm nhiều điều tàn bạo, dân gian khổ sở, lại nhân lúc bấy giờ lắm giặc giă,ông ấy bèn chiêu mộ những người nghĩa dũng, rồi chiếm giữ lấy một chỗ ở đất Hoan Châu (nay thuộc huyện Nam Đường tỉnh Nghệ An) rồi xây thành đắp lũy, xưng hoàng đế, tục gọi là Hắc Đế”.

Hắc đế tức Nam Chúa – Nam triệu (Hắc – màu đen chỉ phương Nam theo Dịch học nay lộn ngược thành phương Bắc) đem châu báu ngà ngọc hiến cho nước Tây Bà Dạ (Chân Lạp hay Sri vijaya ?), xin chỗ sinh sống ở vùng đất trống ven bờ biển. Khi ấy nước Tây Bà Dạ chia đều đất ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Cầm (Kiềm) châu dưới tới Diễn Châu gọi là lộ Lâm An (?) giao cho Mai Hắc đế ., từ Hoan Châu (Hà Tĩnh hay Quảng Bình ?) đổ về phía nam gọi là lộ Già la hay vijaya còn gọi là Chàm Dừa, trung tâm là vùng Bình định ngày nay .

Lộ Già la – Vijaya – Chàm Dừa được  sử Trung quốc gọi là nước Lâm Ấp giai đoạn sau  hợp nhất với Chàm Cau  Cau ở vùng Khánh hoà ngày nay , năm 757 trung tâm chính trị ‘Dừa – Cau’ chuyển về đất Khánh hoà thuộc Chàm Cau từ đó gọi là nước Hoàn vương , năm 875 đổi thành nước Chiêm thành – Chămpa .

Sử sách Trung Quốc cũng ghi chép về liên minh quân sự này: “An Nam có Mai Thúc Loan làm phản, xưng Hắc Đế, dấy dân chúng 32 châu, bên ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân, chiếm giữ vùng Hải Nam, quân chúng có 40 vạn” (Tân Đường thư).
Sau nhà Đường cho quân đánh Mai hắc đế , Mai hắc đế chống không nổi thua chạy.. . lui quân về xứ Bồn Man xưng là Đầu hoành Mô quốc Bồn Mang …

Khoảng niên hiệu Đại Lịch 791 (VNSL), chưa rơ đích xác vào năm nào, nhân ḷng căm phẫn của nhân dân, Phùng Hưng và em là Phùng Hải đă phát động một cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền nhà Đường.
Phùng Hưng nghĩa là người đất Phong tên gọi là Hưng …hoặc giả cũng có thể là danh hiệu chỉ người đã làm hưng khởi đất Phong …chứ không phải họ và tên , Theo Sử thì Phùng Hưng về sau được xưng tụng là ‘Bố cái’ đại vương đặt tên nước là nước Nam (Châu) như trong câu đối ở đền thờ ông ….Phong thành phủ lỵ thái Nam bang

 

Việt nam sử lược viết :
Ở phía Tây Bắc đất Giao Châu, tức là ở phía Tây tỉnh Vân Nam bây một xứ người ṇi Thái ở. Người xứ ấy gọi vua là chiếu. Trước có 6 chiếu là Mông Huề, Việt Thác, Lăng Khung, Đằng Đạm, Thi Lăng, Mông Xá. Chiếu Mông Xá ở về phía Nam nên gọi là Nam Chiếu , đây là sai lầm lớn của sử gia Trần trọng Kim Mông Xá không ở cực nam địa bàn 6 chiếu và bản thân từ chiếu – triệu nghĩa là  chúa- chủ  cũng không phải là tên nước (cùng 1 chữ chiếu nhưng chiếu – triệu- chúa hoàn toàn khác nghĩa với Chiếu – Chiêu – Châu ) ; ở đây chính xác phải hiểu là đất đai của 6 chiếu – chúa hợp thành lãnh thổ nước  Nam Châu – Nan Chao , Nam Châu là triều đại tiếp nối quốc thống nhà Châu sau các tiền triều : Tây – Đông – Bắc Châu của Vũ văn Giác và rất có thể là cả triều Võ Châu của nữ hoàng Võ tắc Thiên , riêng 2 triều Châu thời sau là Hậu Châu của Quách Uy tiền triều của nhà Tống và Đại Châu của Ngô tam Quế  thì …khó có thể xem là hậu thân của nhà Châu Trung hoa .

Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-742) đời vua Huyền Tông nhà Đường, Nam Chiếu là B́ La Cáp cường thịnh lên, mà 5 chiếu kia suy hèn đi.

B́ La Cáp mới đút lót cho quan Tiết Độ Sứ đạo Kiếm Nam là Vương Dục để xin hợp cả 6 chiếu lại làm một. Triều đ́nh nhà Đường thuận cho, và đặt tên là Qui Nghĩa. Từ đó nước Nam Chiếu (Châu) càng ngày càng thịnh lên, đem quân đi đánh Thổ Phồn (Tây Tạng) rồi dời đô lên đóng ở thành Thái Ḥa (thành Đại Lư bây giờ).

Nhưng theo nhà nghiên cứu Bách Việt 18 :………Sách Lịch sử Thái Lan chép (Wyatt, David K.):

Năm Khai Nguyên thứ 26 (738), B́ La Các cầu Đường trợ giúp đánh bại La Quân Chiếu Điên Chi Thác, Lăng Khung Chiếu Chí La Quân, Thi Lăng Chiếu Bàng La Điên, Việt Tích Chiếu Vu Tặng, Mông Hề Chiếu Nguyên La, sách nhập ngũ chiếu. Nhà Đường phong cho B́ La Các làm Vân Nam Vương, ban danh là Mông Quy Nghĩa. B́ La Các lấy vùng tây Nhị Hà (tức Nhĩ Hải) làm cơ sở kiến lập nên Nam Chiếu Quốc. Năm sau, dời đô về thành Thái Ḥa (tức thành cổ Đại Lư ngày nay).

Khun Borom được các sử gia Thái Lào xác định là vua B́ La Các (Piloko), người khởi đầu nước Nam Chiếu (châu) vào đầu thế kỷ 8 dưới triều Đường. B́ La (Pilo) thiết Bố. B́ Lô Các cũng là Bố Cái. Như vậy có thể thấy Khun Borom của người Lào Thái chính là Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng của Việt Nam, người đă khởi nghĩa chống nhà Đường vào thế kỷ 8:

Thanh chấn Lư Đường, Thuận Đức niên gian uy Bắc khấu
Vận thừa Mai Đế, Phong thành phủ lỵ thái Nam Bang.

Niên hiệu của Khun Borom – Bố Cái được câu đối trên chép là Thuận Đức, đóng đô tại Phong Thành, lập nước là Nam Bang   , Có thể thấy Phong thành đây chính là Mường Then – Điện Biên, nằm ngay cạnh tỉnh Phong Xa Lỳ của Lào. Nam Bang là nước phía Nam hay Nan Chao (theo tiếng Thái nghĩa là nước của người phương Nam). Nan Chao là Nam Chiếu……………

Truyện Nam triệu – Nam Châu chính là dòng sử liên tục sấp sỉ 1200 năm Khởi từ thời Triệu Đà hay Chúa Đầu dựng nước Nam Việt truyền cho tới Phùng Hưng – Bì la Cáp xưng vương , niên hiệu Thuận Đức quốc hiệu Nam Châu đã không được thể hiện đầy đủ trong lịch sử Việt nam đây là sự thiếu sót vô cùng lớn .

Nước Việt nam ngày nay không chỉ kế thừa lịch sử nước Đại Việt mà còn kế thừa cả lịch sử nước Nam Châu oai hùng từng 1 thời thống nhất Đông nam Á lục địa . ; Rất có thể quốc hiệu “Việt – Nam” hiện nay chính là viết tắt của cụm từ ghép “Đại Việt – Nam Châu”.

 

Post ngày: 02/19/15 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 02/19/15