Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
 
Ẩm Thực
Cảm Nghĩ
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Liên Mạng Thành Viên
Trang Chủ
Hồng Vũ Lan Nhi 1 & 2
Phong Thủy HKH
 

 
 

 

 
 

 

NHÀ TÂY SƠN

Ấp Tây Sơn là nơi phát tích của ba anh em nhà anh hùng dân tộc Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, cho nên sử gọi ba anh em là Nhà Tây Sơn.
Tổ tiên nhà Tây Sơn vốn họ Hồ, ở làng Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Tổ quán ở dưới chân ḥn Thái Sơn, một ḥn núi nhỏ đứng bên cạnh ḥn Đại Hải, một danh sơn tỉnh Nghệ.
Họ Hồ vào lập nghiệp ở Quy Nhơn [5], tức B́nh Định thời Thịnh Đức nhà Lê (1653-1657), ứng với đời Lê Thần Tông (1649-1662) ở Đường Ngoài, đời Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) ở Đường Trong. Bắt đầu từ đời ông cố, đến Nguyễn Huệ là đời thứ bốn.
Ông cố tên là Hồ Phi Long, vào ở giúp việc nông trang cho nhà họ Đinh thôn Bằng Châu, huyện Tuy Viễn (tức An Nhơn). Thấy họ Hồ là người trung hậu cần mẫn, họ Đinh cưới vợ cho (có thuyết bảo là gả con gái) và nuôi cả vợ chồng, coi như người thân quyến.
Họ Hồ sinh được một trai, đặt tên là Hồ Phi Tiễn. Lớn lên Hồ Phi Tiễn tỏ ra khôn ngoan lanh lợi, song sức yếu không thể làm nông. Họ Đinh bèn giúp vốn để đi buôn.
Thời bấy giờ trầu nguồn rất có giá, song người đồng ruộng ít người chịu khó vượt suối đèo để đi kiếm lợi. Hồ lang bèn mang tiền lên ấp Tây Sơn buôn trầu. Đi buôn gặp người vừa ư mới kết nghĩa vợ chồng, và để tiện việc làm ăn Hồ lang cất nhà nơi quê vợ.
Bà vợ tên là Nguyễn Thị Đồng ở thôn Phú Lạc thuộc Tây Sơn Hạ. Bà Đồng là con duy nhất của một phú thương (buôn trầu) đất Phú Lạc. Để con ḿnh hưởng trọn gia tài và đời đời giữ hương hỏa bên ngoại, bà Đồng thương lượng cùng chồng cho con mang họ Nguyễn. Việc đổi họ đối với ông Hồ Phi Tiễn không có ǵ trở ngại v́ chẳng những hợp t́nh mà cũng hợp lư do việc tiền nhân là Hồ Quư Ly đă từng mang họ Lê là họ của cha nuôi từ nhỏ cho đến khi lênngôi thay nhà Trần trị thiên hạ. V́ vậy con ông Hồ Phi Tiễn mang họ Nguyễn từ lúc sơ sanh: Nguyễn Phi Phúc.
Lớn lên ông Phúc cũng chuyên nghề buôn trầu và lập trường buôn trầu tại chợ Kiên Mỹ gần sông Côn Devil. Trầu trên nguồn chở xuống người ở miền dưới lên mua trầu đều đi đường thủy, theo ḍng sông Côn. Chợ Kiên Mỹ mỗi tháng có sáu phiên, phiên nào cũng đông người mua bán. Đến khi trường trầu của ông Phúc mở, chợ càng ngày càng thịnh vượng thêm. Trên bộ th́ người chen chúc nhau, dưới sông th́ thuyền lớp đậu lớp xuống lên chật cả bến. Kiên Mỹ trở thành một thị trấn và ông Phúc trở thành một phú thương có uy tín nhất trong vùng. Ông kết duyên cùng bà Mai Thị Hạnh [7]. Bà hạnh là cao cao tổ cô của anh hùng Mai Xuân Thưởng. V́ vậy nên trong bản án của Mai anh hùng do triều đ́nh Huế buộc tội có câu: Dương vị Hàm Nghi khởi nghĩa, âm vị ngụy Nhạc phục thù.
Ông Phúc sanh ba người con trai:
Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ tức Nguyễn B́nh, Nguyễn Lữ.
Ngoài đời cũng như trong sách sử không nói rơ ba ông sinh năm nào.
Chỉ nghe các cụ phụ lăo truyền rằng ông Nhạc lớn hơn ông Huệ đến 10 tuổi, và ông Huệ hơn ông Lữ 1 tuổi.
Nếu dựa năm băng hà của Vua Quang Trung mà tính th́ chúng ta cũng có thể đoán được năm sinh của ba ông.
Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, theo các sử Việt, băng năm Nhâm Tư (1792) hưởng dương 40 tuổi. Như vậy ông Huệ sanh năm Quư Dậu (1753) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 14. Ông Nhạc lớn hơn 10 tuổi th́ sanh năm 1743, tức năm Quư Hợi. Ông Lữ thua ông Huệ 1 tuổi, tức sanh năm Giáp Tuất (1754).
Ba anh em lớn lên đều thọ giáo ông Trương Văn Hiến tục gọi là Giáo Hiến ở An Thái (An Nhơn).
Trương Văn Hiến, người Hoan châu (Hà Tĩnh) anh em thúc bá cùng Trương Văn Hạnh.
Trương Văn Hạnh là một đại thần đời Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát, Vũ Vương mất năm Ất Dậu (1765), thế tử cũng đă mất từ lâu, con thế tử c̣n nhỏ, nên tờ di chiếu để lại lập con thứ nh́ của Vũ Vương, tức Nguyễn Phúc Luân (cha Nguyễn Phúc Ánh) lên nối ngôi, Quốc phó Trương Phúc Loan muốn chuyên quyền, thông đồng với tên hoạn quan Chừ Đức và chưởng cơ Nguyễn Cửu Thống mạo tờ di chiếu giả, lập người con thứ 16 của Vũ Vương là Nguyễn Phúc Thuần, lúc ấy mới 12 tuổi, lên làm Chúa. Trương Văn Hạnh phản đối, bị Trương Phúc Loan giết chết. Trương Văn Hiến sợ vạ lây bèn trốn vào An Thái mở trường dạy học.
Ông Trương Văn Hiến dạy cả văn lẫn vơ. Người đến xin học văn th́ bắt buộc phải học thêm vơ. Những người đến xin học vơ th́ bắt buộc phải học thêm văn. Bởi có văn không vơ th́ thường nhu nhược. Có vơ không văn th́ thường hay cường bạo. Văn vơ phải nương nhau th́ đạo làm người mới giữ được vững.
Cũng như mọi người, ba anh em họ Nguyễn Tây Sơn đều học cả văn lẫn vơ, nhưng nặng bên vơ hơn bên văn. Ông Nhạc chuyên học kiếm, ông Huệ chuyên học đao, ông Lữ chỉ học quyền, và v́ sức yếu nên được truyền môn Miên quyền (quyền mềm dẻo như bông, đối lập với Ngạnh quyền là quyền cứng mạnh), là môn sở trường của Trương Công.
Ông Phúc qua đời, ông Nhạc nối nghiệp nhà. Ông Lữ xuất gia theo Minh giáo tục gọi là Đạo Ma Ní, dùng phù phép để chữa bệnh, trừ tà như đạo phù thủy. Đạo này thịnh hành ở Tây Sơn Thượng và các miền cao nguyên Trung phần. Chỉ có ông Huệ tiếp tục theo học thầy giáo Hiến.
Để tiện việc buôn bán, ông Nhạc dời nhà xuống Kiên Mỹ cạnh trường trầu. Nhà rộng để chứa bạn hàng. Trước nhà lại mở sân rộng để luyện vơ nghệ.
Nhà giàu, vơ giỏi, ông Nhạc lại nổi tiếng phong nhă hào hoa nên những tay anh chị, những kẻ khá giả ở các vùng lân cận đều rất thích giao du. Uy thế của ông Nhạc ở địa phương c̣n hơn ông Phúc gấp bội. Để tỏ ḷng kính mến, người đương thời gọi ông Nhạc là ông Hai Trầu. Ông Huệ là chú Ba B́nh hay Ba Thơm. Ông Lữ là thầy Tư Lữ.
V́ ông Nhạc kết duyên với bà Trần Thị Huệ nên để tránh trùng tên với chị dâu, gia đ́nh mới gọi ông Huệ là B́nh. Do đó người địa phương mới gọi thân mật là chú Ba B́nh. Tên B́nh là tên gọi ông Huệ lúc c̣n nhỏ. C̣n tên Thơm là do nhân hoa huệ có hương thơm nên gọi thay cho tên kiêng cữ.
Nhà ông Nhạc từ khi dời xuống Kiên Mỹ, khách khứa mỗi ngày mỗi đông. Chẳng những khách người Việt mà cả khách người Hoa.
Có một người Hoa tới ở nhà ông Nhạc hàng tháng và ngày ngày cứ đi thơ thẩn nơi các vùng núi đồi Tây Sơn Hạ. Thường được người Hoa đó lui tới nhất là ḥn núi Thơm ở Kiên Thạnh và dăy núi Ngang ở Trinh Tường. Ông Nhạc đoán biết là thầy địa đi t́m huyệt mả, mới cho người tâm phúc theo ŕnh. Một hôm thầy địa đến núi Ngang, lấy hai cây trúc để nguyên cành lá đem cắm nơi triền phía đông, một cây bên nam một cây bên bắc cách nhau chừng vài chục thước, rồi bỏ đi thẳng. Ông Nhạc ngày ngày đến xem chừng. Mấy hôm sau, cây trúc phía bắc rụng hết lá và khô dần. C̣n cây phía Nam, đến ba tháng rồi mà vẫn tươi xanh như lúc mới trồng. Biết đó là ứng chứng cho biết rằng long mạch nằm nơi cây trúc phía nam, ông Nhạc mừng lắm, bèn nhổ cây sống trồng vào ngay chỗ cây chết, và cây chết trồng vào chỗ cây sống. Sau ba tháng mười ngày kể từ ngày trồng hai cây trúc, thầy địa Tàu trở lại. Thấy hai cây trúc đều khô héo hết, thầy địa cho là giả cuộc, bỏ đi không thèm trở lại nữa. Ông Nhạc bèn bốc mộ ông thân đem táng nơi chân trúc phía nam.
Lại có thuyết: Đi lang thang trên vùng núi đồi Tây Sơn hạ ít lâu, thầy địa Tàu bỏ đi mất. Một năm sau mới trở lại. Lần này thầy mang một chiếc địa bàn và một chiếc tráp nhỏ. Ông Nhạc đoán biết rằng thầy Tàu đă t́m được huyệt mả đại phát ở vùng Tây Sơn, và chiếc tráp kia đựng hài cốt tiền nhân của thầy địa, bèn t́m cách đánh đổi. Ông đóng một chiếc tráp in hệt chiếc tráp của thầy địa và hốt cốt ông thân sinh đựng vào, rồi đợi... Coi được ngày lành, thầy địa mang địa bàn và tráp đi đến nơi huyệt mả ở núi ngang. Thầy vừa đến chân núi th́ một con cọp to lớn ở trong bụi gầm một tiếng, nhảy ra vồ. Thầy địa hết hồn, quăng tráp và địa bàn mà chạy. Hồi lâu thấy cọp không đuổi theo liền quay lại chỗ cũ. Thấy chiếc tráp và địa bàn c̣n nằm lăn lóc đó, thầy mừng như chết đi sống lại, vội đi thẳng đến nơi long huyệt mà chỉ một ḿnh thầy biết. Chôn cất xong, thầy hớn hở quay về Trung Hoa, tuyệt nhiên không ngờ rằng chiếc tráp thầy chôn đựng di cốt ông Nguyễn Phi Phúc chớ không phải di cốt của tổ tiên thầy và con cọp kia là con cọp giả do ông Nhạc đẻ ra.
Từ ngày ông Nhạc được huyệt mả, th́ gia đ́nh thường gặp nhiều việc may.
Một hôm ông Nhạc mua được một thanh cổ kiếm dài và rất bén. Nhớ ơn thầy cũ, bèn xuống An Thái dâng cho Trương công.
Trông thấy Nhạc, Trương công giật ḿnh. V́ trước kia, phong cách và tài năng của Nhạc đă làm cho Công thầm khen là người có thể làm được việc lớn. Lúc này thần thái lại tươi sáng hơn xưa thập phần. Nâng niu xem xét thanh kiếm, Công nói:
- Đây là một thanh bảo kiếm, có đại phước mới vào tay. Tôi giữ hộ cho anh, ngày sau sẽ giao lại. Đoạn bảo Nhạc:
- Lúc này là lúc kẻ anh hùng có thể dựng nên nghiệp cả. Anh không nên để lỡ thời cơ. Ư quật cường vốn đă nhen nhúm trong người, nhưng Nhạc từ tốn thưa:
- Con tự xét không đủ tài sức.
Công ôn tồn nói:
- Hán Cao Tổ, Lê Thái Tổ đâu có phải từ trên trời sa xuống. Người có chí hễ nắm được thiên thời, địa lợi, nhân ḥa th́ đại sự thành công không mấy khó khăn. Hiện giờ Trương Phúc Loan chuyên quyền làm những việc gian ác, triều đ́nh đảo điên, nhân tâm ly tán. Nếu có người phất cờ khởi nghĩa th́ bốn phương thiên hạ đều hưởng ứng ngay. Đất Tây Sơn núi non hiểm trở có cái thế bách nhịMusic tới lui không sức ngoài nào có thể ngăn cản. Anh chỉ có phải lo việc tài chánh và quân sự nữa là có thể hưng binh.
Rồi gọi ông Huệ ra, bảo:
- Con nay đă lớn khôn, tài nghệ cũng đă vững. Con hăy về nhà giúp anh.
- Công lại tặng cho hai anh em hai bộ binh pháp, một của Tôn Ngô, một của Trần Hưng Đạo.
Hai anh em bái biệt sư phụ về lo việc xây dựng sự nghiệp anh hùng.
Ông Huệ về nhà kết duyên cùng bà Phạm Thị Liên người thôn Phú Phong huyện Tuy Viễn.
Ông Nhạc giao việc buôn trầu cho vợ. Bà Nhạc họ Trần quê ở thôn Trường Định cách Kiên Mỹ hai thôn là Thuận Nghĩa và Dơng Ḥa, về phía đông. Bà là người hiền đức, làm việc siêng năng, ăn tiêu kiệm ước, nhưng đối đăi với làng xóm, khách khứa và bạn hàng lại rất rộng răi dịu dàng. V́ vậy từ khi quyền điều khiển trường buôn trầu vào tay bà, th́ lợi hàng ngày có tăng chớ không có giảm. Ông Nhạc được rảnh tay để lo việc nước việc dân [9].
Cho rằng mối lợi về việc buôn trầu không thấm vào đâu đối với đại sự, một mặt ông lo tổ chức việc đánh bạc, mặt khác tổ chức việc khẩn hoang. Và nghĩ rằng một cây làm chẳng nên non, ông bèn sai ông Huệ đi liên lạc cùng những người có tiếng về văn về vơ ở khắp ba huyện Tuy Viễn, Phù Ly, Bồng Sơn.
Hợp tác cùng anh em ông Nhạc sớm nhất là:
- Nguyễn Thung một phú nông ở Thuận Nghĩa là một thôn trù phú ở sát Kiên Mỹ về phía đông.
- Vơ Văn Dũng, Vơ Đ́nh Tú ở thôn Phú Phong, ở phía nam ngạn sông Côn, nằm song song với Kiên Mỹ.
- Bùi Thị Xuân, người thôn Xuân Ḥa ở dưới Phú Phong, và chồng là Trần Quang Diệu, người Ân tín huyện Hoài Ân.
Đó là những tay vơ giỏi. C̣n bên văn th́ có:
- Vơ Xuân Hoài, ở Phú Phong, đồng tông nhưng khác chi với ông Dũng, ông Tú.
- Trương Mỹ Ngọc ở An Nhơn.
Mọi người đều được phân công rành mạch. Người th́ lo việc kinh tế tài chánh, người th́ lo việc nhân sự, người th́ lo việc quân sự.
Ṣng bạc mỗi ngày mỗi mở rộng. Trong số con bạc có nhiều tay dũng sĩ có đại chí. Ṣng bạc trở thành nơi vừa làm lợi vừa chọn nhân tài.
Ông Nhạc cho khẩn hoang nhiều diện tích rộng lớn tại An Khê, tại Thượng Giang (Tây Sơn Trung), Đồng Hưu, Đồng Vụ (Phú Phong, Trinh Tường), Đồng Quang (Thuận Ninh) vân vân...Những đồng bào mộ đi khai khẩn, phần đông trở thành nghĩa quân.
Nguyễn Nhạc t́m cách đánh lạc hướng để bọn quan lại của chúa Nguyễn không ḍ được chí hướng của ḿnh.
Nguyên để thu thuế vùng Tây Sơn, viên tuần phủ Quy Nhơn cho lập một đồn chính ở Trinh Tường và một đồn phó ở Hữu Giang, do một biện lại và một phó biện lại chỉ huy. Từ ngày Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi chúa (1765), Trương Phúc Loan lộng hành, trong nước giặc cướp nổi dậy khắp nơi, người ấp Tây Sơn không chịu nạp thuế. Biện lại, phó biện lại luôn luôn bị cách chức v́ bất lực. Không c̣n ai dám nhận chức biện lại. Ông Nhạc t́nh nguyện đảm đương. Đồng bào trong vùng đă sẵn ḷng mến mộ ông Nhạc, nên chỉ những người nghèo khổ không đủ khả năng mới trốn thuế. Những phần thuế bị thiếu, ông Nhạc xuất tiền nhà bù vào. Quan trên thấy ông Nhạc đắc lực bèn đem ḷng tín nhiệm. Nhân dân thấy ông Nhạc biết thương kẻ nghèo, đă phục càng thêm phục. Trên được quan tin dưới được dân mến ông Nhạc được ung dung lo việc của ḿnh, không c̣n sợ ai ḍm ngó.
Tài chánh mỗi ngày mỗi thêm dồi dào, những tay văn hay, vơ giỏi mỗi ngày tụ hội mỗi thêm đông, những tráng niên, thanh niên có gan có sức, đến với các tráng sĩ để học vơ và khai khẩn đất hoang, mỗi ngày mỗi thêm tấp nập. Nguyễn Nhạc bèn xuống An Thái tŕnh bày mọi việc cho thầy rơ. Trương công rất mừng, lấy thanh kiếm cổ đem giao lại cho ông Nhạc:
- Đă đến lúc dùng đến rồi. Cần phải lo củng cố nhân tâm và biểu dương thanh thế.
Nguyễn Nhạc lĩnh ư ra về.
Một hôm, người thôn Phú Lạc nghe trên ḥn Trưng Sơn có tiếng chiêng trống và thấp thoáng có ánh lửa lập ḷe. Ai nấy đều thất kinh! Ḥn Trưng Sơn tuy ở gần thôn xóm, nhưng không mấy ai dám vào, v́ trên ḥn có mả mẹ chàng Lía rất linh thiêng và có nhiều cọp. Nghe tiếng chiêng tiếng trống và thấy ánh lửa, người th́ bảo rằng hồn chàng Lía về thăm mẹ, người th́ cho là quỷ thần mở hội vui. Kẻ bàn người tán, không mấy chốc đồn vang khắp vùng, khắp huyện, rồi khắp cả hai huyện ngoài. Một đồn mười, mười đồn trăm. Các thầy tướng số bảo rằng đó là tú khí của non sông xuất hiện, là điềm cho biết trước rằng trong vùng sẽ có chân chúa ra cứu đời.
Tin đồn khắp nơi. Nhân dân chịu đă không nổi ách chuyên chế của Vua chúa nhà Nguyễn, ai nấy đều hy vọng sớm có cuộc đổi thay và mọi người đều hướng tâm về nẻo Trưng Sơn.
Cách đó không lâu nhà Nguyễn Nhạc có kỵ. Khách khứa đông đúc. Cỗ bàn ăn xong th́ trời đă khuya. Người ở gần th́ lục tục ra về, khách ở xa đều phải nghỉ lại. Bỗng cảnh tượng hôm trước tái hiện nơi Trưng Sơn. Lần này tiếng chiêng tiếng trống lại rền trời, và ánh lửa lại sáng ngời cả núi. Tuy đă trông thấy cảnh tượng đó lần thứ hai, người trong vùng vẫn kinh sợ, và các tay vơ sĩ tuy xem thường gươm giáo, nhưng lắm người cảm thấy ớn lạnh châu thân.
Nguyễn Nhạc rủ mọi người lên xem quỷ thần làm tṛ ǵ. Phần đông đều e ngại. Chỉ có chừng mười người xin theo.
Nai nịt gọn gàng, chân vũ hài, tay trường kiếm, trường côn, đoàn người mạnh dạn lên núi. Tiếng trống chiêng dứt, ánh lửa tắt dần. Khi lên gần tới đỉnh, th́ trong ánh sáng chập chờn, thấy hiện ra một lăo trượng mặc triều phục, râu tóc bạc phơ. Lăo trượng phất tay áo, ra dấu bảo đoàn người dừng lại. Ai nấy đều ớn lạnh, đứng lại như cái máy. Lăo trượng cất tiếng lanh lảnh hỏi:
- Trong anh em có ai là Nguyễn Nhạc chăng. Nếu có th́ hăy đến gần đây nghe lệnh. C̣n các người khác th́ đứng yên.
Nguyễn Nhạc run sợ bước đến quỳ trước mặt lăo trượng. Lăo trượng lấy trong tay áo rộng một tờ chiếu rồi đọc lớn:
- Ngọc Hoàng sắc mạng Nguyễn Nhạc vi Quốc Vương .
Đoạn trao tờ chiếu cho Nguyễn Nhạc rồi quay bước vào trong bóng tối.
Từ ấy muôn người như một, trừ cụ giáo Hiến và những người tâm huyết trong tổ chức, ai cũng tin rằng trời đă cho Nguyễn Nhạc làm vua. Ḷng mê tín không cho phép được nghi ngờ.
Đă có chiếu Trời rồi, c̣n phải có ấn kiếm nữa mới lên ngôi được.
Một hôm Nguyễn Nhạc cùng bộ hạ ở An Khê về, đến Hoành Sơn th́ ngựa Nguyễn Nhạc lồng lên, rồi thẳng cổ chạy nước đại. Nhưng không chạy tẽ ra hướng bắc để về Kiên Mỹ, lại chạy về hướng đông nam. Đến chân núi phía trong G̣ Sặt, cương ngựa bị đứt. Nguyễn Nhạc té nhào xuống ngựa, trặc chân không đứng dậy được. Đám tùy tùng chạy đến xoa bóp hồi lâu mới bớt. Khi đứng dậy để ngựa trở về th́ Nguyễn Nhạc chợt thấy chuôi kiếm ló ra nơi vách đá trên sườn núi. Sai người lên xem th́ là một thanh kiếm xưa lưỡi sáng như nước. Ai nấy đều mừng là của Trời ban[10].
Về nhà Nguyễn Nhạc nói cùng hai em và các đồng chí:
- Ngọc Hoàng đă sắc phong ta làm Quốc Vương, lẽ tất nhiên là phải ban ấn kiếm. Nay kiếm đă có rồi, ta phải đi t́m ấn.
Đoạn tổ chức lễ cầu đảo tại chân núi Hoành Sơn.
Cầu đảo ba ngày đêm. Đêm làm lễ, ngày cho người đi t́m khắp vùng trên núi và dưới núi. Đă hai ngày đêm rồi mà không thấy chi cả. Đêm thứ ba, lúc nửa đêm, chiêng trống hành lễ vừa dứt, th́ một ṿi lửa như một làn pháo thăng thiên, bay từ ḥn Một xẹt đến ḥn Giải th́ rơi xuống. Tiếp đó một tiếng nổ nhỏ như tiếng pháo tre, rồi một tiếng nổ lớn có phần dữ dội như tiếng sét làm chấn động cả vùng. Ai nấy đều thất kinh. Sáng hôm sau, Nguyễn Nhạc dẫn người đến ḥn Giải xem, th́ thấy sườn núi phía nam có một vùng lở và nám đen như bị sét đánh. Trèo lên xem th́ thấy một quả ấn vàng nằm trong kẻ đá nơi bị lở. Quả ấn vuông vức, mỗi cạnh dài độ ba lóng tay, nơi mặt khắc bốn chữ triện Sơn hà Xă tắc[11].
Ai nấy tin rằng Nguyễn Nhạc quả có chơn mạng.
Nguyễn Nhạc được các người cùng hợp tác và các nhân sĩ đồng bào địa phương tôn làm Tây Sơn Vương.
Đó là vào năm Tân Măo, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 32, Định Vương Nguyễn Phúc Thuần thứ 6, tức năm 1771.
Nguyễn Nhạc tổ chức lại cơ sở:
- Quân sự giao cho Nguyễn Huệ, Trần Quang Diệu, Vơ Văn Dũng, Vơ Đ́nh Tú.
- Kinh tế tài chánh giao cho Nguyễn Thung, Bùi Thị Xuân và Nguyễn Lữ.
- Dân sự (hành chánh, ngoại giao, tuyên truyền...) giao cho Vơ Xuân Hoài và Trương Mỹ Ngọc.
Đất Tây Sơn trở thành một nước nhỏ.
Mọi tổ chức được thực hiện trong im lặng.
Ḷng dân địa phương lại hướng hoàn toàn về Nguyễn Nhạc. Viên tri huyện Tuy Viễn không hay biết chi cả. Nhưng v́ biện lại đồn Tây Sơn (có tên là Vân Đồn) không chịu nạp thuế trong hai năm liền, viên tri huyện sai Đốc Trung Đằng đem quân lên vấn tội. Quân của Đằng bị quân Tây Sơn đánh bại [12].
Nhưng Nguyễn Nhạc và bộ tham mưu nhận thấy địa thế Tây Sơn Hạ không được an toàn, bèn dời tổng hành dinh và các cơ quan trọng yếu lên Tây Sơn Trung. Lấy dăy núi ở dưới đèo An Khê làm mật khu. Nguyễn Nhạc cùng bộ tham mưu đóng ở ḥn núi cao nhất nằm phía nam chân đèo, Nguyễn Huệ cùng Trần Quang Diệu, Vơ Văn Dũng đóng tại ḥn núi phía bắc. Do đó mà hai ngọn núi này mang tên là núi Ông B́nh và núi Ông Nhạc.
Khu kinh tế tài chính vẫn đóng ở Tây Sơn Hạ. Và những nơi đă được khai khẩn tiếp tục tăng gia sản xuất. Trường trầu vẫn phát triển đều đặn. Các phú gia ở khắp Tuy Viễn nhiệt liệt ủng hộ. Kho lẫm được canh coi chu đáo. Tiền, lúa nhiều nhưng không hề bị thâm lạm.
Thanh thế của Tây Sơn Vương mỗi ngày mỗi thêm vững vàng vang dội. Kẻ sĩ gần xa được mời tham gia liền hưởng ứng. Bên văn có Triệu Đ́nh Tiệp người An Nhơn. Cao Tắc Tựu người Phù Mỹ, La Xuân Kiều người Phù Cát... bên vơ th́ có Nguyễn Văn Tuyết, người An Nhơn, Nguyễn Văn Lộc người làng Kỳ Sơn (Tuy Phước), Lư Văn Bưu người Phù Cát, Lê Văn Hưng người Tuy Viễn... đều là những người có tài có chí.
Quân lính mộ thêm nhiều. Những người trước kia lo việc sản xuất, nếu t́nh nguyện, đều được đưa sang làm lính. Và tất cả quân sĩ, cứ sáu tháng ở trong quân đội, sáu tháng về các nông trại để vừa nghỉ ngơi vừa cày cuốc. Trong đám quân sĩ có một người, khi tập đă làm cho cấp chỉ huy thán phục là Lê Văn Hưng ở Kiên Dơng (B́nh Khê). Ông này côn quyền đă tinh luyện, sức mạnh có thể nâng đá nhẹ nhàng như xách gàu nước, bưng nồi cơm. Nhập ngũ không bao lâu được làm đội trưởng.
Nghe tin Nguyễn Nhạc bị truy nă gắt gao v́ thâm lạm công quỹ, chạy vào núi chiêu tập bọn vong mạng định làm giặc, viên tuần phủ Quy Nhơn là Nguyễn Khắc Tuyên cho quân lính đi lùng bắt. Nhưng nhiều lần quan quân đến Tây Sơn Hạ thấy nhân dân làm ăn yên ổn, không thấy dấu vết của giặc đâu cả, Tuyên cho là tin đồn nhảm, nên thôi đem quân càn quét vùng Tây Sơn.
Đỡ tốn công đối phó với kẻ thù, Tây Sơn Vương lo phát triển lực lượng.
Nhận thấy người Thượng bắn ná giỏi, lại có sức mạnh và có đức tính chịu đựng bền bỉ, Nguyễn Nhạc quyết định dùng chính sách Thượng vận để lôi kéo các sắc tộc Xà Đàng (Sédang), Rađê (Rhade), Giarai (Djarais) về với ḿnh.
Vương đă được người miền núi biết đến qua chuyện được kiếm thần.
Trong dân gian Thượng cũng có chuyện được gươm thần như sau:
Truyền rằng xưa kia Vua Chiêm bắt được một thanh gươm thần. Vua Chân Lạp bắt được vỏ gươm. Vua Chiêm xây một tháp cao để tàng trữ gươm thần. Đêm đêm gươm tỏa sáng xa hàng vạn trượng. Vua Chân Lạp phải đem vỏ gươm đến dâng và hàng năm triều cống. Ánh hào quang của gươm tượng trưng cho thần lửa.
Thần lửa là vị thần mà người Thượng miền núi từ Quảng Nghĩa vào Phú Yên tôn thờ do ảnh hưởng văn hóa Chiêm Thành. Đạo Minh Giáo (đạo Ma Ní) mà ông Lữ theo cũng thờ thần lửa. Do đó, ông Lữ có khả năng thuyết phục người Thượng dễ dàng.
Chính v́ nắm được những lợi thế đó mà Nguyễn Nhạc giao quyền điều khiển cho ông Huệ và ông Diệu, rút ông Lữ về và thân hành cùng ông Lữ lên An Khê để vận động người Thượng.
Đă được kính mộ từ trước, lại thêm có thầy hỏa giáo đi theo. Tây Sơn Vương đến đâu được người Thượng hoan nghênh đến đó. Người Giarai (Djarais) coi Vương như thần và gọi là Vua Trời[13]. Chỉ có người Xà Đàng (Sédang) mà chúa đoàn là Bok Kiơm không phục. Bok Kiơm nói:
- Ông Nhạc không phải người trời v́ không có ǵ khác thường.
Để tỏ ra ḿnh khác thường, Nguyễn Nhạc dùng giỏ bội gánh nước đi ngang qua buôn Xà Đàng mỗi buổi sáng sớm[14].
Bok Kiơm cho rằng có phù phép, chớ không phải có tài trời sanh, bảo:
- Nếu ông bắt được con ngựa thần th́ tôi mới phục.
Nguyên trên núi Hiển Hách, tục gọi là Hánh Hót ở vùng An Khê có một bầy ngựa rừng hễ thấy bóng người là chạy tránh. Con ngựa cầm đầu sắc trắng tinh, lông gáy và lông đuôi dài và óng như tơ, tiếng hí vang cả rừng và nghe xa hàng chín mười dặm thẳng. Người Thượng gọi là Ngựa Thần.
Phải bắt cho được con ngựa thần ấy mới thu phục được người Xà Đàng, mà có thu phục được người Xà Đàng th́ vùng Tây Nguyên mới thật là đất Tây Sơn, v́ An Khê người Xà Đàng ở đông đảo nhất. Nguyễn Nhạc để Nguyễn Lữ ở lại tuyên truyền, một ḿnh về Kiên Mỹ cho người đi mua một số ngựa cái lớn tốt, đem về dạy cho khôn, hễ nghe tiếng hú là chạy đến. Bầy ngựa đă thành thục, Nguyễn Nhạc đem lên thả trên núi Hiển Hách cho theo bầy ngựa rừng. Ít hôm ngựa rừng và ngựa đồng quen nhau. Hễ nghe tiếng hú th́ ngựa đồng chạy về, ngựa rừng cũng chạy theo, nhưng vừa thấy bóng người th́ quay đầu trở lại, nhưng chạy một đỗi xa xa th́ quay đầu ngó lui. Nguyễn Nhạc lấy cỏ bỏ cho ngựa ăn, rồi trở về. Ngựa rừng liền quay trở lại ăn cỏ cùng ngựa đồng. Lần này ngựa rừng thấy bóng người không c̣n có vẻ hoảng sợ nữa, nhưng không dám lại gần. Nguyễn Nhạc không bỏ đi, đứng vuốt ve bầy ngựa, hết con này đến con khác. Mấy hôm sau bầy ngựa rừng nhận thấy người không có ư làm hại giống ṇi, bèn kéo đến ăn cỏ. Khi bầy ngựa rừng đă dạn, Nguyễn Nhạc đem cỏ bỏ gần cho ăn, rồi từ từ tiến đến vuốt mơm vuốt lưng hết con này đến con khác. Con ngựa bạch cầm đầu, ban sơ c̣n tỏ ư không thuận, nhưng dần dần, đứng yên cho người vuốt ve.
Chinh phục được bầy ngựa rừng rồi, Nguyễn Nhạc hẹn cùng Bok Kiơm nơi chốn và ngày giờ đến chứng kiến. Để cho bầy ngựa khỏi sợ v́ đông người. Nguyễn Nhạc bảo Bok Kiơm cùng đám tùy tùng núp sau đá rồi cất tiếng hú. Bầy ngựa rừng theo bầy ngựa đồng chạy đến. Nguyễn Nhạc lấy cỏ cho ăn và vuốt ve như thường lệ[15].
Người Xà Đàng tin Nguyễn Nhạc là người Trời thật, hết ḷng thần phục và bắt chước người Gia Rai gọi là Vua Trời.
Tiếng Vua Trời trở thành tiếng chung của người Thượng từ An Khê trở vô Phú Yên và trở ra Quảng Nghĩa, dùng gọi Nguyễn Nhạc.
Ở trong vùng An Khê lại có một sắc tộc thiểu số ở trong rừng sâu, ít giao thiệp với người ngoài. Đó là người Ba Na (Banard) ở trong rừng Mộ Điểu.
Rừng Mộ Điểu ở tại làng Cổ Yêm cách Tú Thủy chừng mười, mười hai cây số.
Rừng rộng mênh mông. Giữa rừng nổi lên một ngọn đồi trông giống một ḥn cù lao ở giữa biển cả. Mỗi buổi chiều, chim về nghỉ từng bầy, từng đám, tiếng kêu vang dậy cả rừng xanh. Do đó rừng mang tên là Mộ Điểu.
Tuy ít giao thiệp với bên ngoài, vị đầu mục Ba Na cũng đă có nghe tiếng Vua Trời. V́ vậy không mấy chốc hai bên đă trở nên thân thiện. Để mối t́nh Kinh Thượng thêm nồng nàn khăng khít, viên đầu mục gả con gái cho Vua Trời, bà vợ Thượng của Vương, tục gọi là Cô Hầu.
Nhận thấy đất đai trong rừng rất màu mỡ, Nguyễn Nhạc liền nghỉ đến việc khai khẩn. Vương mộ người Thượng làm nhân công và rút một số người chỉ huy kinh tế ở Tây Sơn Hạ lên điều khiển. Rừng Mộ Điểu nhờ sức lao động của người Thượng - nhờ tài hướng dẫn của người Kinh, trở thành một cánh đồng ph́ nhiêu rộng hàng ngh́n mẫu. Việc khai khẩn, việc canh tác, việc thu hoạch do Cô Hầu đảm đương với một số người Kinh, người Thượng tâm phúc trợ lực[16].
Nguyễn Nhạc dùng phần lớn th́ giờ để cùng Nguyễn Lữ đi chiêu dụ các sắc dân miền Kon Tum, Pleiku. Hai anh em đi đến đâu th́ người Thượng hoan nghênh đến đó. Cho nên tất cả người Thượng vùng cao nguyên đều quy thuận Tây Sơn Vương.
Vương chọn trong những người khẩn hoang một số tráng niên có sức, có gan và mộ thêm người trong các vùng lân cận, tổ chức thành một đạo quân Thượng. Vơ Đ́nh Tú, Nguyễn Văn Tuyết và Lê Văn Hưng được đưa lên phụ trách việc huấn luyện và việc tổ chức. Dinh trại đóng trên ngọn đồi. Những binh sĩ người Thượng đă được huấn luyện thuần phục đều đưa xuống giao cho Nguyễn Huệ và Trần Quang Diệu rèn luyện thêm và khép vào đội ngũ. Nguyễn Nhạc khi ở Mộ Điểu khi về trung nguyên, thái độ nghiêm nhưng ḥa, xử sự có t́nh nhưng không bỏ lư. Cho nên mọi người vừa kính sợ vừa yêu mến. Các anh hùng chí sĩ đến cùng Nguyễn Nhạc đều coi nhau như tay chân và hết ḷng giúp Tây Sơn Vương dựng nghiệp cả.
Nhờ vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn, từ ngày rời chiến khu lên Tây Sơn Thượng (1771), nhà Tây Sơn đă có cơ sở vững chắc.
Lúc bấy giờ vùng Tây Sơn c̣n thuộc về khu vực hẻo lánh, nhân dân trong vùng lại một dạ trung thành với nhà Tây Sơn, nên quan quân của chúa Nguyễn không hề hay biết. Tên biện lại thâm lạm tiền công quỹ cũng không c̣n ai nhắc nhở đến. Tri huyện, tuần phủ chỉ lo vơ vét cho đầy túi, không lo ǵ đến biến chuyển của thế cuộc.
----------------------- [5] Quy Nhơn là tên phủ thuộc dinh Quảng Nam, phủ Quy Nhơn chia làm ba huyện: Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn. Sau này Quy Nhơn đổi ra B́nh Định và các huyện. Tuy Viễn, Phù Ly, Bồng Sơn bị cắt chia làm bảy huyện:
- Tuy Viễn chia ba: B́nh Khê, An Nhơn, Tuy Phước.
- Phù Ly chia hai: Phù Cát và Phù Mỹ.
- Bồng Sơn chia hai: Hoài Nhơn, Hoài Ân.
Devil Kiên Mỹ ở dưới Phú Lạc, Phú Lạc không có chợ. Bến sông đ̣ đậu để buôn trầu gọi là bến Trường Trầu, gọi tắt là bến Trầu, hiện vẫn c̣n.
[7] Theo Tây Sơn nhân vật chí của Đinh Sĩ An, thời Cảnh Thịnh.
Music Bách nhị: lấy từ chữ bách nhị sơn hà chuyện hai người dựa vào thế núi hiểm trở chống lại một trăm người mà không bị đánh bại.
[9] Xem tiểu sử bà Nhạc ở đoạn sau (đoạn nói về ông Nguyễn Văn Tuyết).
[10] Núi này mang tên Kiếm Sơn là do tích được kiếm của Nguyễn Nhạc. Sử sách chép rằng ông Nhạc lượm được gươm tại núi An Dương. Sự thật đó là thanh cổ kiếm cụ giáo Hiến giữ giùm cho ông Nhạc.
[11] Ḥn Giải có tên là ḥn Trống (cổ sơn) lại thêm tên ḥn Ấn, (Ấn Sơn).
[12] Sử nhà Nguyễn chép rằng Nguyễn Nhạc thua bạc hết tiền thuế, bị truy nă, do đó chạy vào rừng làm giặc.
[13] Người Gia Rai coi bộ lạc ḿnh là con cháu chính thống của thần Lửa cho nên đă mang tên của thần Lửa là Giarai (Djarais).
[14] Không có ǵ lạ: Lấy giấy trắng tốt nhúng dầu trong phơi khô rồi phất trong ḷng giỏ bội. (Giấy nhúng dầu xong để khô trông giống tờ ny-lông). Đổ nước vào giỏ, nước không chảy, giấy không bị ướt.
[15] Con bạch mă sau này trở thành một chiến mă. Khi ông Nhạc qua đời, ngựa trở về núi.
[16] Rừng Mộ Điểu sau trở thành cánh đồng gọi là cánh đồng Cô Hầu và ngọn núi ở giữa đồng bào đặt tên là núi Hoàng Đế.

 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 02/19/15