Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 

 

 

 

Chùa Bà Già của làng Phú Gia (Hà Nội)

[22.03.2009 17:43]
http://a8.vietbao.vn/images/vn888/Tra/thang12/chuabagia.jpg
 

Chùa Bà Già là một công tŕnh kiến trúc Phật giáo, có niên đại hơn 1.000 năm. Được nhiều thế hệ người dân làng Phú Gia xây dựng, giữ ǵn và bồi đắp, ngôi chùa đă trở thành một địa chỉ văn hóa – du lịch của Hà Nội ngày nay.

Làng Phú Gia (phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội) c̣n lưu giữ tại đ́nh làng pho sách cổ Bản xă thần kư (ghi lại thần tích của xă, cũng là của làng). Từ những năm 1980, một cố lăo làng Phú Gia là Công Nghĩa Lẫm đă dịch cuốn sách này. Theo nội dung thần tích, thuở xưa xa, làng quê này có tên là Bà Già Hương (hương Bà Già).

Đến thời kỳ nước ta bị nhà Đường đô hộ (thế kỷ VIII), hương Bà Già được đổi gọi là An Dưỡng Phường. Thế kỷ XIII, vua Trần huy động dân phường An Dưỡng đến sửa chữa bến Đông Bộ Đầu và đắp thành Đại La để chống quân Nguyên xâm lược, vua đă cho đổi gọi là An Dưỡng thành Phú Gia.

Ở Phú Gia, từ thời Bắc thuộc đă có nhiều miếu thờ thổ thần và đền thờ. Có một đền thờ thổ thần từ lâu đời, đến năm Thiệu Long đời Trần Thánh Tông (1258-1272), thiền sư Văn Thao đă sửa lại đền, đổi thành chùa An Dưỡng. Sau, chùa bị hư hoại nhiều, đă dời về g̣ Con Quy.

Vẫn theo thần tích xă Phú Gia, vào thời Hồng Đức (1470-1497), nhà Lê, người Phú Gia có ông Nghĩa Đạt đă đỗ Nhất giáp Tiến sỹ, làm quan Phó đô ngự sử, đă hưng công cho chuyển ngôi đ́nh làng từ chỗ giáp làng Quán La về thân đất, ông gọi là h́nh nhân bái tướng. C̣n chùa An Dưỡng (chùa Bà Già) tọa lạc cạnh đ́nh, trên g̣ Con Quy.

Về tên làng Phú Gia thời xưa xa, có một dấu vết để lại trong sách Đại Việt sử kư toàn thư, đoạn ghi lại việc năm 1330, về Chiêu Minh Đại vương Trần Nhật Duật: “Duật thích chơi với người nước ngoài, thường cưỡi voi đến chơi thôn Bà Già (thôn này hồi Lư Thánh Tông đánh Chiêm Thành, bắt được người Chiêm cho ở đấy, lấy tiếng Chiêm đặt tên cho là Đa Gia Ly, sau gọi chệch đi thành Bà Già)…”

Do chi tiết này, có nhà nghiên cứu đă coi chùa Bà Già là một hồi ức Chăm. Nhưng không hẳn như vậy, các thư tịch cổ có ghi chép, từ thời Lư, vua ta đi b́nh Chiêm vẫn thường mang tù binh và cả những người Chiêm xin theo, về cho ở mạn Tây bắc kinh thành Thăng Long.

Sách Đại Việt sử kư toàn thư ghi: “Vua Lư Thái Tông (1028-1054) từ Chiêm Thành về… xuống chiếu cho các chiến tù đều ghép theo bộ thuộc cho ở từ trấn Vĩnh Khang thẳng đến châu Đăng, đặt hương ấp theo các danh cũ của Chiêm Thành”… Vĩnh Khang là miền Từ Liêm, Hoài Đức ngày nay; và “thẳng đến châu Đăng” là kéo thẳng lên vùng Quốc Oai, Quảng Oai, Tam Nông, Hưng Hóa ngày nay.

Tuy nhiên, cuốn Việt điện u linh của Lư Tế Xuyên, làm quan trong chiều Trần Hiến Tông (1329-1341) chuyên coi giữ việc tế lễ, tham gia việc quản lư bách thần, viết: “Thời Khai Nguyên (713-739), nhà Đường, Thứ sử Quảng Châu là Lư Ngư (thần tích bản xă ghi là Lư Anh) sang làm Đô hộ sứ bên ta, đóng phủ thự ở An Viễn (thần tích ghi là An Dưỡng) khoảng giữa hai huyện Long Đỗ và Từ Liêm. Thấy chỗ đất này bằng phẳng, rộng răi, cây cối tốt tươi, phía sau có sông Đà La (tên cổ của sông Thiên Phù), địa thế đẹp, Ngư sai lập dinh thự và dựng đền, giữa thờ thần vị Huyền Thiên Đế quân…, rồi lại dựng một đền thờ, đặt tượng thần thổ địa để nêu công đức. Đền ấy đặt tên là Đà La quán.

Đời Trần, năm Thiệu Long (1258), thiền sư Văn Thao sửa lại đền, đổi là chùa An Dưỡng…” Như vậy, Đà La quán (quán thờ của làng Đà La) đă có từ thế kỷ thứ VIII, và khi đó tên làng Đà La đă có rồi (cũng có thể sông Thiên Phù ở quăng này được gọi theo tên làng, là sông Đà La). Nếu biến âm trong từ Đà La thành Bà Già, th́ vẫn phải ghi nhận hương Bà Già đă có từ trước thời Lư nhiều thế kỷ.

Chính v́ gốc gác như vậy mà chùa An Dưỡng của làng Phú Gia c̣n có bức hoành phi cổ khắc ba chữ Bà Già tự, tấm bia Bà Già tự tân tạo khắc dựng năm Dương Ḥa thứ hai 1636, và quả chuông đồng đúc năm 1665.

Ở địa phương lưu truyền câu chuyện kể rằng, khi chùa An Dưỡng bị thời gian, mưa nắng hủy hoại, có 2 bà già đă phát tâm bồ đề bỏ tiền riêng ra tu tạo chùa, dựng thêm tượng Phật, đúc chuông đồng, dựng gác chuông. Quả chuông đúc năm 1665 đó hiện c̣n lưu giữ tại chùa, có khắc chữ “Trùng tạo trú hồng chung”. Để ghi nhớ công đức của hai bà, dân làng có đặt tượng thờ tại chùa, gọi là tượng hậu phật.

Ngoài bức hoành phi, quả chuông và tấm bia, ở chùa làng Phú Gia hiện c̣n lưu giữ 58 pho tượng tṛn, trong đó có 46 pho tượng Chư Phật, La Hán, Đế Thích và Phạm Thiên, được tạo tác công phu theo nghệ thuật Lê – Nguyễn, sơn thiếp lộng lẫy. Đó là những di vật lịch sử quư, giúp cho hậu thế hiểu được lịch sử sâu xa của một làng quê và vẻ đẹp thiền tịnh của chùa Bà Già.

Tân An

 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 01/28/16