Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 

 

 

 

 
Chùa Huế
Văn Học và Nghệ Thuật - Kiến Trúc Phật Giáo
Viết bởi Nguyễn Hữu Thái
Nguồn: daitangkinhvietnam.org/ 

...Chưa có một vùng đất nào trên đất nước ta lại có một mật độ Chùa chiền cao như Huế. Quanh Huế có trên một trăm ngôi Chùa lớn nhỏ, nhiều ngôi nguy nga có sự đóng góp công sức của triều đ́nh, tầng lớp quư tộc, nhưng cũng không ít ngôi Chùa mộc mạc gắn với làng quê của dân gian.

Theo sử sách th́ Chùa Huế xuất hiện từ thế kỷ XVI, nhưng phải từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa và các chúa Nguyễn tiếp theo muốn xây dựng một xứ Đàng Trong biệt lập với triều đ́nh vua Lê - chúa Trịnh ở phía Bắc, th́ các hoạt động văn hóa xă hội được thúc đẩy và Chùa được xây dựng nhiều để làm chỗ sinh hoạt tinh thần.

...Chùa chiền ở Huế, ngay cả những ngôi Chùa triều đ́nh góp công sức xây dựng cũng không bao giờ đồ sộ, xây cất tốn kém, sử dụng quá nhiều công của nhân dân như các ngôi Chùa lớn ở phía Bắc.


 

Cảnh Chùa Huế

Nguyễn Hữu Thái

Cố đô Huế trông giống như một khu vườn lớn, trong đó có những khoảng không gian uy nghi, quan cách, lộng lẫy của những cung điện, đền đài, có những khoảng êm đềm, ấm cúng, thân thiết của những nếp nhà vườn, ngôi đ́nh dân dă và cũng có cả những khoảng tĩnh tại, thanh thoát, lặng lẽ của những cảnh Chùa. Ngôi Chùa đó gắn liền vào tổng thể kiến trúc Huế, hài ḥa như chính đạo Phật đă ḥa tan vào ḷng đời, ḷng người xứ Huế. T́m hiểu về những ngôi Chùa Huế cũng chính là t́m về một phần quan trọng làm nên văn hóa xứ Huế.

* Nét Riêng Của Nếp Chùa Huế

Chưa có một vùng đất nào trên đất nước ta lại có một mật độ Chùa chiền cao như Huế. Quanh Huế có trên một trăm ngôi Chùa lớn nhỏ, nhiều ngôi nguy nga có sự đóng góp công sức của triều đ́nh, tầng lớp quư tộc, nhưng cũng không ít ngôi Chùa mộc mạc gắn với làng quê của dân gian.

Theo sử sách th́ Chùa Huế xuất hiện từ thế kỷ XVI, nhưng phải từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa và các chúa Nguyễn tiếp theo muốn xây dựng một xứ Đàng Trong biệt lập với triều đ́nh vua Lê - chúa Trịnh ở phía Bắc, th́ các hoạt động văn hóa xă hội được thúc đẩy và Chùa được xây dựng nhiều để làm chỗ sinh hoạt tinh thần.

Có thể kể ra đây một số ngôi Chùa tiêu biểu: Thiên Mụ (1601), Báo Quốc (1674), Từ Đàm (1683), Thuyền Tôn (1709), Từ Hiếu (1843), Diệu Đế (1844), Phước Thọ Am (1831), Trúc Lâm (1909)...

Chùa chiền ở Huế, ngay cả những ngôi Chùa triều đ́nh góp công sức xây dựng cũng không bao giờ đồ sộ, xây cất tốn kém, sử dụng quá nhiều công của nhân dân như các ngôi Chùa lớn ở phía Bắc: ví như Chùa Trăm Gian, Chùa Dâu, quy mô to lớn như Quỳnh Lâm (Đông Triều), Sài Nghiêm (Chí Linh), Hồ Thiên (Kinh Bắc)...

Nếp Chùa Huế về cơ bản vẫn tiếp nối truyền thống ngôi Chùa Việt, nhưng tinh tế, không đồ sộ, khoa trương, ít rườm rà, không nhiều gian. Ngôi Chùa là ngôi nhà rường b́nh dị, thân thiết, gần gũi dân gian.

Chánh điện thường chỉ khiêm tốn có 3 - 5 gian, 2 chái, cắt mái 2 tầng nên nhẹ nhàng, thanh thoát hơn mái Chùa nặng nề phía Bắc. Chái nhà hai bên dành cho Phương trượng, Trụ tŕ, Giám tự. Tiếp theo Chánh điện là chiếc sân trong bao quanh bởi Thiền đường, Tăng xá. Vườn Chùa trồng cây ăn trái, bố trí Tháp mộ các vị Tổ, Trụ tŕ, Tăng chúng. Sau vườn là khu canh tác, trồng hoa màu.

Nội thất Chùa b́nh dị, cân đối và không trang trí sặc sỡ. Ngoài bộ tượng Phật Tam Thế truyền thống, bên tả có Quan Công, bên hữu là Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Về sau, vào thời chấn hưng Phật giáo những năm 1950- 1963, có cải cách lại hệ thống thờ tự: trước Tam Thế đặt thêm tượng Phật Thích ca, gian tả có Bồ tát Địa Tạng, gian hũu có Bồ tát Quan Thế Âm, tả hữu th́ vẫn đặt Kim cang, Hộ pháp.

Từ Chùa Huế cũng phát xuất ra các món ăn chay Huế khá phong phú. Nghề đúc chuông ở đây cũng rất độc đáo, cung cấp cho cả các vùng phía Nam và các Chùa người ḿnh ở nước ngoài.

* Danh Lam Xứ Huế

Chùa Thiên Mụ

Tháp Phước Duyên vươn lên trên ḍng sông Hương từ lâu đă là biểu tượng xứ Huế. Thực ra Tháp chỉ là một phần của cả một tổng thể Chùa Tháp, tọa lạc trên một khu đồi lớn. Tháp này cao 21m, có 7 tầng, xây cất thời vua Thiệu Trị (1844). Chiếc chuông ở đây cũng rất lớn và cổ kính, đúc vào năm 1710, nặng 2.052kg và cao 2,35m. Chùa Thiên Mụ được sắp vào Chùa xây dựng sớm nhất ở Huế, vào năm 1601. Thời vua Gia Long sáng lập triều Nguyễn có vời Ḥa thượng Mật Hoằng (Chùa Đại Giác ở thành Gia Định) về làm Tăng cang tại Chùa Thiên Mụ. Ḥa thượng Đôn Hậu nổi tiếng cả nước thời chống Mỹ đă Trụ tŕ Chùa này từ năm 1945.

Chùa Báo Quốc

Khu Tổ đ́nh xây dựng từ năm 1674 với một cái am nhỏ, sau nhiều đợt trùng tu của các đời chúa và triều đ́nh Nguyễn đă trở thành một cảnh Chùa xây dựng theo h́nh chữ “khẩu” quy mô khang trang trên diện tích 2ha, nằm ngay sau ga Huế. Từ lâu nay ngôi Chùa vẫn được xem như là nơi phát xuất phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam từ những năm 30 của thế kỷ qua, do Ḥa thượng Trí Độ lănh đạo. Học đường Linh Quang chuyển về đây vào năm 1948 đă biến Chùa thành nơi un đúc Tăng tài cho cả nước. Từ năm 1957, Chùa được xây lại mới nhưng bố cục vẫn theo truyền thống. 

Chùa Từ Đàm

Ra đời từ năm 1683, gốc phái Thiền Lâm Tế. Chùa nay xây dựng lại hiện đại, cơ bản vẫn tôn trọng lối bố cục truyền thống nhưng các bộ phận sinh hoạt đă có đổi mới, logic hơn với đầy đủ sân lễ, giảng đường, nhà Tổ, nhà Tăng, nhà Khách. Từ lâu, nơi đây đă nổi tiếng với phong trào chấn hưng Phật giáo, từng làm nơi đặt trụ sở của Tổng hội Phật giáo Việt Nam, năm 1945 là trụ sở của Phật giáo Cứu quốc. Tổ chức Gia đ́nh Thanh niên Phật tử cũng ra đời tại đây. Từ năm 1963, Chùa Từ Đàm trở thành trung tâm đấu tranh của phong trào Phật giáo yêu nước suốt thời gian chống Mỹ ở phía Nam. Tên tuổi Ḥa thượng Thích Trí Quang gắn liền với ngôi Chùa này qua các mùa pháp nạn.

Chùa Từ Hiếu

Xây dựng từ năm 1843 ở phía Tây cố đô, vị trí gần các lăng tẩm triều Nguyễn, trên một khuôn viên rộng đến 4,5ha. Nguyên là am An Dương, vào năm 1848 các thái giám góp công tu tạo để kư thác tuổi già. Tổng thể Chùa khá hoàn chỉnh với nào hồ bán nguyệt, nhà bia, tiền đường, Chánh điện, nhà Tổ... Trước cổng Chùa có Tháp Bồ Đề dựng từ năm 1896 để chứa những kinh tượng hỏng cho tự hủy. Dăy nhà chư Tăng nghỉ ngơi, nghiên cứu kinh kệ gọi là “Tả Lạc Thiên” và nhà tiếp khách thập phương gọi là “Hữu Ái Nhật”. Nay Chùa c̣n xây mới thêm Thiền đường dành cho người ở xa đến có chỗ nghiên cứu, tu tập.

 

 

Chùa Huế Xưa và Nay

 
Văn Học và Nghệ Thuật - Kiến Trúc Phật Giáo
Viết bởi Hà Xuân Liêm   
 

Điểm đặc biệt là người dân từ miền Bắc vào Thuận Hóa làm ăn, nhưng ngược lại tất cả các ngài truyền bá Phật pháp, dựng thảo am và lập chùa chiền th́ đều Đàng Trong ra. Tất cả các ngài đến truyền bá Phật pháp đều dựng tháo am trong bóng cây rừng rậm rịt đầy cọp, beo, và rắn độc ấy cả. T́m cho ra được mối liên hệ giữa tinh thần, trí tuệ của các ngài sơ Tổ với môi trường thiên nhiên “đẹp man dại” đó, chúng tôi nghĩ là chúng ta đă t́m được sắc thái đặc trưng của chùa chiền và Phật giáo vùng Huế vậy.

Lại c̣n một yếu tố nữa mà chúng ta phải nghiên cứu lâu theo quan điểm khoa học địa môi trường (géo-environement) mới có thể giải đáp được, đó là tại sao tất cả các chùa chiền cơi Thuận Hóa đều ở về mạn nam sông Phú Xuân cho đến núi Quy Sơn ở chân đèo Ngăi Lănh (tức đèo Hải Vân hiện nay). Điều này tạo cho chùa Huế có sắc thái vô cùng đặc sắc, là hàng trăm ngôi chùa đều nằm trên các mơm đồi hoặc sườn đồi đầy cây cao bóng mát, cảnh trí thiên nhiên u nhàn tĩnh lặng, làm cho chùa Huế trở thành những nơi bảo vệ được môi trường thiên nhiên trong lành, mát mẻ; và đường đi lên các chùa trở thành những cảnh đẹp thiên nhiên tuyệt vời có sức thu hút người đăng lâm văn cảnh.

Chùa Huế Xưa và Nay

Hà Xuân Liêm

Nói đến chùa tháp Phật giáo Thuận Hóa, người ta không thể không trở lại thời hồng hoang của xứ này. Kể từ đời Đường Nghiêu đến đời Thành Chu, vùng này là đất Việt Thường Thị, đời Tần thuộc Tượng Quận, đời Hán thuộc quận Nhật Nam, đời Tấn là nước Lâm Ấp, đời Tống gọi là nước Chiêm Thành. Sách Đường thư, phần Địa lư chí chép: “Giáp châu Hoành Sơn quận, có năm huyện là đất Thuận Hóa bây giờ. Năm huyện thành ấy là Tây Quyển, Tỵ Ảnh, Chu Ngô, Lô Dung và Tượng Lâm”

Sách Đại Nam nhất thống chí, bản đời Tự Đức cho đất Tỵ Ảnh và Chu Ngô đời Hán là châu Ô và châu Rí của Chiêm Thành. Các sử quan triều Nguyễn lại tham khảo rất nhiều thuyết, đem từng địa điểm hiện nay để so sánh và cho rằng: “Tượng Lâm và Chiêm Thành, tên gọi trước sau tuy có khác, cùng là một nước, cùng là một số năm thành thuộc quận Nhật Nam...”.

Như thế, trước năm 1306 phần đất mang tên Ô, Rí vốn đă thuộc về của ta, nhưng sau mất về tay người Chàm, mà măi đến đời Trần Anh Tông (1293-1313) vua Chiêm là Chế Mân đă dâng đất ấy để làm lễ cưới công chúa Huyền Trân th́ hai châu Ô, châu Rí lại trở về với Đại Việt (1306), đến năm sau (1307) hai châu này được mang tên là Thuận châu (nửa nam tỉnh Quảng Trị hiện nay); và Hóa châu (toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế hiện nay). Từ đó, tuy đă qua nhiều biến thiên, Thuận Hóa trở thành nơi gặp gỡ và giao lưu hai nền văn hóa, tín ngưỡng rất khác nhau trên dăi đất này.

Dân Đại Việt chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và dân Chămpa chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ gián tiếp qua nước Phù Nam ở phần đất Nam bộ ngày nay, đă tạo thành một nền văn hóa hỗn hợp Việt – Chăm. Chămpa là một nước rất giàu, tín ngưỡng của họ là “đạo Kiền Nê, đúc người vàng, bạc to hàng mười ôm để thờ, nấu đem bán có thể hơn mười vạn cân vàng”. Như vậy, trước lúc Đại Việt tiếp nhận hai châu Ô, Rí th́ ở đây đă có đạo Phật chưa ? Theo Nam Hải kư quy truyện của ngài Nghĩa Tịnh th́ nước Lâm Ấp tức Chiêm Thành đă có Phật giáo, số đông theo Chính lượng phái, có ít người theo Hữu Bộ phái.

Tại Sở Bảo tồn văn hóa dân gian của Thành phố Huế hiện nay, có một tượng Phật bằng đá đỏ, tượng tuy nhỏ nhưng rất đẹp, tạc h́nh đức Phật ngồi Thiền định trên ba khoanh của vua loài rắn Naga là Mukalinda, và rắn giương năm đầu che ở bên trên. Tượng Phật này rất có thể là sản phẩm văn hóa Chămpa, không một chút ǵ tỏ ra ảnh hưởng Trung Hoa. Lại nữa, tuy một địa điểm rất xa hai châu Ô, Rí là vùng đất Nha Tlang mà về sau ta gọi là Nha Trang, trại thôn Phúc Khang, hay Vơ Cạnh, các nhà khảo cổ Pháp ở Trường Viễn Đông Bác Cổ xưa đă đào được một tấm bia, họ mệnh danh là “Bia Vơ Cạnh”; trên bia khắc chữ Phạn của nước Lâm Ấp, tức Chămpa cổ đại, có nói đến việc vua Sri Mara là người bảo hộ Phật pháp.

Như thế, có lẽ người Chămpa đă có theo đạo Phật Đại thừa trước khi người Đại Việt đặt chân lên đất Ô, Rí. Song hiện nay, ta không hề t́m gặp Kinh sách Phật bằng tiếng Chămpa hoặc có nhiều tượng Phật như ở nhiều nơi khác, mà chỉ gặp vô số tượng thần chạm bằng đá c̣n sót lại mà các nhà khảo cổ đă đào được và trưng bày ở Viện Bảo tàng cổ vật Huế cũng như Viện Bảo tàng Chàm ở Đà Nẵng. Những tượng này đều được chạm khắc bằng đá cứng rất mỹ thuât, đều thuộc về các tín ngưỡng Sivaisme, Vishnuisme, hoặc Brahmanisme.

Điều này chứng tỏ vào các thế kỷ X, XI và XII tl, người Chămpa đă có thờ Phật, nhưng chưa nhiều lắm và bị Ấn Độ giáo lấn hẳn ảnh hưởng. Trên các mơm đồi cao, không kể ở vùng Nam Trung bộ như tháp Phan Rang, tháp Bà Nha Trang, tháp núi Nhạn Tuy Ḥa, chỉ kể ở địa phận hai châu Ô, Rí th́ trong sách vở như Ô châu cận lục, Phủ biên tạp lục chỉ c̣n ghi lại ở trên núi Quy Sơn có tháp cổ của Chămpa, cho đến đời vua Minh Mạng (1820-1840), trụ biểu trước tháp c̣n dấu tích chữ Chămpa, tại xóm Bàu Tháp, làng Liễu Cốc Thượng, huyện Hương Trà, c̣n dấu tích một tháp Chămpa đổ nát; ở làng Trung Đơn, huyện Hải Lăng, Quảng Trị (Thuận châu) cũng c̣n một tháp Chămpa cao; nhưng tất cả đều thờ thần nữ hoặc một vị thần nào đó thuộc các tín ngưỡng Ấn Độ giáo nói trên.

Tuy thế vào thế kỷ thứ X tl. có thể người Chămpa ở vùng Thuận Hóa đă biết đến đạo Phật từ văn hóa Trung Hoa sang. Bởi v́ vào niên hiệu Thần Vũ nguyên niên (1069) vua Lư Thánh Tông (1054-1071) đem quân vào chinh phạt Chiêm Thành, vua Chiêm dâng ba châu Địa Lư, Ma linh và Bố Chính (Quảng B́nh và Bắc Quảng Trị hiện nay), quân nhà Lư đă bắt được nhiều tù binh, trong đó có cả một người mà về sau mới khám phá ra là ngài Thảo Đường, người Trung Hoa theo thầy sang trú tại Chiêm Thành để truyền bá đạo Phật, Trận này xảy ra ở thành Phật Thệ, làng Nguyệt Biều hiện nay, tức là đă nằm trong địa vực châu Ô, tức Hóa châu về sau vậy. Tuy nhiên, từ 1069 đến 1036 tl., trong 237 năm ấy không có sách nào nói người Chămpa có theo đạo Phật.

Trái lại, người Đại Việt, tuy theo đạo Phật đă lâu, nhưng khi di dân vào đất Chămpa ở cực nam để lập nghiệp, họ đă mang theo tín ngưỡng dân gian truyền thống của ḿnh vào để giao lưu và hỗn hợp tín ngưỡng Chămpa c̣n để lại, thành một thứ tín ngưỡng rất đa tạp. Nói chung là tín ngưỡng đa thần giáo theo linh hồn thuyết. Từ hốc cây, ḥn đá, ḍng sông, quả núi, con chim, con rắn, con hổ, cho đến hiện tượng thiên nhiên như sấm, chớp, mây, mưa, băo, từ “thần cây đa, ma cây gao, cú cáo cây đề” cho đến bất cứ hiện tượng lạ ǵ đều được dân Đại Việt thờ lạy cả. “Việc cúng bái th́ dùng xôi gà, lại mở cuộc chầu văn”.

Tuy nhiên, trong mớ tín ngưỡng đa tạp ấy th́ đạo Phật đă nổi bật lên là một tôn giáo đàng hoàng. Người Việt lập làng đến đâu, đào giếng lấy nước uống, trồng cây đa đầu làng, xây đ́nh làng, th́ đều có làm chùa làng đến đấy. V́ ca dao đă có câu: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. Lại xét trong ngôn ngữ Việt đă có thêm tiếng: “chùa, chuông, mơ, Bụt, ông Sư, bà Văi, Thứu Lĩnh, Tào Khê,...”. Như vậy, cho đến khoảng trước đời Trần, cơi Thuận Hóa chắc có nhiều chùa thờ Phật. “Chùa đất Phật vàng”, tức là kiểu kiến trúc chùa bằng gỗ, tranh thấp bé theo văn hóa Đại Việt. Bốn xung quanh th́ đắp phên, rồi trét đất trộn rơm, rất khác với lối kiến trúc bằng gạch nung của tháp Chămpa.

Sách Ô châu cận lục của Dương Văn An nhuận chính năm Ất Măo, niên hiệu Cảnh Lịch đời Mạc (1555) ở mục “Phong tục tổng luận” có kể rất nhiều chùa, nhưng đa số là ở Tiên B́nh (tức Quảng B́nh ngày nay). Tại Thuận Hóa, tức là Quảng Trị Và Thừa Thiên - Huế hiện nay th́ ông chỉ nói đến “chùa Dă Độ”, có lẽ ở làng Dă Độ, huyện Triệu Phong ngày nay, “chùa Thiên Mỗ” ở phía nam xă Giang Đạm, huyện Kim Trà, “chùa Sùng Hóa cổ truyền” ở làng Triêm Ân, huyện Tư Vinh là một quốc tự, “chùa Tư Khách” ở cửa Tư Khách, ( tức là cửa Tư Dung, nay là cửa Tư Hiền).

Tất cả đều được ông dùng hai chữ “chùa xưa” hay “chùa cổ”, ông lại dùng chữ “Thiền lâm” chứng tỏ đạo Phật ở Thuận Hóa vào thời nhà Trần (1306) trở đi đă thịnh, có nhiều chùa thuộc về Thiền tông. Hơn nữa, các chùa lớn thời này, ở vùng Tiên B́nh, Thuận Hóa, đă có đặt một chức quan coi giữ chùa gọi là “Tự chính’’. Không thấy nói đến các nhà sư, cách tu hành và không có “Tăng” trú tŕ như về sau... Đến năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn phương Nam th́ ông chẳng để ư ǵ đến Phật giáo, cho nên nhiều chùa cổ sập nát mà sách vở th́ cũng không ghi chép.

Măi đến năm Tân Sửu (1601), gần như là một hành động có mang màu sắc chính trị, ông mới cho sửa chùa Thiên Mụ và tung ra một huyền thoại rất có lợi cho ông. Năm sau (1602), ông cho sửa chùa Sùng Hóa và mở hội Đại pháp ở chùa này. Rất tiếc là sách không ghi chép tên các nhà sư đă có mặt trong các buổi lễ lớn đó...Măi đến đời Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), Cảnh Trị năm thứ tư, nhà Hậu Lê, Bính Ngọ (1666), nhân đi chơi cửa biển Tư Dung, tức là cửa Tư Khách, chúa đă cho sửa chùa Ḥa Vinh – có thể là chùa Tư Khách xưa -- rất là rộng đẹp. Đến năm Chính Ḥa thứ chín, Mậu Th́n (1688), chúa Phúc Thái (1687-1691) cho sửa chữa chùa Thuận An vốn đă có từ trước. Nay th́ chùa này dường như đă mất hẳn dấu tích.

Ngoài ra, vào thời các chúa Nguyễn, xứ Thuận Hóa, ngoài vô số chùa làng, lại c̣n có nhiều chùa công như chùa Kim Long, chùa Quang Xuân, chùa Hà Trung, chùa nào cũng có đặt chức “Tăng lục” do Ty Tăng lục coi sóc. Từ khoảng này trở về sau, cơi Thuận Hóa bắt đầu có nhiều “thảo am”, h́nh thức sơ khai của những ngôi chùa, như thảo am của Giác Phong Lăo Tổ ở trên núi Hàm Long, về sau trở thành chùa Báo Quốc, đời Gia Long (1802-1819) đổi thành chùa Thiên Thọ, kể từ đời Minh Mạng (1820-1840) đổi lại là chùa Báo Quốc cho đến nay.

Thảo am của ngài Minh Hoằng Tử Dung, về sau thành chùa Ấn Tông, năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) đổi thành chùa Từ Đàm cho đến nay. Thảo am của ngài Khắc Huyền, về sau trở thành chùa Thiền Lâm, đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) chùa đă có lúc trở thành Thiền Lâm Thiền Viện, là vùng đất trước chùa Từ Đàm lên tới đàn Nam Giao. Lại có thảo am của ngài Từ Lâm, sau trở thành chùa Từ Lâm cho đến nay. Thảo am của ngài Nguyên Thiều tức chùa Vĩnh Ân ở Phú Xuân Sơn, sau lại được chúa Nguyễn đổi thành “Quốc Ân Tự”, từ khoảng 1689 cho đến nay. Đạo Phật do các ngài truyền đến th́ hoặc là thuộc phái Tào Động hoặc là thuộc phái Lâm Tế, mà đa số là thuộc phái Lâm Tế. Nhưng dù Tào Động hay Lâm Tế, cũng đều thuộc Thiền tông.

Tất cả nằm vào khoảng cuối thế kỷ thứ XVII, đầu thế kỷ thứ XVIII tl. Vào cuối thế kỷ thứ XVII tl., cơi Thuận Hóa đă là nơi mà “chùa chiền khắp xứ, săi văi đầy đoàn”, Nhưng chắc chắn tinh thần Phật giáo có phần lưu tệ, nên mới có tờ bố cáo của ngài Thạch Liêm tŕnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào năm Ất Hợi (1695), lại có cuốn văn lục bát Săi văi của Nguyễn Cư Trinh... có lẽ chúng ta không ai chối căi sự thực, song cả ngài Thạch Liêm lẫn Nguyễn Cư Trinh đều có cái nh́n hơi thiên lệch: hoặc là từ khía cạnh nhà Nho thuần túy đến (Nguyễn Cư Trinh), hoặc là từ khía cạnh Tam giáo đồng qui có pha lẫn chính trị đến (ngài Thạch Liêm).

Có một điều rất đặc biệt là dân Đại Việt từ miền Bắc vào Thuận Hóa làm ăn, nhưng ngược lại tất cả các ngài truyền bá Phật pháp, dựng thảo am và lập chùa chiền th́ đều Đàng Trong ra. Không hiểu các ngài Giác Phong, Từ Lâm, Khắc Huyền, Minh Hoằng... đă từ Trung Quốc đáp thuyền buôn sang đổ bộ ngay Thuận Hóa, hay lên Hội an rồi mới ra Thuận Hóa; chứ kể từ ngài Nguyên Thiều vào Quy Ninh (1677), ngài Liễu Quán ở Phú Yên th́ đều do Đàng Trong đi theo thuyền buôn đến Thuận Đô bằng cửa Tư Dung lên.

Chính ngài Thạch Liêm cũng định đáp vào Quảng Nam, nhưng sau nhờ thuận gió mới đáp vào đất Thuận Hóa (1695). Lại c̣n một yếu tố nữa mà chúng ta phải nghiên cứu lâu theo quan điểm khoa học địa môi trường (géo-environement) mới có thể giải đáp được, đó là tại sao tất cả các chùa chiền cơi Thuận Hóa đều ở về mạn nam sông Phú Xuân cho đến núi Quy Sơn ở chân đèo Ngăi Lănh (tức đèo Hải Vân hiện nay). Điều này tạo cho chùa Huế có sắc thái vô cùng đặc sắc, là hàng trăm ngôi chùa đều nằm trên các mơm đồi hoặc sườn đồi đầy cây cao bóng mát, cảnh trí thiên nhiên u nhàn tĩnh lặng, làm cho chùa Huế trở thành những nơi bảo vệ được môi trường thiên nhiên trong lành, mát mẻ; và đường đi lên các chùa trở thành những cảnh đẹp thiên nhiên tuyệt vời có sức thu hút người đăng lâm văn cảnh.

Hiện nay th́ vậy, nhưng trở về các thế kỷ thứ XVII, XVIII tl., chúng ta lại thấy các dăy đồi Hàm Long Sơn, Hoàng Long Sơn, Ngũ B́nh Sơn, Phú Xuân Sơn, Ngũ Phong Sơn, Thiên Thai Sơn tuy đă có tên hay, nhưng đều là những nơi “sơn lâm bóng cả cây già, với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi” (thơ Thế Lữ). Lối đi từ nơi này sang nơi khác chỉ là đường ṃn lối nhỏ len lỏi trong rừng rậm như ngài Thạch Liêm đă tả : “Lối tiều quanh núi khi mờ tỏ”, chứ chẳng có đường sá ǵ! Thế nhưng, tất cả các ngài đến truyền bá Phật pháp đều dựng tháo am trong bóng cây rừng rậm rịt đầy cọp, beo, và rắn độc ấy cả. T́m cho ra được mối liên hệ giữa tinh thần, trí tuệ của các ngài sơ Tổ với môi trường thiên nhiên “đẹp man dại” đó, chúng tôi nghĩ là chúng ta đă t́m được sắc thái đặc trưng của chùa chiền và Phật giáo vùng Huế vậy.

Ngay như ngài Liễu Quán, người Đại Việt, phủ Phú Yên thời các chúa Nguyễn ở Phương Nam, đi theo thuyền buôn ra Thuận Đô cũng đă ở thảo am Viên Thông dưới chân Ḥn Mô (tức Ngự B́nh), rồi lại vào khai sơn thảo am ở núi Thiên Thai nổi tiếng nhiều cọp dữ, ăn rong khe, uống nước suối độc, quyết chí tu hành đến đắc đạo. Được ngài Minh Hoằng Tử Dung ấn khả Tâm tông, ngài Liễu Quán đă trở thành một vị Tổ của cả một phái Thiền gọi là Thiền Tử Dung-Liễu Quán, rất long thịnh suốt cả một dăi đất Nam Hà từ thế kỷ thứ XVIII, XIX tl. cho đến nay. Thảo am xưa của ngài ở núi Thiên Thai, chính là Tổ đ́nh Thuyền Tôn, tức là Thiên Thai Thiền Tông Tự đă được các chúa Nguyễn “sắc tứ”, và đă tồn tại hơn hai trăm năm nay. Cho đến hiện tại, hàng trăm ngôi chùa Huế ở vùng núi đồi mạn nam sông Hương đều thuộc ḍng kệ của ngài.

Chùa chiền ở Thuận Hóa vào đời các chúa Nguyễn đă có rất nhiều, người xuất gia cũng rất đông. Song đến khi Trịnh vào xâm chiếm Phú Xuân và nhất là thời Tây Sơn (1786-1801) th́ Phật giáo Thuận Hóa cơ hồ rơi vào t́nh trạng đồi phế. Măi đến khi Gia Long lên ngôi (1802) trở về sau, các chùa ở vùng Thuận Hóa mới lần hồi được sửa sang và trùng hưng. Bà Hiếu Khương Hoàng thái hậu, mẫu hoàng của vua Gia Long, cho sửa chùa Báo Quốc và cho đổi thành Hàm Long Thiên Thọ Tự. Long Thành công chúa, chị em cùng mẹ với vua Gia Long, vào năm 1805 đă cúng 300 quan tiền để trùng tu cùa Quốc Ân và lập một Tăng đoàn ở chùa này.

Chùa Thiền Lâm, chùa Kim Tiên lại được Thừa Thiên Cao Hoàng hậu, mẹ Hoàng tử Cảnh bỏ của riêng ra để trùng tu và sửa sang lại. Một quả chuông đồng cao bốn thước, ḿnh tṛn sáu thước, dày bốn tấc, có khắc chữ “Lê Vĩnh Thịnh thập nhị niên chú” do vua Gia Long chở từ Bắc Thành về để trong kho, sau khi trùng tu xong chùa Thuyền Lâm th́ đem treo ở đây, nhưng nay cũng không c̣n.

Trong giới xuất gia th́ Ḥa thượng Đạo Trung đă sửa chữa chùa Ấn Tông - Từ Đàm, Ḥa thượng Đạo Thành trùng hưng chùa Từ Lâm, Ḥa thượng Đạo Thiện sửa lại chùa Viên Thông, Ḥa thượng Đại Huệ trùng hưng chùa Thuyền Tôn. Năm Gia Long thứ 14, chính nhà vua cho tái thiết chùa Thiên Mụ. Năm Gia Long thứ hai (1803) chùa Long Quang ở xă Xuân Ḥa được trùng hưng. Long Quang là một ngôi chùa cổ, thời chúa Duệ Tông đă có trùng tu và cho biển ngạch “Sắc tứ Long Quang Tự”, lại có biển treo ở tầng trên của chùa có bốn chữ lớn “Tuệ Chiếu Nam Thiên”; vào năm Khải Định thứ ba (1918) chùa này bị triệt bỏ, nay c̣n dấu tích.

Chùa Hà Trung, chùa núi Thúy Vân lần lượt đều được trùng hưng khang trang rộng rải hơn xưa. Nhiều vị công chúa dưới triều Minh Mạng (1820-1840) cũng đă cúng dường tiền bạc của cải để trùng tu hoặc xây dựng nhiều chùa ở Huế. Bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, mẫu hậu của vua Minh Mạng đă bỏ tiền của ra sửa lại chùa Khánh Vân ở sơn phận xă Lựu Bảo, chùa Quang Bảo ở xă Kim Long, chùa Bảo Sơn ở xă An Ninh, chùa Quang Đức ở xă An Vân Hạ, đều thuộc huyện Hương Trà.

Từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), chúa tự hiệu là Từ Tế Đạo Nhân, các chùa này đă được chúa ban cho biển vàng “sắc tứ” và hiệu chùa; qua triều Tây Sơn đổ nát, cũng đến thời Gia Long mới được trùng tu. Ngoài ra lại có Ngọc Ngôn công chúa tức An Mỹ Thái trưởng công chúa sửa chùa Huệ Lâm; Diên Phúc công chúa sửa chùa Viên Giác do Tỳ kheo Liễu Quán dựng trong vùng chùa Vạn Phước hiện nay; Định Ḥa công chúa Ngọc Ky (hay Cơ) sửa chùa Đông Thuyền; Ngọc Nguyệt công chúa sửa chùa Phổ Quang; Ngọc Duệ công chúa sửa chùa Thiên Thai Ngoại ở núi Kim Long, phía tây bắc huyện Hương Thủy (nay chùa đang c̣n ở về phía tay trái mạn gần Cầu Lim, kể từ Huế lên). Năm Minh Mạng thứ mười bảy, chùa Trấn Hải ở núi Quy Sơn, và chùa Thánh Duyên ở Thúy Vân Sơn được xây dựng trên dấu tích chùa cổ.

Người ta phải công nhận một sự thật rất hiển nhiên là dưới thời các vua nhà Nguyễn, kể từ Gia long (1802) cho đến Duy Tân (1916) chùa chiền ở vùng Huế phát triển mạnh. Ngoài việc trùng tu, tái thiết và sửa chữa nhiều chùa đă nói ở trên, c̣n có việc xây dựng thêm như: chùa Giác Hoàng, dựng năm Minh Mạng thứ hai mươi tại phường Đoan Hà (sau cải là phường Thái Trạch, nay là phường Thuận Thành). Giác Hoàng có nghĩa là ông vua đă giác ngộ, v́ vua Minh Mạng cho rằng kiếp trước của ḿnh là thầy tu. Vua Thiệu Trị (1841-1847) có là bài thơ “Giác Hoàng Phạn ngữ” để ca ngợi tiếng tụng Kinh ở chùa Giác Hoàng. Đến ngày 14-6-1885 chùa bị triệt bỏ, hiện c̣n dấu tích là Tam Ṭa. Chùa Diệu Đế dựng đời Thiệu Trị.

Chùa Từ Hiếu dựng năm Tự Đức nguyên niên (1848), và c̣n vô số chùa khác. Trái lại, cũng có rất nhiều chùa danh tiếng vào thời cổ đă bị bỏ phế, hoang tàn một độ rồi mất luôn dấu tích như chùa Sùng Hóa, chùa Kim Quang, chùa Tây Thiền, chùa Huệ Minh, chùa Trấn Hải ở núi Linh Thái gần núi Quy Sơn, chùa Bạch Vân ở trước am Bạch Vân tại núi Phụ Ổ, phía bắc huyện Hương Trà do chúa Nguyễn Phúc Khoát dựng, có phong cảnh khá đẹp, chúa thường ngự lên chơi ở đấy, hiện c̣n dấu tích; chùa Diên Thọ ở làng Hải Cát đều thuộc huyện Hương Trà.

Tại Kinh thành có Linh Hựu Quán ở phía bắc sông Ngự Hà, thuộc phường Ân Thịnh (nay là Tây Linh, phường Thuận Lộc), dựng từ năm Minh Mạng thứ mười, phía hữu có gác Tường Quang, phía tả có gác Từ Vân, trước mặt trông ra sông Ngự Hà. Đến đời Thiệu Trị, vua có làm bài thơ “Linh Quán khánh vận” khắc vào bia đá và dựng ở phía tả Quán, Ḥa thượng Nhất Định đă được cấp giới đao và độ điệp, và sung chức Tăng cang Linh Hựu Quán này trong một thời gian.

Đời vua Thành Thái (1889-1906) Linh Hựu Quán đi vào đồi phế rồi bị sụp đổ; ông Ngô Đ́nh Khả xin nhà vua cấp cho vùng đất này để làm từ đường, song đến đời vua Duy Tân (1906-19i6) th́ ông này đem làm nhà thờ Thiên chúa giáo mà không làm từ đường trên đất ấy như lời ông đă xin với nhà vua. Bị Bộ Lễ và Bộ Công phản đối kịch liệt, ông bị biếm chức và nhà thờ Thiên chúa giáo phải triệt hạ, nhưng việc chưa đi đến đâu th́ vua Duy Tân bị buộc phải tốn vị và bị lưu đày sang châu Phi, cùng chỗ với phụ hoàng Thành Thái của ngài. Đến năm Khải Định thứ ba (1918), nhà vua xuống chỉ dụ phế bỏ Linh Hựu Quán. Trong năm Duy Tân thứ hai (1907), có chùa Ngọc Sơn ở gần chùa Thiên Mụ cũng bị bỏ (theo Châu bản triều Nguyễn).

Hiện nay ở Huế có khoảng vài trăm ngôi chùa lớn và nhỏ. Bao mhiêu tượng Phật, tượng Bồ Tát, chuông, khánh đồng, khánh đá và nhiều văn vật khác của Phật giáo các thời Lê, Trịnh, Nguyễn c̣n lại đang được thờ tự và bảo quản tại các chùa Huế trở thành một kho tàng vô giá về văn hóa của Phật giáo Thuận Hóa. Ngoài ra, chúng ta lại c̣n có vô số biển hiệu chùa có nhiều mô-tip mỹ thuật các triều đại đó. Hàng trăm câu đối với nét chữ thuộc loại bút thiếp (chữ đẹp). Văn bia của các vua chúa ngự đề, của các nhà đại Nho thâm hiểu Phật pháp ghi chép lại lịch sử chùa khi chùa được trùng tu; lại có nhiều yếu tố liên quan đến tiểu sử các vị danh tướng như Điện Tiền Thái Bảo Giá Ngự Quận Công Vơ Văn Dũng của triều Tây Sơn khắc trên chuông chùa làng La Chử, có cả tên tướng quân phu nhân Lê Thị Vy; như tên các vị Đô Đốc đời Tây Sơn khắc trên chuông chùa làng Hạ Lang; lại c̣n tên của các vị anh hùng yêu nước...

Nhiều tập thơ của các vị Thiền sư đời trước để lại như “Lược Ước tùng sao” của Viên Thành Thượng Nhân chùa Tra Am; tập “Thủy Nguyệt tùng sao” của ngài Bích Phong chùa Quy Thiện, thơ hay, đẫm phong cách Thiền, chữ viết xương kính...những câu đối rất hay của Sào Nam Phan Bội Châu, đều là những của báu trong kho tàng văn học Phật giáo Thuận Hóa. Lại c̣n nhiều bản gỗ khắc Kinh, Luật, Luận như “Pháp Bảo Đàn Kinh”, “Đại Thừa Vô lượng nghĩa Kinh”... và nhiều bộ khác ở chùa Từ Hiếu; “Tứ Phần Luật” và nhiều bộ khác ở chùa Viên Thông, chùa Quốc Ân; bộ “Hàm Long Sơn Chí” của Điềm Tịnh Cư Sĩ và Như Như Đạo Nhân biên soạn vào cuối thế kỷ thứ XIX tl. v.v...

Nhất là cách kiến trúc chùa viện theo kiểu chữ “khẩu”, chữ “nhất”, chữ “tam”, chữ “liễu”; những tiền đường hay điện thờ làm kiểu nhà “trùng lương” hay c̣n gọi là “trùng thiềm điệp ốc” là kiểu đặc trưng của Huế, không đâu có. Lại c̣n cách tŕnh bày nóc với các mô-tip “lưỡng long chầu mặt nguyệt”, “lưỡng long chầu Pháp luân”, các vật linh quy, phụng, lân, các kiểu hoa sen; mái lợp ngói âm dương có màu ảnh hưởng kiểu kiến trúc cung đ́nh của các triều vua chúa để lại. “Hoa sen”, “chữ Vạn”, “hồi văn chữ vạn”, “lá sen”, “trái Phật thủ”, “lá bồ đề”, “Pháp luân”, “hải triều”, “hỏa luân”,”bầu cam lồ” là những đề tài, những mô-tip thuần Phật giáo tạo cho chùa Huế có nhiều sắc thái độc đáo cần được giới nghiên cứu văn hóa quan tâm và nghiên cứu tỉ mỉ với thời gian lâu dài để góp vào kho tàng văn hóa Việt Nam một nét rất đặc biệt, không thể bỏ qua được.

Mặt khác, tinh thần Phật giáo và tín ngưỡng Phật giáo, tín đồ ở Huế cũng là một đề tài có thể viết thành những tập sách dày, rất cần làm. Nhưng!.. sức một vài người không sao làm nỗi những công việc trên này, cho dù lẻ tẻ đó đây cũng đă có ít nhiều sách báo của nhiều nhà thức giả, nhiều bậc tu hành đă công bố hoặc đang thực hiện âm thầm; nhưng chúng tôi nghĩ không sao gọi là đủ vậy.

Hà Xuân Liêm

_________
 

Sách tham khảo:
 

Quốc Sử Quán, Đại Nam nhất thống chí, q.II, trg. 78-79, Thừa Thiên Phủ, bản dịch của Viện Sử Học, Nxb KHXH, Hà Nội, 1969.

Nguyễn Trăi toàn tập, trg.643. Viện Sử Học biên dịch và chú giải, Nxb. KHXH. Hà Nội, 1969.

Đại Nam Nhất Thống Chí, trg 115.

An Nam chí lược, 415, tờ 7.

Dương Văn An, Ô châu cận lục, trg. 43; bản dịch của Bùi Lương, Văn Hóa Á Châu xb, Sài G̣n, 1961.

Lê Quư Đôn, Phủ biên tạp lục, trg. 113; Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb KHXH, Hà Nội, 1977.

Thích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự, trg. 40. Bản Việt UBSLVN, Viện Đại Học Huế xb, 1963.

Thích Đại sán, Sđd. trg. 46,47,48,48 và 50. Quốc Sử Quán, Đại Nam nhất thống chí, trg. 178,179,180.

Quốc Sử Quán, Sđd. trg. 71

Lư Kim Hoa, Châu bản triều Nguyễn, tư liệu Phật giáo, từ trg. 872 đến trg. 879. Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003.

 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 01/28/16