Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 

 

Chùa Trúc Lâm ở Huế

Hồ Đắc Duy

Chùa Trúc Lâm ở về phía tây nam cách thành phố Huế khoảng 5km, tọa lạc trên đỉnh đồi Dương Xuân Thượng thuộc làng Thuận Ḥa, xă Thủy Xuân, huyện Hương Thủy.

Đồi Dương Xuân Thượng nằm lọt thỏm giữa những ngọn đồi và núi bao quanh. Phía bắc giáp dốc Cầu Lim và đàn Nam giao; phía nam giáp đồi lăng mộ cụ thượng thư Hồ Đắc Trung và vùng núi Ngũ Tây, Thần Phù, Phú Bài; phía đông có núi Thiên Thai và vùng núi đá vôi và phía tây có đồi Thiên An, núi Kim Phụng mà xa hơn là dăy Trường sơn Nam. Sườn đồi Dương Xuân h́nh ṿng cung , dưới chân đồi có khe suối uốn khúc chảy từ hướng nam bắc ṿng qua dưới Cầu Lim vào địa phận Dương Xuân Hạ trước khi đổ ra sông Hương.

Cách đây hơn nửa thế kỷ về mùa mưa suối chảy xiết nước đổ ầm ầm, đến mùa khô hanh nước cạn dần, suối trở thành khe nước trong vắt ngọt lịm có thể thấy đá cuội dứới ḷng khe và những đàn cá nhỏ tung tăng rượt đuổi nhau. Hai bên bờ suối là một dăi cát trắng phau nhất là ở trước mặt tiền của chùa, c̣n ở nơi khác th́ cát chen lẩn với đá cuội đủ màu sắc (từ đen tuyền cho đến trắng bạch, xanh ngọc, xám, nâu vàng tím ...) to nhỏ tṛn lép hay có những h́nh thù góc cạnh khác thường trông rất lạ mắt đúng là:

Trước mặt bờ khe phơi cát trắng
Sau lưng cḥm núi rợp cây xanh.

Đến thập niên 60 thế kỷ trước, sư ông trù tŕ chùa Trúc Lâm là Ḥa thượng Thích Mật Hiển cho ủi san bằng khu đất trước cổng chùa bên dưới chân đồi và đào sâu xuống thành một cái hồ h́nh chữ S. Sư ông c̣n đắp một con đường đi ṿng quanh hồ, hai bên bờ trồng trúc, tre la ngà, dương liễu. Mé phải đầu con đường thiền hành này sư ông có cho dựng một cột đá có khắc chữ h́nh như  là ba chữ Trúc Lâm Tự. Lâu ngày cột đá đổ xuống không rơ tấm bia nay c̣n hay đă mất.

Gần một thế kỷ khi mới lập chùa Trúc Lâm, chổ đó chỉ là một cái am lá thô sơ nằm trong một khu rừng hoang vắng rậm rạp tre trúc dày đặc. Chung quanh am là đồi núi khe suối chia cắt, theo đường chim bay th́ từ kinh đô đến chùaTrúc Lâm c̣n xa hơn chùa Tra Am của sư Viên Thành ở dưới chân núi Ngự B́nh. Ít người đến được nơi đây hoặc muốn tới phải băng rừng lội suối vạch lau sậy đi theo lối ṃn của tiều phu hay thợ săn.

Đồi Dương Xuân là đất b́a rừng của dăy Trường Sơn, đứng trên núi Ngự B́nh hay trên đỉnh Thiên Thai nh́n về phía tây là có thể định vị đỉnh đồi Dương Xuân Thượng nếu như có một tiều phu nào đó đốt củi làm than trên đó.

Tồ khai sơn chùa là Thiền sư Giác Tiên, câu chuyện ngôi chùa được thành lập là một hạnh duyên cực kỳ lư thú :

Nguyên vào mùa xuân năm Ất Mùi (1895) triều Thành Thái, chùa Phổ Quang ở dốc Bến Ngự càng ngày càng hư hỏng. Theo tương truyền là một thảo am của ông Nguyễn Hữu Hào (Đôn Hậu Công Thần Trấn Thủ sinh năm 1642 mất năm 1712 tức anh ruột của Nguyễn Hữu Cảnh ngưởi khai sinh ra thành phố Saig̣n) tác giả của một truyên thơ bằng chữ Nôm truyền đời đó là truyện Song Tinh  (một tác phẩm văn học cổ nước ta trước cả truyện Hoa Tiên và truyện Kiều hơn một thế kỷ). Lúc ấy, tự trưởng là Chánh Động Đại sư đem ngôi chùa cúng dường cho đại lăo ḥa thượng Cương Kỷ chùa Từ Hiếu. Bấy giờ có một tỳ kheo ni là bà Hồ Thị Nhàn người làng Chuồn ( An Truyền, Phú Vang, Thừa Thiên) con ông Hồ Đắc Tuấn và bà Công Nữ Thức Huấn, cháu ngoại của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Bà sinh năm 1863 kết duyên cùng ông Nguyễn Đôn Lư, sau ngày chồng mất bà xuất gia thụ giáo với ḥa thượng Cương Kỷ chùa Từ Hiếu (1898) pháp danh Thanh Linh hiệu Diên Trường. Bà xin phép đại lăo ḥa thượng được trùng tu chùa Phổ Quang. Điện Phật, cửa chùa, nhà tăng, buồng bếp, ảnh tượng, đồ thờ được sửa sang trang nghiêm đầy đủ. Bà lại đem chuyện đó tâu lên với đức Thái hoàng Thái hậu Trang Ư Thuận Hiếu xin ban cho hai mẫu ruộng chi dùng vào việc đèn hương... Đấy cũng là thời điểm đang mở đường xe lửa chạy ngang qua dưới chân đồi của chùa Phổ Quang, nơi ấy trở nên thị tứ ồn ào đông đúc, dân cư tụ tập, chơ búa ghe thuyền tấp nập...  nên sư bà Diên Trường t́m đường rẻ lối tới chốn sơn lâm cùng cốc xa hơn lập một thảo am khác để tiếp tục tu hành. Duyên lành đă hạnh ngộ trên đỉnh đồi Dương Xuân là vậy, khi thảo am đă xong sư bà Diên Trường mời sư Giác Tiên về làm trụ tŕ và sư cũng là tổ khai sơn của chùa Trúc Lâm ngày nay.

Trước khi về nhận chùa, sư Giác Tiên đă cùng sư cụ Diên Trường du hành đó đây. Khi đến Trúc Lâm Yên Tử (một trung tâm Phật Học dưới triều đại nhà Trần) hai vị đă lưu lại một thời gian, sưu tầm một số pháp bảo quư giá như kinh điển, pháp khí. Trở về Huế, sư đă quyết định đặt tên chùa là Trúc Lâm Đại Thánh, có ư liên hệ với Trúc Lâm tinh xá thời Phật c̣n tại thế và thiền phái Trúc Lâm ở Yên Tử nước ta do Trúc Lâm Đầu Đà Đại Sĩ (hiệu của vua Trần Nhân Tông) thiết lập.

Tổ khai sơn pháp danh Trừng Thành, tự Chí Thông thuộc ḍng Lâm Tế chánh tông đời thứ 42. Sư thế danh Nguyễn Duy Quyển sanh năm 1879 tại làng Dạ Lê Thượng, Thủy Phương, Hương Thủy. Lên 4 tuổi th́ song thân mất, phải về ở với ông bà đến năm 11 tuổi (1890) xin xuất gia và được thọ giáo với tổ sư Tâm Tịnh (đời thứ 41 thuộc ḍng Lâm Tế, người khai sơn tổ đ́nh Tây Thiên). Đầu tiên ngài được tu học tại tổ đ́nh Từ Hiếu, nơi ngài Hải Thiệu đang làm trụ tŕ và ngài Tâm Tịnh làm giám tự. Năm 14 tuổi ngài được tổ cho thọ giới Sa-di. Năm 1907, Ḥa thượng đàn đầu Vĩnh Gia tổ chức đại giới đàn tại chùa Phước Lâm tỉnh Quảng Nam, ngài được cho đăng đàn thọ cụ túc giới. Tại đây ngài được cử làm thủ chúng Sa-di khi vừa 28 tuổi.

Năm 1918 sư mở đại giới đàn tại chùa Từ Hiếu, mời Ḥa thượng Tâm Tịnh làm đàn đầu. Năm 1924  vân tập đại Tăng an cư kiết hạ tại chùa, năm sau sư được chiếu chỉ của triều đ́nh mời làm trú tŕ ngôi quốc tự Diệu Đế.

Năm 1926, sư cho trùng tu toàn bộ Phật điện và tăng xá chùa Trúc Lâm. Đến năm 1928 ngài biến Trúc Lâm thành nơi đào tạo tăng tài. Năm Kỷ Tỵ 1929, ngài vào Tổ đ́nh Thập Tháp ở B́nh Định mời Ḥa thượng Phuớc Huệ ra Huế làm chủ giảng. Năm 1930, sư khuyến khích và giúp đỡ sư bà Diệu Hương xây dựng và mở Ni trường Diệu Đức.

Năm 1931, sư là người đầu tiên khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo và vận động thành lập Hội An Nam Phật học, thỉnh nhiều vị thiền sư tài đức về chung lo Phật sự. Năm 1932, nhờ sự giúp đỡ của bà Từ Cung (Đoan Huy Hoàng Thái hậu), vua Bảo Đại cho phép An Nam Phật học hội ra đời do sư đứng đầu, trụ sở đầu tiên đặt tại chùa Trúc Lâm Huế. Năm 1933, sư ủy cử thiền sư Mật Khế vị đệ tử xuất sắc của ngài mở trường An Nam Phật học sơ cấp tại chùa Vạn Phước. Năm 1934 vua Bảo Đại ban sắc chỉ đặt tên chùa là "Sắc tứ Trúc Lâm Đại Thánh tự ".

Năm 1935, pháp sư Trí Độ đảm nhiệm chức vụ Đốc giáo sau khi trường dời từ chùa Túy Vân (chùa Thánh Duyên ) về chùa Báo Quốc. Trong năm này sư cùng đệ tử Mật Khế tổ chức trường An Nam Phật học tại Trúc Lâm, thu nhận 50 học tăng. Đến cuối năm ngài lại quy tụ các học tăng có tŕnh độ cao về Trúc Lâm để mở thêm cấp Đại học Phật giáo, và đó là lớp Đại học Phật giáo đầu tiên có tại miền Trung. Ngoài vị đệ tử lớn của sư là thiền sư Mật Khế, c̣n có vị đệ tử tại gia rất xuất sắc là Bác sĩ Lê Đ́nh Thám, người đă soạn thảo chương tŕnh tu học cho thanh thiếu niên Phật tử. An Nam Phật học hội đă hơn một lần tổ chức một đại lễ Phật đản lớn chưa từng có ở Huế.

An Nam Phật học hội qui tụ được nhiều nhà tu hành uyên bác như các Thiền sư Mật Khế, Mật Thể, Đôn Hậu, Diệu Hương, Diệu Không... các cư sĩ như Tiến sĩ Đinh Văn Chấp, Nguyễn Khoa Tân, Bửu Bác... và ra báo Viên Âm, tổ chức các buổi thuyết pháp, dịch Kinh sách

Ngày 2 tháng 10 năm Bính Tư, sư cho quy tụ đồ chúng để nghe giảng kinh Pháp Bảo Đàn. Hai hôm sau khi giảng xong phẩm Bát nhă, sư nh́n từng đệ tử để truyền kệ và vào lúc 20 giờ ngày mùng 4 tháng 10 niên hiệu Bảo Đại thứ 11 (tức ngày 17.11.1936) sư thị tịch lúc 57 tuổi trong lúc đang đảm nhận trách vụ trú tŕ hai tổ đ́nh Trúc Lâm - Diệu Đế và chứng minh đạo sư cho hội An Nam Phật học.

Với công hạnh và đức độ của sư, ngài Tâm Tịnh đă phó pháp bài kệ sau :

Giác đạo kiếp không Tiên
Không không bát nhă Thuyền
Quả nhân phù hạnh giải
Xứ xứ tức an nhiên.
(Đường giác kiếp không trước, thuyền bát nhă không không, hạnh giải hợp nhân quả, ở đâu cũng thung dung).

Ông Nguyễn Lang viết : "Thiền sư Giác Tiên có thể gọi là người đă khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo miền Trung. Thiền sư hướng đạo cho hội An Nam Phật học được bốn năm th́ viên tịch. Các đệ tử của ngài là thiền sư Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện và Mật Thể đều đóng những vai tṛ quan trọng trong phong trào chấn hưng Phật giáo sau này".

Thiền sư Mật Khế là một trong những đại đệ tử của sư Giác Tiên. Sư là con ông Khóa họ Lê ở Thần Phù và bà Nguyễn thị Lài người làng Cầu Ngói Thanh Toàn. Xuất gia từ năm lên 7 tuổi sau khi cha qua đời, sư là một người thông minh lanh lợi làu thông kinh sử  ngay từ thuờ niên thiếu được mọi người trong chùa gọi là chú tiểu Nam. Năm  20 - 22  tuổi khi đang tu học ở chùa Thánh Duyên - Túy Vân (quê hương của đức Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại). Bà Từ Cung nghe tiếng sư là người uyên bác nên cho vời sư vào cung để thuyết giảng phật pháp.

Thiền Sư Mật Khế qua đời khi c̣n rất trẻ khoảng 30 tuổi v́ bị viêm phúc mạc do viêm ruột thừa, hiện tại thiền sư c̣n một người em gái là cụ bà Hồ Thị Huyền vợ của ông Ưng Úy (thượng thư bộ Lễ) và bà đang sống tại Tp HCM.

Thiền sư Mật Thể thế danh là Nguyễn hữu Kê người làng Nguyệt Biều (Hương Thủy, Thừa Thiên) sinh năm 1912, xuất gia năm 12 tuổi, tu học tại chùa Diệu Hỷ, Từ Quang, Trúc Lâm. Năm 1930, được Ḥa Thượng Giác Tiên nhận làm đệ tử pháp danh Tâm Nhất, hiệu Mật Thể. Năm 1937 sang Trung Quốc học ỡ Phật Học Viện Tiêu Sơn, năm 1941 dạy tại Phật học đường Lữơng Xuyên Trà Vinh, năm 1944 làm trụ tŕ chùa Phổ Quang ở Huế và mất năm 1961 tại Nghệ An.

Thiền sư Mật Hiển là sư ông trụ tŕ chùa Trúc Lâm lâu nhất, mất năm 1992 là ngươi có công nhiều nhất trùng tu và xây dựng chùa Trúc Lâm để có được dáng vẻ như ngày hôm nay.

 Từ thành phố Huế xe đi qua cầu Nam Giao vào con dường thẳng mà không bằng ấy đến đàn rẽ trái vượt qua cầu Lim găp một con đường đất bên trái đi thêm khoảng 500 mét  là đến cổng chùa. Chỉ mất chừng nửa giờ đi xe là đến nơi, con đường đá vàng cát trắng quanh co ngày xưa mà bác sĩ Lê Đ́nh Thám đă từng mô tả :

Đường Trúc Lâm đá vàng cát trắng,
Cảnh Trúc Lâm, cảnh vắng người thanh
Ḍng khe lượn khúc như tranh
Rừng cây rợp bóng tươi xanh bốn mùa.

Thoạt đầu để mở được con đường quả thật là cam go v́ khu vực này c̣n là rừng nguyên sinh, cây cối tre trúc um tùm ít bóng ngươi lai văng. Đất đai chưa có ai khai phá có rất nhiều đoạn phải xẻ núi bởi triền đồi Dương Xuân Thượng có độ dốc khá dựng đứng bên phải là vực sâu có gịng khe nước chảy xiết nhất là mùa mưa băo.

Một trăm năm trước nhà chùa chỉ làm được một lối ṃn ven triền đồi để đi lại, xe ngựa không thể vào đây được (dấu tích nay vẫn c̣n thấy). Sau những đợt trùng tu chùa vào các năm 1926, 1942, 1968, 1992 con đường mới được rộng răi như hôm nay.

Tôi sinh ra và trọn tuổi ấu thơ đă được sống bên cạnh chùa Trúc Lâm, ngôi chùa đă in một dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn tôi. Vả lại gia đ́nh nhà tôi c̣n có một mối liên hệ rất mật thiết với ngôi chùa này. Sư bà Diên Trường là em gái của ông nội tôi là cụ Hồ Đắc Trung (Thượng thư bộ Học, Đông Các Đại Học Sĩ, thầy dạy vua Duy Tân, bạn của hai ông Thái Phiên, Trần cao Vân và là người duyệt lại bộ " Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu " một quyển sử quan trọng của Quốc Sử Quán triều Nguyễn ).

Ờ trong Hậu tổ Chùa Trúc Lâm hiện nay vẫn c̣n hai câu đối của ông nội tôi đề tặng khi Thiền sư Giác Tiên viên tịch:
Học hạnh khiêm ưu b́nh tố năng linh nhơn cảnh mộ

Tử sanh vô ngại tu tŕ định hoạch Phật siêu thăng.
(nghĩa : Học hạnh khiêm ưu thường được người ta mến mộ . Sống chết không ngại tu tŕ kết quả Phật siêu thăng).

Vị kế Đông sơn phi cụ nhăn yên minh tổ ư
Pháp khai Nam lĩnh thị mê nhơn bất khế Phật tâm.
(nghĩa : Ngôi nối núi Đông, không mắt tỏ sao rơ ư tổ . Pháp mở rừng Nam, nếu người mê, không hiễu tâm Phật).

Năm 1942 thiền sư Mật Hiển đại trùng kiến chùa theo h́nh chữ khẩu, đưa chánh điện lên phía trước, hai bên là đông đường dùng làm nhà khách và tây đường làm thiền thất. Chánh điện cũ dùng làm nhà hậu để thờ chư vị tiền bối hữu công và hương linh thiện nam tín nữ (trong đó gian giữa có khán thờ ông bà nội và cha tôi).

Năm lên 6 tôi được mẹ cho đi học ở một trường do các Cha cố ḍng Thiên An lập ra ở ngă ba Cầu Lim. Để đến trường có hai con đường, một là đi băng qua chùa Trúc Lâm và hai là phải đi qua một cánh đồng.

Nhà tôi ở là cơ ngơi dinh thự của bác tôi ông Hồ Đắc Khải , thượng thư bộ hộ để lại tọa lạc trên một đỉnh đồi kế cận với đồi Thiên An

Tôi trở lại Trúc Lâm lần cuối vào năm 1952 khi cha tôi qua đời, lúc ấy quân Pháp đóng đồn ở Nam Giao. Chúng ngăn con đường cấm dân chúng không được đi lại qua đồn. Từ Huế muốn lên chùa Trúc Lâm hay lăng Khải Định dân phải đi ṿng núi Bân, Ba Đồn, Tây Thiên  hoặc phải đi ṿng qua Long Thọ. Mẹ tôi phải xin phép viên sĩ quan Pháp để xe chở quan tài của cha tôi được đi ngang qua.

Sau tang lễ chúng tôi rời Huế vào Saigon và 4 năm sau khi ḥa b́nh được tái lâp, chúng tôi trở lại Huế và kể từ đó cuộc sống của tôi gắn liền mật thiết với ngôi chùa này hơn bởi nhiều lư do.

Lần đầu tiên tôi khám phá những điều kỳ diệu của đạo Phật là ở nơi lầu chuông, trong chùa lúc bấy giờ có mấy chú điệu cùng trang lứa với anh em tôi là Lưu Ân và Lưu Phương. Ngày nọ, họ nói với tôi là " sáng mai mồng một Tết rán thức dậy thật sớm, tui sẽ dẫn anh Thiện (tên tôi) lên lầu cho anh gióng chuông, hay và vui lắm".

Đêm đó là đêm 30 tết, tôi ra đứng ngoài sân chùa nh́n về hướng thành phố Huế thấy sáng rực lên một góc trời. Pháo của nhà ai đó ngoài xóm nổ đi đùng vang tới cảnh chùa khiến ḷng tôi cũng nao nao.

Tối thiếp đi cho tới khi bị lay dậy Lưu Ân suỵt môi ra dấu cho tôi đi rửa mặt và thay áo quần, Lưu Phương đi trước cầm cái đèn hột vịt. Ngang qua nhà khách, leo một bậc cấp dọc theo phía đông của nhà Tổ và chánh điện. Lầu chuông có h́nh vuông. ba mặt tường có hoa văn nh́n ra phía ngoài, lối đi vào ăn thông với hành lang của chánh điện. Một quả chuông rất to màu xám xanh được treo trên một giá đỡ bằng gỗ. Mặt ngoài chuông trơn láng gờ lên những hoa văn, so với thân h́nh của tôi lúc đó th́ quả chuông thật vĩ đại. Trên giá đỡ có một sợi dây căng ngang để móc các thẻ tre, cứ mỗi lần dộng chuông th́ kéo một thẻ từ phía nam qua bắc. Chày dộng bằng gỗ rất đơn sơ được treo lên nóc bằng một sợi dây thừng, nghe nói là sư ông đă cho thay cả chục cái chày, cho đến khi lựa được một cái chày vừa ư mà sau này tôi cho là cái chày của sự tỉnh thức v́ chỉ có cái chày đó khi dộng chuông mới tạo ra một âm thanh vô cùng huyền diệu. Một âm sắc có khả năng đưa con người trở về với thanh tịnh tâm. Tiếng chuông phát ra từ cái dộng dầu tiên đă làm cho máu huyết trong cơ thể tôi muốn đảo ngược lên sau đó điều ḥa một cách nhẹ nhàng êm ái, tâm hồn trở nên vắng lặng hư không. Tôi không c̣n ham muốn, ray rứt hoặc giận hờn. H́nh như mọi chuyện đều trở nên đơn giản và thân thiện khi nghe tiếng ngân mơ hồ như từ một cơi ta bà nào đó vọng tới, một thông điệp cuộn tṛn trong những tiếng ngân cuối cùng. Tâm hồn thơ ấu của tôi đang theo sau bước hành thiền của tiếng chuông, tôi đang được tách rời ra khỏi với thế giới hiện tại th́ có tiếng thúc giục của Lưu Ân báo cho tôi biết là đến lúc phải dộng tiếng chuông kế tiếp.

Sau lần được gióng chuông , tôi bắt đầu t́m hiểu những điều bí ẩn trong gian chánh điện là nơi mà tôi ít khi được lên đó một ḿnh hay nói cách khác là tôi không dám lên khi không có ai. Lúc đó tôi chỉ thích cái sàn nhà của chánh điện, nó mát lạnh tuyệt vời mà không phải bất cứ chùa nào ở Huế cũng có được. Chỉ cần nằm lăn lên trên cái sàn nhà đó là hạnh phúc và b́nh an đến với tôi, tôi không c̣n sợ hăi ma quỉ hù dọa, cảm giác như được mẹ ôm vào ḷng, che chở và từ đó thỉnh thoảng nếu thấy không có ai th́ tôi lén chạy lên nằm lăn lên đó cho "đă thèm" ! Một lần tôi bị sư ông bắt gặp, có lẽ sư ông thấy hêt hành động của tôi từ đầu chí cuối, tôi lăn lộn như một chú chó con mừng chủ đi xa trở về, ngụp lặn hạnh phúc trong cơi b́nh an một cách tột độ trước mặt h́nh tượng im lặng trang nghiêm của đức Thế Tôn đang ngự trên ṭa sen. Tôi đă hốt hoảng biết chừng nào khi nhận ra là sư ông đang nh́n ḿnh nằm lăn ra như vậy.

Ngài không nói mà chỉ nh́n tôi đang sợ hăi bối rối đứng lên rồi ngài đến nhẹ nhàng cầm bàn tay nhỏ bé của tôi đang run rẩy dẫn qua phía tây của chánh điện, ṿng ra phía nhà Tổ và chỉ cho tôi ảnh của một người râu ria xồm xoàm vai vác một cây gậy có treo một chiếc giày. Măi đến mấy chục năm sau, tôi mới biết người ấy là ai

Tôi chưa bao giờ kể chuyện sư ông bắt gặp tôi nằm lăn ra sàn nhà  chánh điện với ai. Đó là ảo ảnh, hư cấu hay là một giấc mơ tẩu hỏa nhập ma trong thời thơ ấu của ḿnh để mà suy nghiệm lời của đức Thế Tôn dạy " Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào ảnh như lộ, diệc như điểu, ưng tác như thị quán "

Sư ông đă viên tịch cách đây 10 năm, nhục thân của sư ông không biết bây giờ ra sao, duy chỉ có đôi mắt của và thần cách của sư ông là vẫn c̣n sống măi trong tâm hồn tôi. Cho đến bây giờ đă qua tuổi 60 tôi vẫn c̣n "mơ hồ" về đôi mắt ấy, sự im lặng thiêng liêng, bàn tay âm áp của ngài khi cầm bàn tay nhỏ bé đang run rẫy của tôi và cái mật hiễn mà sư ông chỉ cho tôi h́nh của ngài Bồ Đề Đạt Ma là ǵ tôi cũng đang c̣n "mơ hồ " !

Một năm trước khi sư ông viên tịch, tôi có gặp ngài tại chùa Già Lam và đôi mắt ấy sáng hơn, mạnh mẽ và dữ dội hơn. Những tia sáng từ mắt ngài xuyên thủng mọi mầm mống ác độc, nghi ngờ và đọc ḍ cả một quá khứ ẩn chứa trong tiềm thức của tôi. H́nh như trước đôi mắt của sư ông, tôi không thể dấu diếm, che đậy, ma mănh được bất cứ điều ǵ và cũng trong tia sáng từ đôi mắt ấy tôi t́m được sự b́nh an vĩnh cửu, thảnh thơi và h́nh như sư ông cũng "mơ hồ" không muốn giải mă về hành động của sư ông khi chỉ tay về phía h́nh của ngài Bồ Đề Đạt Ma...

Giếng nước trước và sau lưng chùa, khóm trúc, con suối ṿng vèo, tiếng ngân cuối cùng trong lầu chuông, sàn nhà trước chánh điện, đôi mắt của sư ông và kỷ niệm của những đêm trừ tịch là tất cả những ǵ về chùa Trúc Lâm trong tâm trí tôi.
" Đảnh lễ hay là quỳ lạy th́ cũng vậy thôi , sửa làm chi anh cứ để nguyên như vậy " lời của thầy Trí Quang nói với tôi khi mẹ tôi qua đời lúc bà 92 tuổi .

Mẹ đả có lần nói  " ngồi bên mộ ba tôi , mẹ vẫn c̣n nghe được tiêng chuông chùa Trúc Lâm vọng đến , âm vang của tiếng chuông bay qua núi đồi khe suối len vào những tàng thông già cỗ thụ , vổ về những tia nắng cuối cùng của buổi chiều tĩnh lặng.... "

C̣n đối với tôi chùa Trúc Lâm là hóa thân của đôi mắt sư ông.

Hồ Đắc Duy
 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 01/28/16