Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 
 
Sài G̣n xưa : 45-50
Bài thuyết tŕnh tại trung tâm SAIM
Hội Y Sĩ  Việt Nam và SAIM tổ chức ngày 20  tháng 9, 2003
 
ĐặngTấn Hậu
 
Thông thường, người thuyết tŕnh phải là người nắm vững đề tài; đằng này, tôi xa Saigon hơn 35 năm nên sự hiểu biết của tôi về Saigon rất thiếu sót. Hơn nữa, người thuyết tŕnh phải hiểu biết về đề tài hơn người nghe; đằng này, tôi tin chắc tất cả quư vị biết về Saigon hơn tôi v́ lư do giản dị, quư vị đă từng làm việc và sinh sống lâu năm tại Saigon. Tuy nhiên, người Saigon có câu "tất cả chỉ cần một tấm ḷng". Vợ tôi nấu ăn "ngon hay không ngon" không quan trọng, điều quan trọng là nàng đă đem tất cả tấm ḷng nấu ăn cho chồng con. Cùng thế đó, tôi nói chuyện "hay hay không hay" không quan trọng; điều quan trọng là tôi đem tất cả tấm ḷng nhớ thương Saigon để hầu chuyện cùng với quư vị.
 
Lúc đầu, tôi định thuyết tŕnh về đề tài Saigon từ 45 đến 75; tôi thấy đề tài quá rộng, thời giờ không cho phép nên tôi giới hạn đề tài lại từ 45 đến 50; nhưng tôi vẫn thấy đề tài quá dài; do đó, bài nói chuyện ngày hôm nay chỉ tŕnh bày "một vài sự việc xảy ra tại Saigon từ 45- 50".
 
Muốn hiểu về Saigon từ 45 đến 50, chúng ta cần ôn lại t́nh h́nh trước 45 và một chút về địa lư; do đó, bài nói chuyện chia làm 3 phần:
 
Địa lư;
Trước 45;
45- 50
 
ĐỊA LƯ
 
Saigon là một trong ba thành phố quan trọng của Việt Nam. Ngày xưa, người dân Saigon là người dân Ngũ Quảng (Quảng B́nh, Quảng Trị, Quảng Đức tức là "Thừa Thiên", Quảng Nam, Quảng Ngăi), về sau có thêm Khánh Ḥa nên Saigon có câu:  
làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân đă trăi, Đồng Nai đă từng
 
Ngày nay, những người có ông bà, cha mẹ sinh sống lâu năm tại Saigon không c̣n bao nhiêu; đa số người dân Saigon là những ngươi sinh từ nơi khác và đến Saigon lập nghiệp.
 
Phía đông Saigon có cửa Cần Giờ; từ cửa này, nước chảy ngang sông Ḷng Tảo và chảy vào Saigon tách ra làm hai nhánh : một nhánh trở thành sông Đồng Nai, một nhánh thành sông Bến Nghé. V́ vậy, Saigon có câu :
 
Sài G̣n, nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai th́ về.
 
Vào thế kỷ thứ 18 vua Quang Trung đă hai lần đánh chúa Nguyễn (4/1782 và 3/1783), ở Saigon từ cửa Cần Giờ và quân Pháp đánh vào Saigon cũng từ cửa này.
 
Ngày xưa, Saigon có tên Bến Nghé (người miền nam gọi trâu con là con nghé, bến là băi; bến nghé là băi nước có nhiều trâu con tắm). Người Pháp không đọc được chữ Bến Nghé nên họ lấy tên củ của Chợ Lớn là Saigon gọi cho dễ. Saigon phiên âm từ tiếng Tàu là « thầy ngồn » tức là đề ngạn; có nghĩa là bờ ngăn nước v́ Chợ Lớn có nhiều sông rạch, nhiều bờ đê ngăn nước.
 
Sông Ḷng Tảo có khu Rừng Sác nước mặn. Sác là danh từ chung để chỉ các loại cây sống ở vùng nước mặn. Vùng này c̣n có tên là chiến khu nổi của Việt Cộng. Ngày xưa chỉ những người trốn thuế, thiếu nợ đến đây sinh sống như B́nh Xuyên và Việt Minh.
 
Cộng sản đă từng ẩn núp ở Rừng Sác để đánh phá các tàu bè di chuyển trên sông Ḷng Tảo nhất là chúng đă chuyển vũ khí từ nơi đây về Saigon để bắn phá. Thí dụ, năm 1966, chúng đă di chuyển 2 khẩu đại bác từ Rừng Sác về Thủ Đức và pháo vào lễ đài khi thủ tướng Nguyển Cao Kỳ đọc diễn văn nhân ngày lễ Quốc Khánh 1/11/66.
 
(Điều cần nhớ là nước Saigon mặn; đôi khi dân Saigon đào giếng gặp mạch nước ngọt; đất Biên Ḥa có nước ngọt nên người Trung Hoa tin đất Biên Ḥa là đất phong thủy, họ chọn đất Biên Ḥa để ở và gọi Biên Ḥa là Cù Lao Phố. Vào thếù kỷ 19, Trần Thắng Tài chống nhà Thanh bên Tàu mới di dân về Biên Ḥa lập nghiệp cũng như Dương Ngạn Địch đến Mỹ Tho và Mạc Cữu đến Hà Tiên).
 
V́ đa số người Miên thích sống ở vùng đất cao như Phú Lâm và người Việt Nam thích ở vùng đất thấp, gần sông ng̣i như Chợ Lớn và Saigon nên các quan lại Việt Nam mới cho di dân Trung Hoa từ Biên Ḥa về Chợ Lớn để làm trái độn giữa người Việt và người Miên nhằm tránh xung đột. V́ thế, quận 5 ở Chợ Lớn có hơn 500, 000 người Việt gốc Hoa.
 
Phía tây Saigon có các thành phố như Tây Ninh, Lộc Ninh gần biên giới Cao Miên; nơi đây có các khu rừng gọi là chiến khu Đ, chiến khu C và chiến khu Dương Minh Châu. Mặc dù rừng không dầy đặc như các nơi khác nhưng v́ có các cây cao su cao làm cho máy bay không thấy địch quân núp phía dưới. Hơn nữa, cộng sản có lợi thế đánh phá các thành phố gần biên giới, rồi chạy sang Cao Miên lẫn trốn. Tổng hành dinh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đặt tại Tây Ninh năm 1960. (Với chính sách vắt chanh bỏ vỏ,  cộng sản cho giải tán MTGPMN sau 75).
 
Gần Saigon có khu Tam Giác Sắt (Trảng Bàng, Củ Chi, Bến Cát); đây là chiến khu ch́m của cộng sản v́ cộng quân đào hầm và ẩn núp phía dưới. Chiến khu này đă có từ năm1945. Nói theo phong thủy, Tam Giác Sắt có tên là « đích đĩ » giống như đ̣n dông chỉa thẳng vào nhà gây cho chính phủ Saigon rất nhiều khó khăn. Có lẽ cũng v́ lư do này, chính phủ cộng sản ngày nay chỉ dám vào Saigon để « vào, vơ, vét, về » chứ không dám ở lại Saigon.      
 
V́ nhận thấy tầm quan trọng của chiến khu nổi (2/46) và chiến khu ch́m (10/47) nên Pháp đă t́m cách b́nh định hai chiến khu này trong khoảng thời gian 45- 50.  Sau 75, biết tầm quan trọng của biên giới và ven đô Saigon nên chính phủ cộng sản mới đánh qua Cao Miên để bảo vệ biên giới (ngăn ngừa các kháng chiến quân) và mở rộng ven đô thành phố để dể bề kiểm soát dân chúng Saigon; do đó, từ 11 quận trước 75; bây giờ, Saigon có 12 quận nội thành và 6 huyện ngoại thành gồm có B́nh Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè và Cần Giờ.
 
CHÚA NGUYỄN ĐẾN 1945
Chúa Nguyễn Phúc Ánh chiếm thành Gia Định và cho xây Quy Thành (1789) rất kiên cố để  chống lại nhà Tây Sơn. Thành này có h́nh Bát Quái và kiến trúc theo kiểu thành Vauban của Pháp do ông Olivier de Puymanel vẽ kiểu, coi xây cất nên thành này c̣n có tên là thành Vauban; đây có thể kể là sự hài ḥa giữa đông-tây; điều đáng tiếc là vua Minh Mạng ghét Tả Quân Lê Văn Duyệt nên khi Tả Quân mất th́ vua Minh Mạng đem quân đánh dẹp con nuôi của Tả Quân là Lê Văn Khôi và cho phá hủy Quy Thành. Thật đáng tiếc!
 
13 năm sau (6/1802), chúa Nguyễn Phúc Ánh chiếm Huế, lên ngôi xưng hiệu là Gia Long (từ Gia Định đến Thăng Long) và một tháng sau là ông chiếm được thành Thăng Long. Vua Gia Long xin vua nhà Thanh phong cho ông làm vua nước An Nam, nhưng vua nhà Thanh sợ ông chơi chữ An Nam bao gồm luôn hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây nên phong cho ông làm vua nước Việt Nam (từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau). Vua Gia Long chia nước Việt Nam ra làm ba miền để dể cai trị : Gia Định Thành, Kinh Kỳ và Bắc Thành; chứ không phải người Pháp đă phân chia nước Việt Nam ra làm ba kỳ như một số người đă lầm tưởng.
 
Từ vua Gia Long đến hai đời vua kế tiếp là Minh Mạng (1820- 1841) và Thiệu Trị (1841- 1847), các cường quốc tây phương để cho Việt Nam yên v́ họ lo cấu xé, phân chia các thuộc địa lớn như Trung Hoa và Ấn Độ. Đến đời vua Tự Đức, các cường quốc bắt đầu ḍm ngó đến các thuộc địa nhỏ, thí dụ, Tây Ban Nha chiếm Phi Luật Tân (vua Tây Ban Nha lấy tên của đứa con là Philip đặt tên cho xứ Philippine) và Pháp chiếm Việt Nam.
 
Sau khi vua Tự Đức kư hai ḥa ước Bonard (5/6/1862) và Dupré, vua Tự Đức nhường cho Pháp ba tỉnh miền đông, rồi ba tỉnh miền tây Nam Kỳ; sau đó vua Tự Đức kư ḥa ước Patenôtre (6/6/1884) nhận sự bảo hộ của Pháp. Bắt đầu từ bây giờ, công dân Việt Nam chia ra làm ba hạng : dân Pháp, dân thuộc địa và dân bảo hộ. Người miền trung và miền bắc thuộc về dân bảo hộ tức là chịu dưới hai đạo luật của Pháp và Việt Nam; tất nhiên đời sống khó khăn hơn người miền nam có quốc tịch Pháp và quốc tịch thuộc địa (1) .
 
Mặc dù vua Việt Nam đă nhường miền nam cho Pháp nhưng các sĩ phu miền nam vẫn nổi lên chống Pháp và chê trách những người làm tay sai cho Pháp. Thí dụ, cụ Phan Văn Trị trả lời cho ông Tôn Thọ Tường theo Pháp như sau:
 
ai về nhắn với Châu Công Cẩn                                 anh hỡi! Tôn Quyền, anh có biết?
thà mất ḷng anh, đặng bụng chồng                         trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng
(Tôn Thọ Tường)                                                       (Phan Văn Trị)
 
miệng cọp, hàm rộng, chưa dể chọc,                        đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ,
khuyên đàn con trẻ, chớ thày lay                             ḷng ta sắt đá, há lung lay
(Tôn Thọ Tường)                                                       (Phan Văn Trị)
 
Công việc đô hộ đang tiến hành th́ thế chiến thứ hai bùng nổ, ba nước Đức-Ư- Nhật tạo thành ba trục phân chia thế giới. Nhật chiếm Saigon năm 1940; từ đó, lấy bàn đạp đánh qua các quốc gia Mả Lai, Nam Dương v.v. để lấy dầu hỏa, cao su. Đầu năm 44, Mussolini (Ư) bị giết, đầu năm 45, Hitler (Đức) tự tử. Nhật đơn phương một ḿnh đánh lại đồng minh. Nhật đảo chánh Pháp ở Việt Nam (3/45) và trao trả độc lập cho Việt Nam do vua Bảo Đại lănh đạo.
 
(điều cần nhớ, Nhật trao trả độc lập cho Việt Nam gồm có miền bắc và miền trung nhưng không có miền nam v́ theo quốc tế công pháp, vua Việt Nam đă nhượng miền nam cho Pháp y như cộng sản đă nhượng một vài lănh thổ Việt Nam cho Trung Cộng ngày nay).
 
Vua Bảo Đại lên ngôi và trao trọng trách cho Ô. Trần Trọng Kim thành lập chính phủ, lấy quốc thiều « Đăng Đàn Cung» và quốc kỳ là cờ quẻ ly (cờ vàng, hai sọc dài và 1 sọc đứt ở giữa), tượng trưng cho lửa (nước Việt sáng chói khắp năm châu).
 
Nạn đói xảy ra tại miền bắc Việt Nam, chánh phủ Trần Trọng Kim tổ chức cứu đói ở Huế và bác sĩ Nguyễn Văn Thinh tổ chức Hội Cứu Đói tại Saigon để chở lúa gạo ra miền bắc. Tháng 6/45, lúa trúng mùa tại miền bắc; tháng 7/45, nạn đói chấm dứt. Tháng 8/45, Hồ Chí Minh, điệp viên cộng sản do Nga Sô đào tạo, nhảy lên cướp chánh quyền tại Ba Đ́nh, Hà Nội, thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, cờ đỏ sao vàng và quốc ca là Tiến Quân Ca của Văn Cao (về sau, Văn Cao bị tố khổ trong vụ Nhân Văn / Giai Phẩm). Vua Bảo Đại từ chức. (lúc này, Hồ Chí Minh vẫn c̣n nằm dưới chiêu bài Việt Minh và tuyên bố tranh đấu giành độc lập cho Việt Nam; mặc dù nước Việt Nam đă độc lập; nơi đây; danh từ Việt Minh được hiểu là cộng sản Việt Nam).
 
Hoa Kỳ thả hai trái bom nguyên tử tại Hiroshima (6/8/45) và Nagasaki (9/8/45), Nhật đầu hàng. Hoa Kỳ gởi quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng tới Hà Nội để giải giới quân đội Nhật và quân đội Anh tới Saigon; đặc biệt có các đảng phái quốc gia Việt Nam đi theo quân đội THQDĐ về Hà Nội và quân đội Pháp đi theo quân đội Anh đến Saigon.
 
Hồ Chí Minh sợ THQDĐ ủng hộ các đảng phái quốc gia Việt Nam nên ông tổ chức tuần lễ vàng và đồng để kêu gọi dân chúng đưa ṿng vàng cho ông để ông hối lộ cho các tướng Tàu là Lữ Hán và Tiêu Văn để ông được cầm quyền. Đồng thời, ông kư hiệp ước sơ bộ với Pháp, tiếp theo là hiệp ước Fontainebleau nh́n nhận chủ quyền của Pháp tại Việt Nam và xin Pháp cho ông được lănh đạo tại Việt Nam (Hồ Chí Minh gọi các hiệp ước này là bản án tử h́nh của ông v́ chứng minh ông sẵn sàng bán nước để được cầm quyền).
 
(Điều cần nhớ Hồ Chí Minh cướp chính quyền từ vua Bảo Đại và trở thành đại diện cho Việt Nam gồm có miền trung và miền bắc, như đă tŕnh bày ở trên, trên mặt pháp lư, miền nam vẫn c̣n là thuộc địa của Pháp).
 
V́ Anh Quốc đồng cảnh ngộ với Pháp về vấn đề thuộc địa nên Anh Quốc ủng hộ tướng Charles de Gaulle tái chiếm miền nam Việt Nam dưới chiêu bài Liên Hiệp Pháp và rút quân ra khỏi Saigon. Tướng De Gaulle ra lệnh tướng Leclerc chiếm Saigon; đồng thời, Pháp kư hiệp ước tại Trùng Khánh (28/2/46) trả các nhượng địa như Thượng Hải, Thiên Tân  v.v. cho Trung Hoa Quốc Dân Đảng; đổi lại, THQDĐ nh́n nhận chủ quyền của Pháp ở Việt Nam và rút quân ra khỏi Việt Nam. Như vậy, chỉ c̣n quân đội Pháp ở lại Việt Nam vào thời điểm 45/46.
 
SAIGON: 45-50
 
Thời kỳ 45- 50 là thời kỳ xáo trộn nhất ở Saigon, chỉ hơ hỏng một chút là người dân Saigon có thể bị bắt đi ṃ tôm (bị giết), lănh lựu đạn hay ḿn xe đạp (ḿn được gắn trong xe đạp). Mạng sống của người dân Saigon như rơm, như rác v́ bất cứ ai cũng có thể giết được. 
Lần lược, chúng ta thử nh́n lại Saigon trong khoảng thời gian 45- 50 qua các khía cạnh chính trị, quân sự, xă hội, kinh tế và tôn giáo.
 
Chính Trị
 
Nhằm mục đích chống lại cộng sản Liên Sô, Hoa Kỳ chủ trương băi bỏ chính sách thuộc địa trên thế giới; do đó, Pháp trở lại Việt Nam dưới chiêu bài Liên Hiệp Pháp (thay v́ chế độ thuộc địa); cũng như Anh Quốc với Liên Hiệp Anh. Tuy nhiên, v́ nền kinh tế hậu chiến của Pháp yếu nên Pháp bắt buộc trao trả độc lập cho Việt Nam; nói theo danh từ 72- 75 là Việt Nam Hóa, rút lui trong danh dự.
 
Việït Minh (cộng sản) có chủ đích chính trị rất rỏ ràng là dùng mọi thủ đoạn để giành độc quyền lănh đạo như cướp chánh quyền, hối lộ các tướng Tàu, nh́n nhận chủ quyền Pháp tại Việt Nam (hiệp ước sơ bộ hay Fontainebleau) hay giết những người Việt quốc gia yêu nước;  thí dụ Trần Văn Giàu (CS) giết Dương Văn Giáo (QG) tại Phú Lâm v.v.
 
Từ trước tới nay, chủ đích của người quốc gia vẫn là tranh đấu « giành độc lập » chống Pháp. Khi bị Việt Minh đàn áp, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh mới thành lập Quốc Gia Nam Kỳ (Nam Kỳ Quốc) đ̣i hỏi một chút tự do cho người miền nam và không nh́n nhận Hồ Chí Minh lănh đạo miền nam Việt Nam. Khi Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam, chính phủ Nam Kỳ Quốc tự động giải tán và gia nhập vào chính phủ quốc gia do vua Bảo Đại lănh đạo, quốc kỳ là cờ vàng ba sọc đỏ và quốc thiều « Thanh Niên Hành Khúc » của Lưu Hữu Phước, cựu học sinh trường Pétrus Kư ở Saigon, viết lời và đặt nhạc khi ông c̣n là người quốc gia.
 
(Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh là người đă đứng ra thành lập Hội Cứu Đói chở lúa gạo từ Saigon ra miền bắc; ông cùng một số nhân sĩ  tại Saigon đứng ra thành lập xứ Nam Kỳ Quốc (République de Cochinchine)  không chấp nhận Hồ Chí Minh lănh đạo miền nam Việt Nam. (Ông Hồ Biểu Chánh làm đổng lư văn pḥng cho chính phủ Nam Kỳ Quốc). Nam Kỳ Quốc lấy quốc kỳ cờ vàng ba sọc xanh, tượng trưng cho sông Đồng Nai, Tiền Giang và Hậu Giang và quốc thiều là bốn câu đầu trong Chinh Phụ Ngâm Khúc).
 
Quân Sự
 
Khi toàn dân Saigon nổi lên chống Pháp (2) trở lại Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ thị cho Hoàng Quốc Việt vào Saigon để ra lệnh cho Việt Minh hợp tác với Pháp (3) và tiêu diệt người quốc gia, B́nh Xuyên (đồng minh của họ) và các giáo phái. Thí dụ,
 
Dương Văn Giáo bị Trần Văn Giàu giết chết tại Phú Lâm;
Việt Minh giết chết Đức Huỳnh Phú Sổ và hàng ngàn tín đồ Ḥa Hảo;
Việt Minh dụ Bảy Viễn về Đồng Tháp Mười để giết và tiêu diệt lính B́nh Xuyên tại Rừng Sác;
Việt Minh giết các cán bộ cộng sản đệ tứ quốc tế thuộc nhóm Trostsky;
Việt Minh giết trên 40,000 tín đồ Cao Đài từ 45- 54.
 
Việt Minh chỉ chống lại Pháp khi Pháp không công nhận Hồ Chí Minh đại diện cho Việt Nam, nhất là từ khi Mao Trạch Đông đánh thắng Tưởng Giới Thạch tại Trung Hoa Lục Địa và viện trợ ồ ạt cho Việt Minh sau 49. Tướng cộng sản Nguyễn B́nh cho thành lập ban ám sát, khủng bố tại Saigon. Sau khi hệ thống ám sát của Nguyễn B́nh bị ông Nguyễn Văn Tâm phá hủy, Nguyễn B́nh mới áp dụng chiến thuật thí quân « tổng tấn công » khắp miền nam nhưng bị tướng Chanson đem quân chính quy tiêu diệt. Nguyễn B́nh bị Hồ Chí Minh triệu về bắc giết chết v́ Nguyễn B́nh đă thí hàng vạn quân cộng sản mới đào tạo trong nam (y như cộng sản đă thí quân tổng tấn công vào Tết Mậu Thân 1968).
 
Khi Pháp mới trở lại Saigon, Pháp chủ trương thương thuyết với Việt Minh nhằm mục đích chờ các sư đoàn viễn chinh từ phương xa đến Saigon (đại tá Cédille thương thuyết với bác sĩ Phạm Ngọc Thạch � người thành lập nhóm Thanh Niên Tiền Phong tại Saigon-). Với chiến thuật « ngư ông đắc lợi », Pháp chờ Việt Minh tiêu diệt những người quốc gia, B́nh Xuyên, Cao Đài, Ḥa Hảo v.v. tất nhiên các nhóm này sẽ về hợp tác với Pháp nhất là khi Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam. Sau đó, Pháp mới b́nh định Saigon, các vùng ven đô Saigon (chiến khu ch́m và chiến khu nổi) và tiêu diệt cộng sản tại miền nam Việt Nam do Nguyễn B́nh lănh đạo; do đó, Saigon rất yên tỉnh trong khoảng thời gian 51-54.   
 
Sau khi Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam, chính phủ quốc gia do vua Bảo Đại lănh đạo, với sự phụ tá của thủ tướng Trần Văn Hữu chuyên về kinh tế và giám đốc mật vụ Nguyễn Văn Tâm (ông Tâm là người có công phá vở toàn bộ hệ thống ám sát của Nguyễn B́nh tại Saigon).  
 
45- 50 là thời gian có nhiều « ngôi sao » xuất hiện tại Saigon như Nguyễn B́nh (cộng sản), Bảy Viễn (B́nh Xuyên), Nguyễn Văn Tâm (quốc gia)....
 
Nguyễn B́nh là người Việt Nam Quốc Dân Đảng, bị Pháp bắt và bị cộng sản đệ tam chiêu dụ trong nhà tù; ông làm ăn-ten cho Pháp và bị người quốc gia đánh hư một mắt. Ông được cử vào Saigon và thành lập ban ám sát. Khi ban ám sát bị ông Tâm phá vở, Nguyễn B́nh thực hiện tổng tấn công khắp miền nam nhưng thất bại; ông bị triệu về bắc và bị Việt Minh giết chết về tội thí quân.
 
B́nh Xuyên là băng đảng ăn cướp do Ba Dương thành lập theo tinh thần lấy của người giàu giúp người nghèo. Ba Dương bị Việt Minh giết chết. Bảy Viễn là tay em trở thành thủ lănh B́nh Xuyên cộng tác với Việt Minh. V́ người cộng sản không bao giờ chấp nhận người không phải đảng viên được nỗi tiếng nên Nguyển B́nh dụ Bảy Viễn về Đồng Tháp Mười để dự lể tấn phong Bảy Viễn lên làm tham mưu trưởng quân khu 7. Nguyễn B́nh cho người giết Bảy Viễn tại Đồng Tháp Mười và lực lượng B́nh Xuyên tại Rừng Sác. Bảy Viễn trốn thoát, đầu quân theo vua Bảo Đại được phong chức đại tá và đống quân tại cầu Chữ Y.
 
Nguyễn Văn Tâm có biệt danh là hùm xám Cay Lậy. Tướng của ông ốm, nhỏ người nhưng không sợ Việt Minh (il est petit mais dur). Sau khi Nguyễn B́nh giết tên Bazin, chánh sở mật thám của Pháp trên đường Catinat, ông Nguyễn Văn Tâm lên thay thế. Ông có công phá vở toàn bộ hệ thống cộng sản tại Saigon; tuy nhiên ông chỉ có khả năng ở chức vụ mật thám nên ông không thành công lắm khi lănh chức vụ thủ tướng (chính trị).
 
Xă Hội
 
Sau thế chiến thứ hai, không ai dám đầu tư vào nhà đèn, Saigon bị cúp điện liên miên (v́ hệ thống nhà đèn quá củ kỷ); hệ thống điện thoại c̣n tệ hơn nữa. Nước ở Saigon mặn nên thỉnh thoảng ai đào được mạch nước ngọt, họ có thể lấy nước để bán nên Saigon có hiện tượng gánh nước. Xe buưt hư hao, xe taxi không có đồng hồ; phương tiện di chuyển vẫn là xe cyclo và xe thổ mộ (xe ngựa). 
 
Ngoài các dinh thự lớn không kể, gia đ́nh bậc trung ở Saigon sống dọc theo các đại lộ và các gia đ́nh nghèo sống ở khu nhà lá, śnh lầy nước động.
 
T́nh h́nh bên ngoài trong có vẻ yên tỉnh, các quan tây-việt thường bách phố trên đại lộ Catinat, gặp nhau ngả nón chào rất lịch sự. Các nhà hàng Pagode, Bodega hay Galerie de l�Eden v.v. ở Saigon hay các vũ trường Paradis, Arc-en-Ciel ở Chợ Lớn luôn luôn tấp nập người. Thực ra, bên trong là dầu sôi lửa bỏng v́ không biết ai làm điềm chỉ viên (informateur), cộng sự viên (collaborateur), gián điệp, t́nh báo, phản gián, làm việc cho Pháp, cho Việt Minh, công an, giáo phái  (Cao Đài, Ḥa Hảo) hay băng đảng (B́nh Xuyên). Chỉ cần một lời nói vô t́nh hay biết « bí mật » của người khác là có thể bị đi ṃ tôm.
 
Người ngoại quốc rất ngạc nhiên khi đến Saigon, họ thấy người ăn xin đánh đáo ngoài đường; bác phu đạp cyclo ngồi ăn cơm bên lề đường, ngủ trưa trên xe cyclo hay uống ba xi đế giữa trưa hè; điều này cho thấy không có nạn đói tại Saigon.
 
Kinh Tế
Mặc dù bị chiến tranh, tiền đông dương rất vững lúc bây giờ; thí dụ, $1 đồng đông dương bằng 17 quan Pháp; lương/ một tháng của ông đốc phủ sứ là $100 đồng đông dương.  Tất cả mọi người đến Saigon để làm giàu.
 
Có thể nói tiền tệ ở Đông Dương do Saigon quyết định và nằm trong tay 50 người; họ gặp nhau hằng tháng tại khách sạn Continental để định giá lên xuống. Đó là chủ các ngân hàng, mại bảng (comprador), hăng xưởng, chính quyền v.v.; thí dụ :
 
Ngân hàng Banque d'Indochine, Franco Chinois;
Nhà xuất nhập cảng Denis Frères;
Đồn điền Terre Rouge, Locninh, Michelin;
Các nhà thương mại BGI, Tabac
Các tay tài phiệt Franchini, linh mục Moreau (Trésorier des Missions Etrangères en Indochine).
Các chính khách Việt Nam như thủ tướng Trần Văn Hữu, Nguyễn Đệ (lo về tài chánh cho vua Bảo Đại).
Có khoảng 3,500 người Pháp và người Hoa tại Saigon-Chợ Lớn làm ăn nhỏ hơn; thí dụ,
 
Người Pháp đảo Corse (Franchini, Andreani) là những tên thủy thủ đến Saigon mở nhà hàng (Croix Bleue), khách sạn (Continental) chuyên về chuyển tiền, mua bán á phiện, vũ khí, buôn bán chợ đen với người Hoa ở Chợ Lớn mà người Pháp gọi là ngân hàng Trung Hoa (banque chinoise).
 
Ngân hàng Tàu chuyên môn chuyển tiền chợ đen, súng ống bất hợp pháp qua các cái bang ở Hồng Kông (chuyên về băng đảng), Macao (cờ bạc) hay Tân Gia Ba (hàng hóa); đặc biệt các ngân hàng này không có nhân viên, bảng hiệu hay kế toán; tất cả dịch vụ dựa trên lời nói và chử tín v.v..
 
Ngoài ra, đại đa số làm ăn nhỏ như các ông c̣, cảnh sát, băng đảng làm tiền, hay Việt Minh hăm dọa thủ tiêu. Hoặc một số công chức, cô giáo chuyển tiền ra ngoại quốc; thí dụ đổi tiền đông dương ra tiền quan Pháp để mua vàng bên Pháp, rồi gởi vàng về Saigon để bán kiếm lời 100%  v.v..
 
Sau chiến tranh, các tổ chức đều cần tiền nên khi thủ hiến Trần Văn Hữu đề nghị thành lập Đại Thế Giới ở Chợ Lớn th́ tất cả, bạn cũng như thù, kể cả Việt Minh, đều hoan nghinh. Ông Lam Giong, người Macao luôn luôn trúng thầu. Ông trả thuế mỗi ngày $400,000 đồng đông dương cho chính phủ Trần Văn Hữu và ít nhất là $1 triệu đồng đông dương cho các tổ chức Việt Minh, Pháp, vua Bảo Đại, B́nh Xuyên; đó là chưa kể các số tiền trả cho công an và các tay em bảo vệ ṣng bài.
 
Lam Giong c̣n có sáng kiến tổ chức sổ đề (36 con hay 40 con); mua $1 đồng, ăn $30 đồng. Mỗi ngày, có người đi xuống tận hang cùng ngỏ hẻm bán sổ đề để vét tiền dân chúng. Cuối ngày, người của Lam Giong thâu lại và xem con nào được mua nhiều th́ họ cho sổ con ít được người mua tại Đại Thế Giới. Thí dụ, ai cũng mua con chuột th́ họ tuyên bố con dơi thắng (4).
 
Bảy Viễn được vua Bảo Đại ủng hộ nên ông cho bắt người của ông Lam Giong. Ông này phải bỏ của, chạy về Macao để lấy thân. Bảy Viễn lên làm chủ Đại Thế Giới. Ông chỉ trả tiền cho vua Bảo Đại và chấm dứt trả tiền bảo vệ cho các phe nhóm, kể cả Việt Minh. Ông c̣n mở thêm xóm điếm B́nh Khang và hăng làm thuốc phiện. (5). Về sau, ông mua luôn chức tổng giám đốc cảnh sát công an tại Saigon.   
 
Tôn Giáo
Saigon là vùng đất mới, tánh t́nh người dân chất phát dể chấp nhận nhiều chủ thuyết khác nhau nên Saigon có nhiều tôn giáo. Thí dụ,
 
Đạo Phật và đạo ông bà;
Thiên Chúa giáo;
Phật Giáo Ḥa Hảo (Huỳnh Phú Sổ);
Đạo Cao Đài (Ngô Văn Chiêu, Nguyễn Văn Trung, Phạm Công Tắc);
Đạo Bà La Môn (Ấn Độ Giáo)
Tín ngưỡng thờ thần (thờ bà Thiên Hậu, Đức Quang Đế)
Đạo vô thần (cộng sản) thờ Stalin, Mao Trạch Đông; sách của Mao Trạch Đông, Karl Marx là quyển kinh nhật tụng của cán bộ cộng sản. (người cộng sản khóc cha, khóc mẹ, không bằng khóc Stalin).     
 
Đặc biệt có hai tôn giáo xuất phát từ miền nam là đạo Ḥa Hảo và đạo Cao Đài.
 
Đạo Ḥa Hảo do Đức Huỳnh Phú Sổ sáng lập. Đức thầy là người ốm yếu, thường hay bệnh hoạn; ông lên núi Thất Sơn tu; ông hết bệnh và xuống núi trị bệnh cho bá tánh. Lời dạy của ông mộc mạc, dể hiểu. Ông không chủ trương xuất gia và giáo lư đặt trọng tâm trên Tứ Trọng Ân. Mặc dù lời dạy dựa trên giáo lư đạo Phật nhưng kinh điển của Phật Giáo Ḥa Hảo không phải là Tam Tạng Kinh của Phật giáo.
 
Đạo Cao Đài lấy cơ bút ghi lại lời dạy của đấng vô h́nh. Cơ bút gồm hai chử « cơ » và « bút » ghép lại; cơ đọc theo âm từ tiếng Pháp là coeur v́ có h́nh trái tim, bút là cây viết; nếu dịch ra tiếng Pháp là corbeil à bec. Đạo Cao Đài tin thượng đế (Đức Cao Đài) dạy đạo qua ba thời kỳ (Tam Kỳ Phổ Độ) :
 
Thời kỳ thư nhất là Phật Nhiên Đăng, Abraham, Moise,
Thời kỳ thứ hai là Đức Phật Thích Ca, chúa Jesus, Mohamed,
Thời kỳ thứ ba do chính Đức Cao Đài (thượng đế) chỉ dạy qua cơ bút.
 
Đạo Cao Đài chủ trương tổng hợp tất cả giáo lư và thờ tất cả các vị giáo chủ như Phật Thích Ca, Đức Lăo Tổ, Đức Khổng Tử, Chúa Jésus, Đức Mohamed,  các ông Tôn Dật Tiên, Victoire Hugo, Lư Thái Bạch v.v.. Điều cần biết là tất cả lời dạy đều dựa trên cơ bút và không dựa trên kinh điển như Tam Tạng Kinh (Phật Giáo), Bible (Thiên Chúa giáo), Koran (Hồi giáo), Đạo Đức Kinh (Lăo giáo),

 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 04/17/15