Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
 
Ẩm Thực
Cảm Nghĩ
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 
   
  TẢN MẠN QUA MẤY CÂU CA DAO.
Kính gửi Tếu-Tử, Trúc-Lang, Ngọc-Dung…
Những người c̣n nặng ḷng với ca-dao.
Nguyễn Phú Long


Ca-dao Việt-Nam là một thể loại văn-chương b́nh dân đại chúng, phần nhiều không dài, thường chỉ cần hai câu lục bát cũng đủ nói lên điều thiết yếu.

Không rơ bắt đầu từ thời nào, ai là kẻ xướng xuất, thể này thông dụng khắp bờ cơi, từ ải Nam quan đến mũi Cà-Mâu, có thể từ thời Hùng Vương mở nước, từ khi có tiếng nói… đến măi bây giờ và chắc chắn c̣n kéo dài về sau, không hẹn mà cùng nhau, những kẻ tao nhân mặc khách, hàng dân giả đa t́nh mở miệng thành vần, buông lời hợp điệu tạo ra những câu lục bát tả t́nh tả cảnh, nêu lên những h́nh ảnh để gửi gấm tâm sự, ước mơ, tràn lan trong không gian và thời gian .
Đúng như mọi người đều đồng ư nó mang tính cách trữ t́nh, tươi vui, nhiều khi đi đến hài hước, ơng ẹo, ỡm ờ, dí dỏm, b́nh dị, tuy dễ hiểu, nhưng cũng có đôi khi lắt léo, chữ dùng tùy địa phương kể luôn tiếng lóng.

Một điều không chối căi được là thể thơ lục bát ngày nay vốn có nguồn gốc trong ca dao dân gian từ xa xưa để dần dần đă trở thành thể thơ đặc biệt dân tộc Việt-Nam khắp thế giới chẳng t́m đâu ra. Thể thơ này không có trong chương tŕnh học vấn thuở trước, không ai dậy ai nhưng chắc chắn đă là người Việt-Nam th́ thể nào trong đời cũng ít nhất có đôi dịp làm một vài câu thơ lục bát và lục bát càng về sau càng được các tác giả thơ nôm chau chuốt thêm như Tản-Đà chẳng hạn, nên khi đề cập tới Tính Dân Tộc Trần Ngọc Vượng đă nhận xét “ Đến Tản-Đà lục bát mới hoàn chỉnh.” ; C̣n Phan Văn Diêu trong bài Ngôn Ngữ và Giọng Điệu Thơ… cũng đồng ư như thế khi viết “ Sau Nguyễn-Du có lẽ Tản-Đà là nhà thơ lục bát đặc sắc nhất.” thật là một điểm đáng hănh diện. Tuy nhiên cần lưu ư một điều là theo nhà ngôn ngữ học Nguyễn-hưng-Quốc, trong tác phẩm Thơ,…VV…và VV… thơ lục bát là thơ lục bát, ca dao là ca dao, thật hăn hữu mới có trường hợp nhầm lẫn: như hai câu thơ của Bàng Bá Lân mà ít lâu có người cứ tưởng là ca dao:

Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

Tuy xưa kia lục bát không có trong trương tŕnh học vấn, tuy đă là người Việt-Nam ai nấy đều có hơn một lần là tác giả một vài bài thơ lục bát, song ngày nay muốn làm thơ lục bát cũng có những luật lệ cần theo với những biến thể được giải thích viết thành sách một cách cặn kẽ cho người ham học dễ bề nghiên cứu.

B́nh: hai, sáu, tám. Trắc tư
Phải lo giữ trọn kỳ dư mặc t́nh
Bằng không giữ được cho tinh
Hai trắc bốn b́nh thế lại càng xuôi…

Mấy câu trên có thể là thâu gọn cách làm lục bát căn bản trích từ cuốn sách SƠ LƯỢC về THỂ LỤC BÁT của Phạm văn Hải, in lần thứ hai 1994. ở miền đông Hoa-kỳ.
Như vậy tóm tắt, thử hỏi ca dao là ǵ nếu không phải lời ca tiếng hát của làng xóm thôn quê nước ta trải dài qua lịch sử giống ṇi. Ca-dao sử dụng hoàn cảnh nào, nơi nào cũng được, nó rất giầu nhạc tính, không cần âm nhạc phụ họa. ( Thuyết-Văn: Dao đồ ca ṭng ngôn nhục thanh.). Người Việt-Nam thuở trước cả nam lẫn nữ thuộc ca dao rất nhiều, theo thiển ư không phải chỉ là để hát lên cho vui trong lúc làm việc mệt nhọc qua các điệu ḥ, lư, ru con…và phổ thông nhất là trong các điệu hát quan họ để giải trí trong những dịp hội hè lễ tết…tổng cộng có thể lên tới mấy ngàn điệu dân ca rải rắc khắp thôn cùng ngơ hẻm. C̣n một điều thực dụng nữa là, cần thuộc, cần hiểu để những khi không mệt nhọc tùy cơ ứng biến cũng đem ra dùng với nhau mục đích cho đỡ khó khăn hơn là tŕnh bầy theo lời nói thường:

Chồng em như cột đ́nh xiêu
Như thân củi mục c̣n yêu nỗi ǵ.

Lại nữa, người con trai lúc nh́n thấy cô thiếu nữ xinh đẹp muốn chêu ghẹo hoặc muốn tính chuyện lâu dài trước hết đă thăm ḍ, bầy tỏ ḷng ḿnh bằng cách hát lên :

Thấy ai anh muốn lại gần
Cầu không tay vịn anh lần anh đi…

Hai câu ca dao này có vẻ bâng quơ, hát lên như gửi vào không gian cho mây cho gió và chắc chắn cô thiếu nữ hiểu đó chỉ là ca dao nhưng lúc nghe lại nghĩ như là câu nói của người trai hát lên là để bộc lộ nỗi ḷng thầm kín với riêng ḿnh, để rồi cúi đầu mỉm cười khoan khoái tự hỏi thầm: “yêu em chăng?”

Thí dụ trên đây đưa đến một nhận xét lư thú : mọi người đều biết ḿnh không phải tác giả nhưng vẫn sử dụng ca dao y như ḿnh là tác giả, c̣n về phía người nghe cũng biết tỏng đó là ca dao nhưng cũng đinh ninh câu hát đó như thể “người ta” muốn nói với riêng ḿnh…Chúng ta mơ màng tưởng tượng được như vậy là v́ ca dao chẳng phải môn văn học VIẾT và ĐỌC mà là NÓI với NGHE, cũng v́ ca dao là loại văn chương nói và nghe, văn chương truyền khẩu nên ca dao không có tác giả, nó ít khi được tŕnh bầy chỉ do một người hay một bên hát lên chẳng có người nghe, trong trường hợp này, người nghe không phải chỉ để thưởng thức mà c̣n để suy nghĩ xem ḿnh sẽ phản ứng tham dự như thế nào, ḿnh sẽ hát lên câu ca dao nào để trả lời. Nói cách khác, người hát ca dao tựa như người viết lá thư, người nghe chính là người nhận thư và sau đó lại hát lên câu ca dao như lá thư phúc đáp…..

Lại nữa, ca dao phát sinh, trưởng thành, di chuyển , biến hóa như sinh vật. Biến hóa v́ nhớ không đúng một vài chữ trong câu văn nguyên thủy, biến hóa phần nào cho hợp với cảnh, t́nh, thủy thổ…ngơ hầu mang lấy h́nh thức khung cảnh, t́nh thế hiện tại…. bao đời ca dao được truyền khẩu từ người nọ qua người kia, vùng này sang vùng khác, đời trước tiếp nối đời sau…như thế…từ xưa đến nay…không có ǵ trở ngại.

Để chứng minh cho sự kiện này xin dẫn ra đây tóm tắt chuyện kể nơi tập sách PHONG TỤC MIỀN NAM QUA MẤY VẦN CA DAO của Đào-Văn-Hội như sau :

Đào-Văn-Hội sinh trưởng ở Tân An nên giới thiệu câu ca dao :

Ba phen quạ nói với diều
Ngả kinh ông Hóng có nhiều vịt con.

Ông Hóng là một cự phú thời Nguyễn-Ánh c̣n bôn đào, sông nước Đồng-Nai, một ngày kia chiến thuyền của ngài đến bỏ neo trên khúc sông Vàm Cỏ Tây chẩy ngang tỉnh Tân An. Nguyễn-Ánh thiếu lương thực, sai thị thần đến yêu cầu ông Hóng ở làng B́nh-Lăng Tân-An tiếp tế cho “một bữa cháo”.

Ông Hóng mới đào một con kinh từ nhà ông ta thông ra sông Vàm Cỏ đặng thuyền của ông có thể chở lúa gạo ra sông tiếp tế cho Chúa Nguyễn. Con kinh ấy về sau được dân trong vùng gọi tên là kinh Ông Hóng.

Nhưng một người khác ở tỉnh An-Giang nói nơi ấy có câu :

Ba phen quạ nói với diều
Cù lao ông Chưởng c̣n nhiều cá tôm.

Cù lao này nằm trên sông Hậu Giang chẩy ngang tỉnh An-Giang.
Chưa hết, trong quyển Hương Hoa Đất Nước tác giả Trọng-Toàn lại
kể ra một câu khác, tương tự :

Ba phen quạ nói với diều
Vườn hoang cỏ rậm th́ nhiều gà con.

Qua ba trường hợp trên không thể nói câu nào sai, ba câu đều đúng, cũng không thể nói câu nào “đạo văn” từ câu nào v́ chẳng ai đặt vấn đề tác giả, người ta thay đổi đôi chút như thế cho đúng sự thực và có lẽ nhờ đặc điểm phóng khoáng dẽ dàng như vậy nên ca dao đă phổ biến rộng răi cũng như sống măi cùng người dân hiền ḥa đời nọ sang đời kia. Tới đây chợt nhớ hai câu thơ của Dương-Khuê, nơi bài Hà- Nội Tức Cảnh do Học-giả Thái-Văn-Kiểm tŕnh bầy trong một buổi diễn thuyết :

Phất phơ cành trúc trăng tà
Tiếng chuông Trấn-Vơ canh gà Thọ-Xương.

Tiện thể ghi lại, và xin đừng nhầm với hai câu ca dao vô cùng thơ mộng của miền sông Hương núi Ngự:

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên-Mụ canh gà Thọ Xương.

Như trên đă giới thiệu, tính chất của ca dao gồm cả ỡm ờ, dí dỏm. Nó dí dỏm, ỡm ờ cả trong những câu đề cập tới tục tĩu một cách thật tài t́nh :

Một rằng thương hai rằng thương
Có bốn cái chân giường gẫy một c̣n ba…

Trên phương diện này xin đặc biệt đề cập tới bài ca dao rất phổ biến mà tin chắc là ai cũng thuộc:

Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước ǵ anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây…
Xây dọc anh lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.
Có rửa th́ rửa chân tay
Đừng rửa lông mày chết cá ao anh...

Về tám câu ca dao rất phổ thông trên đây tôi có mấy thắc mắc từ lâu, thắc mắc v́ chẳng hiểu tại sao câu thứ sáu đang nói xây hồ mà câu thứ tám lại là ao ; thắc mắc v́ rửa chân tay th́ được mà rửa lông mày th́ lại …chết cá ao anh ???
Một vị cao niên người khô như con mắm nhưng làm thơ ướt át như mới vớt dưới nước lên, trong lúc trà dư tửu hậu nói với tôi hồ hay ao cũng là một chỗ đất chũng có nước, dù to dù nhỏ th́ cũng được thôi, văn chương b́nh dân đâu có ai khắt khe bắt lỗi… mới lại biết đâu đó chẳng qua là người xưa muốn tránh…điệp tự !
C̣n vấn đề “ đừng rửa lông mày chết cá ao anh” th́ một vị cao niên khác, uyên bác hán học , luôn gọi tôi là “tiên sinh”, mà tôi đă từng gơ cửa học hỏi ba điều bốn chuyện nhiều phen, cũng bữa đó cho hay: Bài ca dao này thực ra c̣n hai câu chót:

Có chết th́ chết cá mè ranh
Đừng chết cá trắm, chép mà anh bắt đền.

Tôi hơi ngạc nhiên v́ chưa nghe bao giờ. Trong cuốn CA DAO HÀI HƯỚC của Đào-Thản tái bản tháng 8 năm 2001 ở trong nước, bài này cũng chỉ có 8 câu. Ông bạn vong niên c̣n lưu ư, trong hai câu cuối này, nêu lên toàn những loài cá mầu trắng, thân h́nh như chiếc lá, giống như cá diếc ! rất gợi h́nh, ví von… chúng khác hẳn loại cá xộp, cá quả, cá trê…ḿnh tṛn ! phải hiểu ngầm, ư tại ngôn ngoại, ngôn ngữ nhất là văn chương đôi khi không nói ra được sự thật, từ trước đến nay nhất là đối với những áng văn chương cổ, sắc đẹp của người đàn bà thường được mô tả theo lối so sánh, cách sơn đả ngưu…như trong truyện Kiều: “mây thua nước tóc tuyết nhường mầu da.” , “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.”. Ta cũng nghe ca tụng khi đối diện mỹ nhân: Trên trời th́ chim sa, dưới nước th́ cá lặn vân vân và vân vân… mới lại văn chương đâu phải khoa học mà đ̣i hỏi rơ ràng như hai với hai là bốn ! thí dụ như hai câu sau đây có ai đi hỏi “cái tỉnh t́nh tinh” là ǵ

Người xinh cái bóng cũng xinh
Người gịn cái tỉnh t́nh tinh cũng gịn.

Vâng, văn chương chẳng phải khoa học. Những điều nhận xét trên đây là những đóng góp, tham dự thật quư báu. Hơn nữa lại là văn chương đại chúng, tác giả phần lớn là những người b́nh dân ít học, ít dùng chữ Hán như các vị túc nho. Các vị này gặp trường hợp phải nói đến các danh từ tục thường dùng chữ nghĩa cao siêu cho nó thanh thoát nhẹ nhàng bớt, chẳng hạn: hậu môn , tiểu tiện, cửa ḿnh….”Em ngồi bên cửa ḿnh em…” ngoại trừ nhiều vị phô diễn tài năng để diễn tả những điều khó nói ấy trong văn thơ một cách độc đáo như:
Hồ-Xuân-Hương : Đầu sư chẳng phải ǵ bà văi .
Bùi-Giáng ( ? ) :

Thu-Ba khen ngợi Thu Bồn
Thu-Bồn cảm động sờ tay Thu-Ba !

Tuy nhiên với tinh thần cầu học tôi chẳng muốn giữ thái độ:
Biết th́ thưa th́ thốt
Không biết th́ dựa cột mà nghe.
Xin mạo muội tŕnh bầy mấy ư nghĩ thô thiển dù đúng dù sai, như là đóng góp thêm vào bài tản mạn cho thêm hào hứng .

Tới đây chẳng hát th́ ḥ,
Chẳng phải như c̣ ngỏng cổ mà nghe.

Có điều ǵ không phải ước mong các vị am tường điều chỉnh bổ túc cho để chúng ta và nhất là các bạn trẻ có dịp học hỏi th́ thật là hân hạnh.

Trước hết, đọc bài ca dao trên đây ta thấy mạch văn không liền từ đầu tới cuối. H́nh như có một người xướng xuất sáu câu đầu và một người khác bổ túc những câu sau. Hai người này có thể ở những vùng đất khác nhau, ở những khoảng thời gian sau trước khác nhau, như trường hợp câu
“Bao phen quạ nói với diều…” nhưng cũng có thể cùng nhau hiện diện một lúc để “tán tỉnh “ cô gái trước mặt. Đây chỉ là sự phỏng đoán v́ câu sáu không thấy vần với câu bẩy và giọng văn của sáu câu thứ nhất tao nhă, bóng bẩy, văn vẻ, trang trọng..chẳng như những câu c̣n lại lời nói nôm na, thẳng thắn thiếu hoa mỹ và chữ thứ hai của mỗi câu đều là vần trắc, hơi lạm dụng.
Xin đọc thêm một lần nữa hai câu này:

Có rửa th́ rửa chân tay
Đừng rửa lông mày chết cá ao anh.

Câu trên thấy hai danh từ chỉ định những phần thân thể có thể đem rửa là chân và tay, chân tay thường dính bụi bậm đất cát không thải ra những chất gây cho cá chết. V́ vấn đề cân xứng, câu dưới nếu có hai danh từ chỉ định những phần thân thể không nên rửa th́ câu ca dao lư thú hơn do đó tôi nghĩ có lẽ, Xin nhấn mạnh chữ có lẽ, lông mày không phải là một danh từ, chúng là hai danh từ riêng biệt : lông mày và mày. (Mắt phượng mày ngài, Truyện Kiều có câu “Làn thu thủy nét xuân sơn…” dịch từ câu chữ Hán: Nhỡn quang như thủy, my tự xuân sơn : mắt trong như nước mùa thu, mày như núi mùa xuân. ). V́ hạn hẹp số chữ và luật lệ trong câu thơ nên không thể đặt “Đừng rửa lông mày và mày chết cá ao anh.” nên ở giữa lông mày cần phải có một dấu phẩy, chết nỗi ca dao không phải là văn chương viết và đọc vậy th́ làm sao đặt dấu phẩy v́ đặt dấu phẩy ở đâu bây giờ ???

Thông thường ta hiểu tạo hóa ban cho mỗi người hai cái mày ở trên cặp mắt. Trên mày có những sợi lông gọi là lông mày nó thẳng, cứng, ngắn phái nữ thường tô vẽ, tỉa cho thêm phần hoa mỹ. Mặt khác, nơi cuốn Tùy-Bút của nhà văn lăo thành Vơ-Phiến lại thấy nêu hai câu thơ trong truyện Tây-Sương Kư của Trung-Hoa được Nhượng-Tống dịch như sau:

Mày xanh lồ lộ vẻ xinh
Nơn nà bộ ngực xuân t́nh đầy vơi.

Tiếp theo chưa biết nói ǵ, đang suy nghĩ xem mày xanh này nằm ở vị trí nào th́ một người bạn khác, nghe được câu chuyện bèn sôt sắng bầy tỏ thêm ư kiến. Vị này rất hoạt động, viết đủ thể loại đặc biệt nhất là hồi kư, dùng văn chương ghi lại cuộc đời một cách rất trung thực, không giống như một số ít chính khách sau thời oanh liệt, ngồi rù viết hồi kư hay vẽ thêm hoa lá, ưa dùng v́, bởi, bị, tại….

Mầng răng ra rứa ví dù
Mầng ri thế nọ tuyệt mù thế kia.
( Mỗi Ngày, thơ Bùi-Giáng. )

Theo đó, phân tách lông mày thành hai danh từ lông và mày cũng chưa chắc đúng. Mày có thể là chỉ định từ để cho câu ca dao mang ư nghĩa:
Chớ rửa lông của mày mà chết cá ao anh.
Tuy nhiên người bạn đáng kính của tôi cũng cẩn thận rào đón là tất cả những “ phân tách triệt để “ kia cũng chỉ là “có thể “ . Ai mà đoán trúng được tim đen của người đặt ra mấy câu ca dao tuy b́nh dân nhưng thâm sâu, hiểm hóc đó.

Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà nham hiểm như cơi đựng trầu

Tới đây mấy thắc mắc cũng chưa được giải thích thỏa đáng, những điều tŕnh bầy thật là thô thiển, là nhắc nhớ sơ sài, là nhời nói loanh quanh, như đám lính công thành bất lực, c̣n rất nhiều thiếu sót, nhầm lẫn…xin được kể như mớ tài liệu gom lại chưa kịp gạn lọc, san định đàng hoàng… như trên đă nói có điều ǵ không phải ước mong các vị am tường điều chỉnh bổ túc cho. Chưa đạt mục đích hữu ích thôi th́ bài tản mạn về ca-dao này coi là để mua vui vậy, và rất tiếc, dù chỉ mua vui nhưng cũng chẳng kéo được…” một vài trống canh ! “

Nguyễn-phú-Long.
 

Vài ḍng của nhà thơ Trúc Lang

Anh Long thân mến,
Thành thật cám ơn Anh đă nhắc đến tôi và Tếu Tử trong bài viết rất hay của Anh có gía trị về mặt tham khảọ Anh thắc mắc về 2 chữ Hồ, Ao. Thật ra là do dụng ư của tác giả. Hồ bán nguyệt do bàn tay người xây nơi thanh cảnh như Hồ Tịnh Tâm Thành Nội hoặc Cung Điện Lăng tẩm như Lăng Tự Đức, Chùa Từ Hiếu. Người ta không xây ao mà đào Ao hoặc do thiên nhiên mà có. Do đó giá trị của Ao thấp hơn Hồ Tác gỉa muốn dụng ư nêu cao gía trị của người đẹp dù có rửa ở Hồ hay Ao chỉ rửa chân tay, chớ đừng rửa lông mày mà đau ḷng tim Anh. Ao là Ao ḷng, cá là trái tim .
Bài viết Vào Xuân với Ca Dao của thi sĩ Hà Huyền Chi ngắn gọn súc tích mang tính cách văn chương nhưng tôi chỉ thắc mắc nhà Thơ dùng "4 chữ " thiên kinh địa nghĩa" tại sao không dùng "Kinh Thiên Động Địa" vừa b́nh dân vừa diễn tả sự kinh ngạc của Trời Đất.
Thân kính Trúc Lang

 

Bài Đọc Thêm:

Tản mạn về ao làng

Một trong những h́nh ảnh thân thương, ăn sâu vào trí nhớ con người ở các làng quê từ thời thơ ấu cho đến lúc về già là h́nh ảnh những cái ao làng. Câu "c̣n ao rau muống, c̣n đầy chum tương" nói lên một cuộc sống thanh đạm mà ung dung trong cảnh thanh bần.

Những ngày giáp Tết Nguyên đán, ở bên bờ ao thường diễn ra nhiều hoạt động náo nhiệt, ồn ào mà đằm thắm. Người ta tát cạn ao rồi chia phần cá, có những người vớt từ dưới ao lên những cây gỗ xoan ngâm trong bùn từ tháng giêng để chuẩn bị làm nhà hoặc sửa nhà. Nhiều người chung nhau một con lợn và mổ thịt ngay bên bờ ao, chia thịt, luộc ḷng Người ta rửa lá dong để gói bánh chưng thật tấp nập và nhộn nhịp.

Phong cảnh cái ao thật đẹp. Mùa xuân, các đám cưới đủ màu sắc ngả bóng xuống ao làng với những tà áo, khăn, nón xênh xang. Dáng đi của những người dự đám cưới in xuống nước như say như tỉnh. Mùa hạ, trên mặt ao có sen quỳ trắng, sen diệp hồng hoặc hoa súng toả ra một mùi thơm nhẹ. Bên cạnh những bông hoa súng thường có những con chim cuốc đen lủi thủi. Lại có câu: "Ao cá trê, êm ả ngủ chờ sung" hoặc: bèo lạnh cầu ao, ai đợi chờ?..." Cái ao cũng dự báo mùa thu đến: “Bờ ao hiu hắt, nước trong xanh” hay: "Ao thu lạnh lẽo nước trong veo". Đó là lúc cuối thu đầu đông.

Bờ ao thường được "trang điểm" bằng các loài cây quen thuộc như cây vối, cây sung, rặng cúc tần cổ tích, vương vít những đàn gà con có màu hoàng yến. Một góc ao được bắc giàn mướp để cho những quả bầu, quả mướp rủ xuống. Những khi hoa mướp nở làm vàng rộm cả một góc ao với những cánh bướm bay đi, bay lại. Bờ ao trong sáng như ca dao.

Khi có khách quư đến, chủ nhà lấy vó cất một vài con cá tươi, xử lư thật nhanh, uống rượu ngay bên bờ ao đó là một "bữa tiệc" khó quên. Nhưng cũng có khi ở vào hoàn cảnh: "Ao sâu, nước cả khôn chài cá" th́ chủ và khách chỉ uống rượu suông với nhau cũng vẫn rất thân t́nh.

Ao cũng là nơi hẹn ḥ, gặp gỡ của trai gái trong làng. Họ hẹn ḥ và thề thốt với nhau bên bờ ao vào những buổi chiều tối, những đêm trăng hoặc những buổi sáng sớm. Những cuộc t́nh này cũng rất nên thơ và lăng mạn. Các cô gái trong lễ vu qui, qua chiếc ao làng, ḷng lại bồi hồi nhớ những đêm hẹn ḥ. Tuổi thơ của nhiều người c̣n gắn liền với những kỷ niệm khó quên:

"Nhớ những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được. . .
Chưa đánh roi nào đă khóc!"

(Quê hương - Giang Nam)

Họ hàng của ao có đầm, có hồ, kênh, lạch. Ao cũng có luật âm thầm mà chặt chẽ của nó. Tầng nước trên thường là cá diếc. Tầng giữa có cá trắm, cá chép, cá quả cá sộp. Lớp dưới cùng là cá trê. Riêng có "cá chuối đắm đuối" th́ hoạt động ở tất cả các tầng nước. ở trong cái ao, xă hội cá giống hệt như xă hội loài người. Cá tranh ăn, xô xát, đánh nhau, nhường nhịn, sống có đàn...

Ao có nhiều tên tùy theo vị trí địa dư, dáng dấp hoặc đặc trưng riêng như: ao cây vối, ao cây sung, ao chùa, ao đ́nh, ao xóm, ao cây gạo, ao bèo, ao thả cá, ao thả rau cần, ao nuôi vịt..

Ao cũng là nơi dân làng ngồi nghỉ ngơi, xuống ao khoả nước, nhúng cái nón xuống nước cho mát nón hoặc sẵn tay ướt vuốt tóc và vuốt lông mày để cho các chàng trai có câu ca dao: " Có rửa th́ rửa chân tay, chớ rửa lông mày chết cá ao anh".

Đứng ở bờ ao một ḿnh, nhất là trong những lúc thanh vắng là có sự mong, nhớ, tơ tưởng... Như trong câu ca dao:
"Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ":


Tâm trạng con người trong lúc này là nói buồn trong cơi nhớ. Người đi xa trở về, thấy chốn quê hương là đẹp hơn cả, cũng bồi hồi:
"Ta về ta tắm ao ta;
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn".


Ao nhà ta tuy không phải là đẹp lắm, nhưng nó là cái của ta, cái của ḿnh nên nó đẹp và quư vô cùng.

Khuyết danh
 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 04/28/15