Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 
 

Thánh Tam Giang và bài thơ Nam quốc sơn hà

Nguồn: http://huvi.wordpress.com/
Người Việt ai chẳng biết bài thơ Nam quốc sơn hà đă được vang lên trên pḥng tuyến sông Như Nguyệt như một bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta chống giặc phương Bắc xâm lược… Có điều bài thơ này được chép với nhiều dị bản và truyền thuyết bao quanh, nửa hư nửa thật làm cho chẳng ai hiểu ngọn ngành thật sự ra sao.
Tương truyền bên ḍng sông Như Nguyệt hai vị thần là Trương Hống, Trương Hát đă hiển linh đọc bài thơ trong đêm trước quân Tống… Nhưng cuộc chiến Việt – Tống này có sách th́ chép là của Lê Đại Hành, sách khác lại là của Lư Thường Kiệt. Phải xác định ra sao về thời điểm ra đời của bài thơ này?

 

Dị bản chính của bài thơ được chép trong Lĩnh Nam chích quái:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư
Như hà Bắc lỗ lai xâm lược
Bạch phận phiên thành phá trúc dư.

Nước ta từ Ngô, Đinh, Tiền Lê đến tận Lư Trần đều là Đại Cồ Việt, Đại Việt. Vậy sao ở đây lại gọi là “Nam quốc”, “Nam đế”? Nước ta là “nước Nam” từ lúc nào? Quốc danh c̣n không rơ th́ sao gọi là “tuyên ngôn độc lập” được?

Để giải đáp những câu hỏi trên cần xem lại chuyện về đức thánh Tam Giang Trương Hống Trương Hát trên cơ sở những nhận định mới về cổ sử Việt Nam.

Hiện nay dọc sông Cầu có tới hơn 300 nơi thờ anh em Trương Hống, Trương Hát. Mỗi nơi một tích, mỗi nơi một chuyện, nhưng đều tương tự nhau. Theo thần tích làng Vân Mẫu (Quế Vơ – Bắc Ninh) vào thời Tiền Lư Nam Đế trong làng có bà Phùng Từ Nhan, một đêm nằm chiêm bao thấy Thần long quấn ḿnh trên sông Lục Đầu. Sau đó bà mang thai, sinh hạ 5 người con. Bốn con trai tên là Hống, Hát, Lẫy, Lừng và một con gái là Đạm Nương … (Không rơ v́ sao những vị này lại lấy họ Trương?)

Lớn lên Trương Hống, Trương Hát theo học tiên sinh Lă Thị người hương Chu Minh, lộ Bắc Giang. Tới khi Triệu Quang Phục khởi nghĩa ở đầm Dạ Trạch th́ cả nhà họ Trương cùng dấy binh theo về… Triệu Quang Phục phong Trương Hống làm thượng tướng quân, Trương Hát làm phó tướng quân, Lă tiên sinh làm quân sư, Trương Lừng, Trương Lẫy làm tỳ tướng, Đạm Nương làm hậu binh lương và lo kế sách đánh giặc.

Dẹp xong giặc rồi, Triệu Việt Vương kéo quân về Long Biên sang sửa đô thành, khao thưởng tướng sỹ, úy lạo muôn dân.Vua Triệu phong thực ấp cho hai anh em họ Trương ở Kinh Bắc, Trương Hống ở làng Tiên Tảo, huyện Kim Anh, Trương Hát ở làng Tam Lư, huyện Đông Ngàn là nơi dấy binh cũ.

Tượng bốn vị Hống, Hát, Lẫy, Lừng ở Vân Mẫu
Trong cách nh́n mới, với việc xác định Triệu Việt Vương là vua nước Nam Việt thời trước Công nguyên th́ có thể thấy anh em Trương Hống, Trương Hát là những công thần lập quốc của nhà Triệu. Lă tiên sinh, thầy học của Trương Hống Trương Hát, có thể chính là tể tướng Lữ Gia của nhà Triệu Nam Việt.

Như đă biết nhà Triệu Nam Việt đóng đô ở Dương Thành (Quảng Đông). Sử Việt th́ chép Triệu Việt Vương đóng đô ở Long Biên, có lẽ là đă lấy nơi ông tổ nhà Triệu là Triệu Vũ Đế lập hành cung Long Hưng ở thời kỳ khởi nghĩa kháng Tần. Có liên hệ sau:
- Long Biên <-> Long Xuyên <-> Tam Xuyên <-> Tam Giang.

Long Xuyên là nơi “Úy Đà” khởi nghiệp theo Sử kư Tư Mă Thiên. Long Biên là nơi đóng quân của Triệu Vũ Đế (điện Long Hưng ở Xuân Quan).

Trương Hống Trương Hát được gọi là đức thánh Tam Giang. Tam Giang đây không phải là Ngă ba Xà, nơi bài thơ thần được đọc sau này, bởi v́ ngă ba này chỉ có … 2 con sông: sông Cà Lồ và sông Cầu, đổ vào nhau. Tam Giang ở đây là chỉ quận Tam Xuyên dưới thời Tần, là nơi Lưu Bang Triệu Vũ Đế khởi nghĩa.

Như vậy khi Triệu Văn Vương lập nước Nam Việt, anh em Trương Hống, Trương Hát theo tể tướng Lữ Gia đă được phong cai quản vùng đất quận Tam Xuyên cũ, là vùng “từ Thái Nguyên tới Lục Đầu Giang”, như thần tích thánh Tam Giang cho biết.

Tiếp theo, khi Hậu Lư Nam Đế cầu hôn con gái của Triệu Việt Vương cho con trai ḿnh là Nhă Lang th́ hai anh em Trương Hống, Trương Hát đă can ngăn. Đại Nam quốc sử diễn ca chép:
Có người: Hống, Hát họ Trương
Vũ biền nhưng cũng biết đường cơ mưu,
Rằng: “Xưa Trọng Thuỷ, Mỵ Châu,
Hôn nhân là giả, khấu thù là chân.
Mảnh gương văng sự c̣n gần,
Lại toan dắt mối Châu Trần sao nên?”.
Th́ ra hai đại tướng quân cai quản vùng đất tổ Tam Xuyên đă phản đối việcTriệu Anh Tề lấy Cù Thị người nhà Hiếu (Tây Hán).

Lĩnh Nam chích quái kể tiếp, khi Triệu Việt Vương bị Hậu Lư Nam Đế đánh bại, Nam Đế đem lễ vật đến rước anh em Trương Hống Trương Hát, có ư muốn cho làm quan, nhưng hai vị kiên quyết giữ ḷng trung thành, trốn vào ở núi Phù Long. Nam Đế nhiều lần cho người đến truy nă nên hai vị đành tuẫn tiết mà chết…

Trương Hống Trương Hát tự vẫn ở vùng “Đu Đổm” thuộc Thái Nguyên ngày nay. Phù Long phiên thiết là Phong. Núi Phù Long liệu có phải là đất Phong (Mường Đăng) nơi Lưu Bang khởi nghĩa?

Có thể thấy hành trạng của anh em họ Trương hoàn toàn trùng với tể tướng Lữ Gia, từ việc tham gia lập nước Nam Việt, phản đối cuộc hôn nhân với người nhà Hiếu, kiên quyết không theo Hậu Lư, rút về vùng núi phía Tây khi thất bại. Điều này càng củng cố lập luận Lă tiên sinh, thầy học của anh em họ Trương trong thần tích là tể tướng nhà Triệu Lữ Gia.

Tam Giang thần từ ở làng Trâu Lỗ
Ở làng Trâu Lỗ thuộc xă Mai Đ́nh, Hiệp Ḥa – Bắc Giang c̣n có nghè (đền) thờ đức thánh Tam Giang, nhưng lại cùng với 2 thành hoàng làng là Vua ông Vua bà. Trong nghè có 4 tượng: tượng Vua ông đội mũ b́nh thiên, tượng Vua bà và 2 tượng Trương Hống, Trương Hát hai bên như quan hầu. Dân làng chỉ biết “Vua ông Vua bà” là thành hoàng làng, nhưng không biết cụ thể đó là ai, ở thời nào, công trạng ra sao.

Trong sử Việt, chỉ có hai vị mà cả vợ cả chồng đều có thể được gọi là Vua là: Lưu Bang và Lữ Hậu. Trương Hống, Trương Hát là tướng của nhà Triệu Nam Việt. Nhà Triệu lấy Lưu Bang làm tổ (Triệu Vũ Đế), họ Lữ làm tể tướng (Lữ Gia). Trương Hống, Trương Hát lại cai quản đất khởi nghiệp Long Xuyên của Lưu Bang, nên việc đặt thờ hai anh em họ Trương bên cạnh Lưu Bang, Lữ Hậu (Vua ông Vua bà) là rất hợp lư. Lưu Bang và Lữ Hậu cùng được thờ tương tự ở đ́nh làng Bát Tràng.

Ở Bắc Ninh c̣n có 2 làng Đồng Văn và Đồng Đoài (xă Thuận Thành) cạnh sông Cầu thờ thành hoàng là Tam Công. Theo thần tích th́ đây là 3 vị tướng của nhà Triệu Nam Việt, có công chống Hán. Ba vị này được sắc phong là “Đống Sức anh nghị linh thông đại vương”, “Đống Dạ chính trực linh ứng đại vương” và “Thập làng phù vận cảm ứng đại vương”.

Dấu vết của nhà Triệu Nam Việt ở nước ta c̣n lại không nhiều, hầu hết các đền miếu của các nhân vật liên quan đều đă bị hủy bỏ hoặc thần tích bị thay đổi. Đây là do cái nh́n sai lầm tai hại của các sử gia về tính chính thống của nhà Triệu. Nay với nhận định rơ ràng Nam Việt Đế Lư Bôn là Triệu Vũ Đế, chuyện Triệu Quang Phục là chuyện 4 đời vua Triệu Nam Việt th́ phải có một Kỷ nhà Triệu trong lịch sử nước nhà. Hơn thế nữa, chính nhà Triệu đă khởi đầu “nước Nam”, “vua Nam” mà danh lưu c̣n măi tới ngày nay như trong bài thơ thần Tam Giang đức thánh đă đọc bên sông Như Nguyệt …

 

Hai tướng nhà Triệu là Trương Hống Trương Hát không theo Hậu Lư Nam Đế, tự vẫn ở Phù Long. Một ngàn năm sau hai vị thần này lại hiển linh, đọc bài thơ Nam quốc sơn hà tuyên ngôn độc lập trước quân Tống bên ḍng Như Nguyệt. Trương Hống từ đó được phong làKhước địch thiện hựu trợ thuận đại vương, Trương Hát là Uy địch dũng cảm hiển thắng đại vương.
Nhưng tại sao lại chính hai vị này đọc thơ khước Tống?

Lịch sử luôn lặp lại. Nam Việt Đế Lư Bôn khởi nghĩa chống Tần, thống nhất giang sơn Bách Việt. Tới khi Lữ Hậu mất, Lư và Triệu con cháu một nhà nhưng Nam Bắc phân đôi. Hậu Lư Nam Đế là Hiếu Vũ Đế diệt Triệu Vệ Dương Vương ở Dương Thành. Nhưng ở phía Tây Nam Việt lại nổi lên nhà Nam Triệu của Tây Lư Vương, tiếp tục chống lại phương Bắc.

Thời Ngũ đại, Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn thống nhất miền Bắc Trung Hoa. Phía Nam nhà họ Lư (Lưu) lập nước Đại Việt – Đại Hưng trên mảnh đất Nam Việt của Triệu Việt Vương xưa. Quân Tống tấn công Phiên Ngung, Lưu Sưởng bị bắt. Nhưng ở phía Tây trên đất Tĩnh Hải, cũng con cháu họ Lư là thủ lĩnh Đinh Bộ lại lần nữa âm thầm phục quốc. Qua hai đời Tiết độ sứ tới Lư Thánh Tông th́ chính thức xưng vương, lấy lại tên nước Đại Việt của cha ông họ Lư.

Chính v́ sự lặp lại của lịch sử nên hai vị thánh Tam Giang đại diện cho tinh thần chống giặc phương Bắc của nước Nam Việt xưa mới hiển linh đọc bài thơ thần trên sông Như Nguyệt:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư
Như hà Bắc lỗ lai xâm lược
Bạch phận phiên thành phá trúc dư.

Nước Việt gọi là “Nam quốc”, vua Việt là “Nam đế” chính là từ nước Nam Việt của Triệu Vũ Đế Lư Bôn. “Thiên thư” đây không phải Kinh Thư từ thời Chu. “Thiên thư” là sử sách thời Tần Hán, có thể chỉ … Sử kư Tư Mă Thiên, mà trong đó lịch sử thời Nam Việt của nhà Triệu đă được ghi chép đầy đủ.

 
Hoành phi Nam bang thủy đế ở đền Đồng Xâm

Triệu Vũ Đế là “Nam bang thủy đế” (hoành phi ở đền Đồng Xâm – Thái B́nh), hay “Thiên Nam đế thủy” (hoành phi điện Long Hưng – Xuân Quan), là vị Nam đế đầu tiên của nước Nam. Con cháu họ Hùng bắt đầu phân Nam Bắc từ thời Nam Việt như câu đối của Nguyễn Công Trứ ở đền Đồng Xâm:
Một thời gươm ngựa khinh Lưu Hạng
Tự đó non sông tách Bắc Nam.

Gần đây nhà nghiên cứu Vũ Kim Biên c̣n phát hiện tiền thân của bài thơ Nam quốc sơn hà ở đền Đào Xá (Thanh Thủy – Phú Thọ) như sau:
Nam thiên dĩ định đế Nam quân
Đại đức giai do đức nhật tân
Thất quận sơn hà đô nhất thống
Tống binh bất miễn tán như vân.

Dịch:
Trời Nam đă định vua Nam ta
Đức lớn ngày thêm đức mới ra
Bẩy quận non sông về một mối
Tống binh tan tác tựa mây sa.

Đặc biệt bài thơ này nói tới “thất quận sơn hà”, nước non gồm 7 quận. Chế độ quận huyện ở nước ta đă bỏ từ Tùy Đường, thay bằng chế độ phiên trấn (Tiết độ sứ) ở thời Cao Biền. Bài thơ thời Lư nói tới 7 quận là thế nào?

Xem lại diễn biến nước Nam Việt, sau khi bị Hiếu Vũ Đế thu phục, được gọi là Giao Chỉ bộ, chia làm 9 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô và Đam Nhĩ, Chu Nhai. Tới thời Sĩ Nhiếp Giao Chỉ bộ đổi thành Giao Châu, nhưng chỉ c̣n 7 quận (trừ Đam Nhĩ và Chu Nhai). Có lẽ 2 quận Đam Nhĩ và Chu Nhai đă bị mất vào tay Hán Quang Vũ, Sĩ Vương chỉ c̣n giữ được 7 trong số 9 quận của nước Nam Việt trước đó. Cái tên “thất quận” bắt đầu từ đó, chỉ Giao Châu bộ.

Câu đối ở đền Sĩ Nhiếp ở Tam Á (Thuận Thành – Bắc Ninh):
汶陽幾辰遷為軍將為州牧為教育師儒恩信遍蒼梧七郡外
龍编何日事此城郭此人民此江河運會文采傳武寧一部中
Vấn Dương kỉ thời thiên/ vi quân tướng, vi châu mục, vi giáo dục sư Nho/ ân tín biến Thương Ngô thất quận ngoại
Long Biên hà nhật sự/ thử thành quách, thử nhân dân, thử giang hà vận hội/ văn thái truyền Vũ Ninh nhất bộ trung.

Dịch:
Vấn Dương mấy lúc dời/ v́ quân tướng, v́ châu mục, v́ giáo dục Nho gia/ bảy quận ngoài Thương Ngô ơn nghĩa trải khắp
Long Biên sự ngày nọ/ đây thành quách, đây nhân dân, đây non sông vận hội/ toàn bộ trong Vũ Ninh văn đức c̣n truyền.

 
Cổng đền Sĩ Nhiếp ở Tam Á

Trung tâm của quận Giao Chỉ đóng ở Long Biên. Nhà Hiếu (Tây Hán) không đóng trung tâm Giao Chỉ ở Phong Châu hay Cổ Loa có lẽ v́ vùng phía Tây Giao Chỉ c̣n chưa yên ổn do con cháu nhà Triệu là Tây Lư Vương c̣n đang quấy rối. Một phần khác, Long Biên trở thành chốn trung tâm chính v́ đây là vùng Tam Giang, Tam Xuyên hay Long Xuyên nơi Triệu Vũ Đế Lư Bôn khởi nghiệp.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng cũng nổ ra ở 7 quận của Giao Châu này. Câu đối ở đền Hát Môn:
Cung kiếm thất tu mi, nữ chủ uy thanh lưu thất quận
B́nh mông phổ bào dư, thần vương phúc tỉ vĩnh thiên thu.

Dịch:
Cung kiếm vượt nam nhi, nữ chủ uy danh lưu bảy quận
Che chở khắp đồng bào, thần vương phúc đức măi ngh́n năm.

Hai Bà Trưng toàn thắng, chiếm 65 thành ở Lĩnh Nam … Lẽ ra nếu khởi nghĩa Trưng Vương xảy ra ngay sau khi nước Nam Việt của nhà Triệu bị mất th́ “Lĩnh Nam” phải là toàn bộ vùng đất Nam Việt cũ, nghĩa là phải có tới 9 quận gồm cả Đam Nhĩ, Chu Nhai. Sự thật là khởi nghĩa Trưng Vương nổ ra sau thời Sĩ Nhiếp lập Giao Châu bộ, nên Lĩnh Nam lúc này chỉ c̣n 7 quận mà thôi.

Như vậy “thất quận” chính là vùng đất của nhà Nam Việt từ Triệu Vũ Đế. Bài thơ ở Đào Xá đă chỉ ra “Nam quốc” thực sự là gồm những vùng đất nào. Đồng thời bài thơ cũng cho thấy ư đồ của nhà Lư không chỉ giới hạn ở vùng Tĩnh Hải mà c̣n muốn phục quốc Đại Việt gồm 7 quận Lĩnh Nam. Thực tế th́ Lư Thường Kiệt đă đánh vào châu Ung, châu Khâm, châu Liêm, mục đích rơ ràng là “thống nhất 7 quận” Nam Việt.

Câu đối ở đ́nh Đông Xuyên (Yên Phong – Bắc Ninh) thờ Thánh Tam Giang:
Lưỡng mệnh khước Lư trưng, trung Triệu thanh phong phân đức thủy
Nhất thi tiêu Tống phạm, phù Lê hồng liệt đối ḥa sơn

Dịch:
Một bài thơ phù Lê, tan Tống núi non nêu khí tiết
Hai anh em trung Triệu, chối Lư nước sông tỏa danh thơm.

 
Đ́nh Đông Xuyên ở Yên Phong

Việc nhiều sử sách chép bài Nam quốc sơn hà được vang lên vào thời Tiền Lê nay cũng đă rơ. Lê Đại Hành là vị vua Lư ẩn họ. “Phù Lê” cũng là phù Lư. Tuy nhiên, khó có khả năng đă có một cuộc tấn công qui mô của nhà Tống vào thời Tiền Lê v́ lúc này Lê Đại Hành – Lư Thái Tông vẫn c̣n nhận sắc phong của nhà Tống, chưa công khai lập quốc gia riêng. Với khẩu khí đ̣i độc lập “Nam quốc”, xưng “Nam đế”, thống nhất lại “thất quận” th́ thời điểm đọc bài thơ này vào thời Lư Thường Kiệt (Lư Nhân Tông) là phù hợp hơn.

Phục quốc nước Nam thất quận luôn canh cánh trong các triều đại Việt sau này. Hoàng đế Quang Trung sau chiến thắng Đống Đa đuổi quân Thanh đă cử sứ giả đi đ̣i đất Lưỡng Quảng. Gia Long lên ngôi muốn đặt tên nước là Nam Việt…

“Nam quốc” đă đi vào tiềm thức người Việt như quốc danh của ḿnh. Người Việt sẽ c̣n kể măi chuyện “Nam đế” Lư Bôn, “Nam bang thủy đế” Triệu Vũ Đế như vị vua đầu tiên lập nước, phân Bắc Nam. Ḍng sử nước Nam Việt đă mất đi phần Lưỡng Quảng, nhưng rồi lại thêm đất Nam Triệu – Lâm Ấp để nay trở thành nước Việt Nam độc lập.

Nguồn: http://huvi.wordpress.com/

Xem thêm: Nối vào bài Thánh Tam Giang và bài thơ Nam quốc sơn hà

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 04/17/15