Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 
   
 
Ông Trời của người Việt nam qua ca dao, tục ngữ
Vinh Phan

1. Trời trong các đạo: Thần, Phật, Khổng, Lăo, Ông Bà
2. Trời trong ca dao tục ngữ dân Việt
3. Trời trong đạo Thiên Chúa

1. Trời trong các đạo:

- Thờ Thần

Người Việt nam thời xưa cũng như người Thượng (gốc người Việt) c̣n tới thời nay, thờ nhiều thần. Mỗi sức mạnh của vũ trụ như mưa sấm sét, mỗi nghề nghiệp, mỗi địa phương đều có những vị thần riêng. Đây là tính cách sơ khai về tín ngưỡng. Thổ công, hiện c̣n được một số người VN tôn thờ để coi sóc gia đ́nh. Thần tài cũng c̣n được tôn kính.

Bởi đạo thờ Thần không Giáo chủ, không giáo sĩ, người dân nghe vị thần nào linh thiêng là tin tưởng, cầu cúng. Với thời gian, lắm sự lầm lạc mê tín xen vào.

Họ không biết tới Đức Chúa Trời, nên không có xác tín rơ rệt, chỉ có những tư tưởng chung chung như ca dao người Việt mô tả, sẽ đề cập dưới đây.

- Thờ Phật

Quăng năm 560 trước Tây lịch, Phật tổ ra đời, được đặt tên là Gautama Shidata, tại nước Ấn độ. Lớn lên trong cung điện nước Kosala do cha ông làm Tiểu vương. Công tử Gautama đă đi ra ngoài cung điện, t́m hiểu cuộc đời. Qua 4 lần xuất du, ông đă nhận định về 4 hạng người trong xă hội: Bệnh tật, chết chóc, già nua, nghèo túng. Nói đúng hơn là 4 cảnh khổ. Ông cũng nhận thấy 4 giai cấp xă hội: Tăng lữ, Quí tộc, Trung lưu, hạ lưu. Sự đau khổ của con người và giai cấp xă hội tách biệt khiến ông quyết tâm t́m đạo.

Năm 30 tuổi ông từ bỏ cung điện để sống một đời tu khổ hạnh, để t́m chánh phúc. Năm 39 tuổi, Ông thành đạo dưới gốc cây Bồ đề. Ngài bắt đầu lên đường hành đạo và tự xưng danh hiệu Boudha (Bụt, Tự giác) c̣n gọi là Phật hay ThíchcaMâuNi. (Kim Long, Triết sử Đông phương)

Theo Phật giáo, có 4 đề về chân lí:

1- Đời là bể khổ, sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, không ưa mà hợp là khổ, muốn mà không được là khổ.

2- Nguồn gốc của cái khổ là ḷng tham muốn, trong luân hồi kiếp này nối kiếp khác.

3- Từ bỏ ḷng tham muốn sẽ hết luân hồi, đó là tới Niết bàn.

4- Đường giải thoát nằm trong bát chính đạo:

(1. Chính kiến (thấy rơ chân lư), 2. Tư duy (Suy nghĩ đúng chân lư, 3. Chính ngữ (nói đúng chân lư, 4. Chính nghiệp (Hành động đúng), 5. Chính mệnh (Sống đúng chân lư), 6. Tinh tiến (tiến đức tới đắc đạo), 7. Chính niệm (ư niệm chân chính không gian bạo), 8. Chính định (định trí vào chân lư cách vững vàng).

Ngoài phần lư thuyết trên, Phật tử c̣n phải giữ ngũ giới và lục độ. Ngũ giới (cấm sát sinh, đạo tặc, dâm ô, vọng ngữ - ăn gian nói dối-, rượu chè,) - Lục độ tức 6 đường tu gồm: Bố thí, tŕ giới (giữ 5 điều nói trên) nhẫn nhục, tinh tiến, Thiền định (suy niệm), bát nhă (học giáo lư cho thông)

Đối với Phật giáo th́ giai đoạn sau cùng là Niết bàn (Nirvâna). Tới Niết bàn là không c̣n đạo. Niết bàn do động từ Nirvâna có nghĩa là dập tắt đi để được mát mẻ thảnh thơi. Niết bàn có thể xuất hiện ngay ở cơi trần, đó là 1 t́nh trạng trong đó ư tưởng, cảm xúc không c̣n nữa và những dục vọng đă bị tiêu diệt.

Niết bàn chỉ là 1 trạng thái của linh hồn đă thoát cơi Vô minh mê lầm mà vào cơi giác, chứ đó không phải là cơi hạnh phúc nào tích cực như cơi Thiên đường. Chính Như Lai Phật Tổ đă nói với Râdha:"Tịch diệt ái dục là Niết bàn".

Nhận xét: Tự ḿnh giải thoát ḿnh khỏi "dục vọng". Hết dục là hết khổ. Hết dục là Niết bàn. Phật giáo không nói ǵ đến Ông Trời, hay nhờ Trời mà được ơn này ơn nọ…không nói tới thần thánh nào hết. Cũng không bảo thờ cúng ai hết. Phật giáo đúng ra là con đường tự giải thoát. Không nh́n nhận Ông Trời.

Nhưng trên thực tế, có nhiều cái khổ không phải tự ḿnh tham muốn, đúng ra là không muốn, không tham. Nó đến từ bên ngoài như tai nạn thiên nhiên, hoặc từ đâu đâu ập đến, người ta gọi là "tai bay vạ gió", biết giải thích sao, nếu không nhận có một Ông Trời điều hành vũ trụ?Ai sẽ thưởng phạt công minh?

3. Thờ Khổng

Khổng Tử không sáng lập, nhưng đă phát huy đạo này, sau này, người ta quen gọi là Đạo Khổng.

Khổng Tử sinh năm 551 trước Tây lịch. Ngài san định lại Ngũ kinh: Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân, Thu. Ngài dạy 8 điều đă có trong Nho giáo: Hiếu, Đễ, Trung, Thứ, Tu thân, Tề gia, Trị quốc, B́nh thiên hạ. Ngài c̣n dạy 6 nghề: Lễ để giao thiệp, Nhạc để giải trí, Xa để bắn, Ngự cỡi ngựa để tập thể thao, Thư để làm Văn nghệ, Số để biết toán pháp.

Điểm chính của Nho giáo là chú trọng đến việc giáo dục con người. Căn bản tư cách con người là Tam cương: Quân thần, Phụ tử, Phu phụ. Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín,đó là 5 đức mà con người thường phải có trong khi giao dịch với nhau.

Muốn thành con người hoàn hảo, phải đi theo thứ tự: Tu thân, Tề gia, Trị quốc, B́nh thiên hạ.

Đường lối xử thế người hành đạo cần theo đúng: Chính danh, Thuận ngôn, Hành thiện,

Phụ nữ phải: Tam ṭng, Tứ đức (tại gia ṭng phụ, xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử. Tứ đức là: Công, Dung, Ngôn, Hạnh)

Linh mục Đắc Lộ trong sách Phép giảng Tám ngày (ngày thứ bốn), hỏi: "ông Khổng Tử biết có Đức Chúa Trời làm nên mọi sự, là cội rễ mọi vật tạo thành, mọi sự lành, hay là ông chẳng biết?. Nếu ông được tôn kính là thánh hiền, là thầy, đă biết, th́ phải dạy học sinh cũng được biết mà thờ đấng ấy cho phải đạo. Nhưng ông Khổng đă chẳng dạy điều đó…"

Vậy người ta cũng không nhờ đạo Khổng mà nhận biết Trời!

4- Thờ Lăo

Lăo Tử dạy về vũ trụ rằng: "Đạo là nguyên lư vô h́nh vô sắc, đă sinh ra âm dương trời đất muôn vật muôn loài theo như luật tuần hoàn biến cải tự nhiên". . Bằng cớ vào đâu để quả quyết từ nguyên lư vô h́nh vô sắc? theo lư luận hay theo khoa học? Nói "Đạo" từ vô h́nh mà phát sinh, th́ có hơn ǵ nói "không biết"?

Như vậy Lăo tử không biết đến hay không nh́n nhận Ông Trời?

5- Thờ Ông Bà

Nói là đạo ông bà th́ không đúng hẳn, v́ không có Giáo hội, giáo chủ, giáo sĩ, đây chỉ là chuyện gia đ́nh, chuyện con cái tự thấy yêu mến, muốn đáp đền ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên đă sinh dưỡng ḿnh.

Khi qua đời, Ông bà được chôn trong vườn cạnh nhà, vong hồn ông bà được coi như đang sống nơi tủ thờ, do đó con cái ăn lo sống sao cho đứng đắn kẻo mang chữ bất hiếu. Từ việc tết nhất, cưới vợ gả chồng, từng bữa cơm, khi con cháu đau, ông bà đều được nhớ đến, được khấn vái. Tùy gia đ́nh giầu nghèo, b́nh thường hay cấp bách: thường là mâm cơm, ít là cau trầu hoa quả, giữa đêm khuy một chén nước lă với nén hương. Thời gian cúng là chờ cho tan một tuần hương, tức là bó nhang cháy lụn, lúc đó là kể như thời gian ông bà hưởng dùng của lễ dâng. Sau đó dọn xuống cho người nhà cùng nhau dùng.

Thói tục VN cữ tên ông bà, nếu đứa cháu lỡ đặt lầm tên ông bà th́ phải kêu tên khác với tên trong khai sinh.

Không có sách giáo lư dạy Đạo Ông Bà, nên không nói đến Ông Trời, nhưng thực tế con cháu lại luôn cầu Trời như ca dao tục ngữ được tŕnh bầy dưới đây.

2. Trời trong ca dao tục ngữ dân Việt

Qua phần trên, người ta thấy tại Việt Nam tuy có nhiều đạo …nhưng trên hết các đạo, người Việt Nam tin ở Ông Trời, người ta c̣n gọi là Ngọc Hoàng, Thượng Đế.

Dân Việt Nam là dân hữu thần, sống rất gần gũi với Trời. Từ khi chào đời tới khi qua đời, người ta nói rất nhiều tới Trời xanh cao cả trên đầu, qua trời xanh đó, người ta nhận rằng có Đấng Tối cao dựng nên trời đất, cai quản vũ trụ, nhất là loài người.

Người ta tin rằng, từng hành động của con người đều có Trời chứng giám, can thiệp. Tiếng "Trời" được phát xuất từ cửa miệng dân chúng hằng ngày qua đời sống cách dễ dàng, lại c̣n sàng lọc, kết tinh, lưu trữ trong tâm trí con người, trong ca dao tục ngữ như những nguyên tắc đạo hạnh, được lưu truyền qua nhiều thế hệ nơi người b́nh dân để rồi âm thầm điều khiển tư tưởng, ngôn ngữ, lối sống của người Việt.

Ta có thể t́m thấy những tư tưởng về Ông Trời như sau:

* Trời tạo dựng muôn vật:

- Khi nghe chim hót, khi nh́n núi cao, khi thấy sông sâu, khi nh́n cái gai nhọn trên rừng, nh́n trái tṛn trên cây, người ta nhận ra Đấng làm ra chúng.

"Con chim nó hót trên cành,
Nếu Trời không có, có ḿnh làm sao?
Con chim nó hót trên cao,
Nếu Trời không có, làm sao có ḿnh?

"Núi kia ai đắp nên cao,
sông kia biển nọ ai đào mà sâu?

"Gai trên rừng ai bứt mà nhọn,
trái trên cây ai vo mà tṛn?

* Trời trông coi, ǵn giữ:

- Tin rằng Trời sinh ra con người, sinh ra rồi, Trời không bỏ mặc, nhưng Trời nuôi sống:

"Trời sinh Trời dưỡng.

"Trời sinh voi, Trời sinh cỏ.

Ngày nay, t́nh trạng sinh sống nhân loại khác ngày xưa, không c̣n nhiều người quan niệm như câu tục ngữ trên, v́ người ta đă không c̣n tin tưởng mạnh mẽ ở Trời cao như cha ông họ.

- Không những Trời sinh ra thân xác con người, qua cha mẹ, mà c̣n sinh cả tính t́nh nữa:

"Cha mẹ sinh con, trời sinh tính

"Trời sinh ra ông tướng giặc,
cờ bạc xóc đĩa dông dài cả đêm,
canh trước tướng hăy c̣n tiền,
canh sau cố áo ngồi bên lọ hồ...
Bấy giờ quan tướng thua ra,
áo quần cố hết, trở ra về trần,
về giữa sân vạch quần bắt rận,
vợ trong nhà giận chẳng nấu cơm.
Bấy giờ tướng cúi ổ rơm,
chẳng dám hạch nước hạch cơm hạch trầu.
Vợ thương chồng ra mầu rét mướt,
đem tiền đi chuộc áo lấy về.
Từ nay tướng hẳn xin thề,
đă đi cờ bạc c̣n về chi đây.

- Trong nếp sống gia đ́nh, vợ chồng khuyến khích nhau:

"Xin chàng kinh sử học hành,
để em cầy cấy cửi canh kịp người,
mai sau xiêm áo thảnh thơi,
ơn Trời lộc nước đời đời hiển vinh

- Đôi hôn nhân nguyện Trời chứng giám cho mối t́nh chung thủy:

"Dưới mặt nước chói ḷa yếm đỏ,
trên bầu trời rộng có mây xanh,
từ ngày chia rẽ em anh,
nước trời c̣n đó ai đành phụ nhau.

Họ thề thốt trước mặt Trời:

"Trời cao đất rộng,
em vọng lời nguyền,
đất trời c̣n đó,
em giữ tuyền thủy chung.

- Khi con người phụ t́nh, người ta than thở:

"Trời ơi có thấu t́nh chăng,
con người nhân nghĩa lai căng mất rồi.

- Gắng tập đức:

"Ở hiền th́ lại gặp lành,
Những người nhân đức trời dành phước cho.

"Ở xởi lởi Trời cởi ra cho,
Ở so đo Trời co ro lại.

- Những biến cố của quốc gia, người ta cũng nói đến Trời xui khiến:

"Trời ơi sinh giặc làm chi,
cho chồng tôi phải ra đi chiến trường!

Người ta cầu xin cho cuộc chinh chiến thành công:

"Lạy Trời cho cả gió nồm,
cho thuyền chúa Nguyễn căng buồm tiến ra (phương Bắc đánh chúa Trịnh?)

- Sự giầu nghèo, bất công, chênh lệch trên đời cũng do tại Trời:

"Trời sao trời ở chẳng cân, \
người ăn không hết, kẻ lần không ra!

"Trời sao trời ở chẳng công,
người ba bốn vợ, người không vợ nào!

- Ngay cả việc cờ bạc họ cũng dám đùa bỡn đổ lỗi cho Trời:

"Trời sinh ra kiếp ăn chơi,
sao trời lại ghép vào nơi không tiền?

- C̣n muốn hỏi Trời về những xui xẻo do đam mê ngu dại ḿnh:

"Bác thang lên hỏi ông Trời,
những tiền cho gái có đ̣i được chăng?

- Nước Việt thuộc miền nhiệt đới, mưa nhiều, nắng nhiều. Dân Việt hầu hết làm nghề nông, trồng lúa, trồng hoa mầu, nên khi đồng khô cỏ cháy, người ta ngày đêm kêu cầu Trời cho mưa nắng phải th́, mùa màng tốt tươi:

"Lạy Trời mưa xuống,
lấy nước tôi uống,
lấy ruộng tôi cày,
lấy đầy bát cơm,
lấy rơm tôi thổi,
lấy chổi quét nhà,
con gà nhặt thóc...

Và khi đă có mưa, người ta hân hoan biết ơn, cần cù làm việc:

"Ơn Trời mưa nắng phải th́,
nơi th́ cầy cạn, nơi th́ bừa sâu.

"Nhờ trời mưa gió thuận ḥa,
nào cày nào cấy trẻ già đua nhau.

-Nhờ ơn Trời mà có cảnh sung túc ấm no:

"Làng ta phong cảnh hữu t́nh,
Dân cư giang khúc như h́nh con long,
nhờ Trời Hạ kế sang Đông,
làm nghề cầy cấy vun trồng tốt tươi,
vụ năm cho đến vụ mười,
trong làng kẻ gái người trai đua nghề,
trời ra: gắng, trời lặn: về,
ngày ngày tháng tháng nghiệp nghề truân chiên,
Dưới dân họ trên quan viên,
công b́nh giữ mực cầm quyền cho hay.

Họ biết lợi dụng cả trời nắng cũng như trời mưa:

"Trời nắng tốt dưa,
Trời mưa tốt lúa

Khi thời tiết thuận ḥa cũng như khi gặp cảnh băo lụt mất mùa thường xảy ra trên quê hương:

"Bây giờ gặp phải hội này,
khi trời hạn hán khi hay mưa dầm,
khi trời gió băo ầm ầm

- Người ta khiêm tốn ngửa mặt cầu xin:

"Nghiêng vai ngửa vái Ông Trời,
đương cơn hoạn nạn, độ người trần gian

* Người ta quan niệm rằng: Trời là Đấng Tối cao sinh ra con người, hằng quan pḥng và nắm quyền thưởng phạt, điều hành vũ trụ cách công minh uy quyền. Trời quyền phép, công bằng, nhưng rất nhân từ: Trời là nguồn ơn và cũng là nguồn khổ. Khi được may lành người ta nói: "Nhờ Trời ban". Khi gặp đau khổ, người ta kêu: "Trời ơi!". Trời sinh ra khác biệt, giầu nghèo…

"Trời làm một trận nắng chang,
ông hóa ra thằng thằng hóa ra ông.

- Tin rằng Trời luôn nâng đỡ kẻ thiện chí, thành tâm:

"Trời nào phụ kẻ có nhân",

Nên nhiều khi người ta phó thác cho Trời:

"Trời cho, hơn lo làm".

"Làm trai quyết chí tu thân,
công danh chớ vội nợ nần chớ lo,
khi nên Trời giúp công cho,
làm trai năm liệu bảy lo mới hào,
Trời sinh Trời chẳng phụ nào,
công danh gặp hội anh hào ra tay.

Trời công bằng, nhưng có quan niệm lẫn lộn với niềm tin bên Phật: có quả báo:

"Trời quả báo, ăn cháo gẫy răng,
ăn cơm gẫy đũa, xỉa răng gẫy chày

"Trời đánh thánh vật.

- Đừng kiêu ngạo:

"Ếch ngồi đáy giếng coi Trời bằng vung.

"Cứ trong nghĩa lư luân thường,
làm người phải giữ kỉ cương mới màu,
đừng cậy khỏe, chớ cậy giầu,

Trời kia c̣n ở trên đầu c̣n kinh.

- Đừng xảo trá:

"Tin nhau buôn bán cùng nhau,
Thiệt hơn hơn thiệt, trước sau như lời.
Hay ǵ lừa đảo kiếm lời,
Một nhà ăn uống, tội Trời riêng mang.

- Đừng hoang phí:

"Phí của Trời, mười đời chẳng có.

"Làm người nên biết tiện tằn,
đồ ăn thức mặc có ngần th́ thôi,
những người đói rách rạc rời,
bởi phụ của Trời làm chẳng có ăn.

Coi chừng:

"Của trời trời lại lấy đi,
giương hai mắt ếch làm chi được Trời.

- Người ta thường nói:

"Chê của nào, Trời trao của ấy.

"Đời ông cho tới đời cha,
đời nào khổ cực như ta đời này,
ngoài đồng cắm cọc giăng giây,
vườn nhà đóng thuế vợ gầy con khô,
xâu cao thuế nặng biết chừng mô hỡi Trời,

- Con người không thể hiểu số phận bi đát của ḿnh trước cái chết, có khi chưa đáng chết:

"Lá vàng đeo đẳng trên cây,
Lá xanh rụng xuống Trời hay chăng Trời.

Nhưng Trời rất nhân từ:

"Trời đánh c̣n tránh miếng ăn.

" Trời nào phụ kẻ có nhân.

"Trời nào có phụ ai đâu,
hay làm th́ giầu, có chí th́ nên.

-Người ta tin ở Trời quan pḥng sáng suốt:

"Trời xanh có mắt".

V́ thế, người ta quả quyết:

"Gẫm hay muôn sự tại Trời".

* Trời phải được tôn thờ:

- Nh́n nhận Trời cao cả:

"Đèn trời trời sáng 4 phương,
đèn tôi tôi sáng đầu giường nhà tôi.

Người ta xin:

"Đêm đêm ra thắp đèn trời,
cầu cho cha mẹ sống đời với con.

Thái độ phó mặc:

"Trời mưa th́ mặc trời mưa,
tôi không có nón trời chừa tôi ra

Tiến đến nhận biết chính xác hơn:

"Xưa kia chỉ biết kêu trời,
mà nay đă biết gọi Trời là Cha,
trần gian chẳng phải là nhà,
đi về vĩnh cửu gặp Cha trên trời.

Và người ta thờ Trời. Trời đây có người nghĩ là trời xanh, nhưng cũng có nghĩa là Đấng Linh thiêng, Đấng Tối cao:

"Dù ai nói ngược nói xuôi,
ta đây vẫn giữ đạo Trời khăng khăng

"Có thờ có thiêng,
có kiêng có lành


* Cũng nên biết thêm về quan niệm Ông Trời của người Việt thời xưa:

"Ngày xưa, trước tất cả mọi sự đă có ông Trời, Trời là một bậc quyền phép vô song ở trên cao, làm ra tất cả: Trái đất, núi non, sông biển, mưa nắng; sinh ra tất cả: Loài người, muôn vật, cỏ cây... Từ mặt trời mặt trăng, các ngôi sao trên trời cho đến vạn vật ở mặt đất, tất cả đều do Trời tạo nên.

"Trời có con mắt thấy tất cả, biết hết mọi sự xảy ra ở thế gian. Trời là cha đẻ muôn loài, xét đến muôn việc, thưởng phạt không bỏ ai. Do đó mà con người tin có đạo Trời, nhờ Trời, cho là Trời sinh, Trời dưỡng, và đến khi chết th́ về chầu Trời.

"Trời cũng có vợ gọi là bà Trời, và mỗi khi hai ông bà căi mắng nhau là lúc trời vừa mưa vừa nắng. Mỗi lúc Trời giận loài người lầm lỗi ở thế gian th́ giáng xuống thiên tai, băo táp, lụt lội, hạn hán...

"Giang sơn của Trời là từ mặt đất lên đến trên cao, có chín tầng trời, và chỗ giáp với đất ấy là chân trời. Trời vô h́nh không nói, nhưng người ta tin là ở đâu cũng có mặt của Trời, không một ai tránh khỏi lưới Trời, mọi việc đều do Trời định.

"Ông Trời của Việt Nam thời cổ cũng gọi là Ngọc Hoàng, từ khi văn Hoá Trung Hoa tràn sang với đạo Lăo".

(Hoàng Trọng Miên, Việt Nam Văn Học Toàn Thư, I, trang 61).

 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 04/17/15